Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
fixes, replaced: [[File: → [[Tập tin: (6), Cite → chú thích (338),   → (24)
=== 1966-1985: Thời thơ ấu và khởi nghiệp ===
[[Tập tin:Jacksonstvshow.jpg|nhỏ|phải|180px|Jackson (hàng cuối cùng) năm 1977 trên chương trình ''The Jacksons'' của đài [[CBS]].]]
Janet Jackson sinh ra tại [[Gary, Indiana]], là con út trong gia đình 10 người con của ông [[Joe Jackson (nhà quản lý)|Joseph Walter "Joe" Jackson]] và bà [[Katherine Jackson|Katherine Esther Scruse]] (nhũ danh Scurse).<ref name="JJ by Cornwell">{{harvnb|Cornwell|2002|p=2, 10, 24}}</ref> Gia đình nhà Jackson thuộc tầng lớp hạ lưu và tôn sùng giáo phái [[Nhân Chứng Giê-hô-va|Nhân chứng Jehovah]], nhưng sau đó Jackson không còn tham gia tổ chức tôn giáo này nữa.<ref>{{citation|last=Norment|first=Lynn|title=Janet: On her sexuality, spirituality, failed marriages, and lessons learned|newspaper=[[Jet (magazine)|Jet]]|volume=57|issue=1|page=104|date=November 2001|issn=0012-9011}}</ref> Lúc còn nhỏ, những người anh trai của Janet biểu diễn trong nhóm [[The Jackson 5]] tại khu vực Chicago-Gary. Tháng 3 năm 1969, nhóm ký hợp đồng với hãng đĩa [[Motown]] và có được những thành công đầu tiên. Gia đình họ sau đó chuyển tới khu [[Encino, Los Angeles|Encino]], Los Angeles.<ref name="JJ by Cornwell" /> Jackson ước mơ trở thành một vận động viên đua ngựa hoặc một luật sư ngành giải trí, dự định tự trang trải cho bản thân bằng nghiệp diễn xuất. Dù vậy, sau khi bước chân vào phòng thu, bà lại muốn theo đuổi sự nghiệp trong ngành giải trí.<ref name="JJ by Cornwell" /> Năm lên 7, Jackson trình diễn tại [[Dải Las Vegas]], Sòng bạc MGM.<ref name="JJ by Cornwell" /> Cha của Jackson, Joseph Jackson, ra lệnh cho bà phải gọi ông bằng tên thật thay vì "cha".<ref name="JJ by Cornwell" /> Bà bắt đầu diễn xuất trong chương trình tạp kỹ ''[[The Jacksons (chương trình truyền hình)|The Jacksons]]'' năm 1976.<ref name="JJ by Cornwell" /> Năm 1977, bà được chọn để đóng vai Penny Gordon Woods trong loạt phim hài tình huống ''[[Good Times]]''.<ref name="JJ by Cornwell" /> Bà sau đó xuất hiện trong ''[[A New Kid of Family]]'' và nhận vai Charlene Duprey trong 3 mùa ''[[Diff'rent Strokes]]''.<ref name="JJ by Cornwell" /> Jackson cũng thủ vai Cleo Hewitt trong mùa thứ tư của ''[[Fame (chương trình truyền hình 1982)|Fame]]'', mặc dù sau này bày tỏ sự thờ ơ trước chương trình này.<ref>{{Citechú thích web | last = Fox | first = Norman | title = ''Indian Summer'' | publisher=Tv.com | url = http://www.tv.com/fame/indian-summer/episode/77620/summary.html | accessdate = September 3, 2008}}</ref><ref name="Saunders">{{Citation |last= Saunders |first= Michael | title=The 3 Divas Janet Jackson turns her focus inward | newspaper=[[The Boston Globe]] | page=D13 | date=October 3, 1996}}</ref>
 
Năm 16 tuổi, Joseph Jackson dàn xếp một bản hợp đồng giữa bà và [[A&M Records]].<ref name="JJ by Cornwell" /> Album đầu tay ''[[Janet Jackson (album)|Janet Jackson]]'' ra mắt năm 1982, do [[Angela Winbush]], [[René Moore]], Bobby Watson của nhóm [[Rufus (ban nhạc)|Rufus]] và Leon F. Sylvers III sản xuất, với sự giám sát của Joseph Jackson.<ref name="JJ by Cornwell" /> Album không được quảng bá rộng rãi, đạt vị trí thứ 63 tại [[Billboard 200|''Billboard'' 200]] và hạng 6 trên bảng xếp hạng [[R&B Albums Chart]].<ref name="Billboard Album peaks">{{Citechú thích web | title = Janet Jackson |work=[[AllMusic]] | url = {{Allmusic|class=artist|id=p4572|pure_url=yes}}|accessdate=July 21, 2010}}</ref><ref name="US-R&B-albums">{{citechú thích web | url={{BillboardURLbyName|artist=Janet Jackson|chart=R&B/Hip-Hop Albums}} | title=Janet Jackson – Chart History: R&B/Hip-Hop Albums | work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]| accessdate=October 29, 2012}}</ref> Album phòng thu thứ hai của Jackson, ''[[Dream Street (album của Janet Jackson)|Dream Street]]'' xuất bản hai năm sau đó.<ref name="JJ by Cornwell" /> ''Dream Street'' chỉ vươn tới vị trí thứ 147 trên ''Billboard'' 200 và hạng 19 trên R&B Albums Chart.<ref name="Billboard Album peaks" /><ref name="US-R&B-albums"/> Đĩa đơn đầu tiên, "[[Don't Stand Another Chance]]" leo lên hạng 9 ''Billboard''{{'}}s R&B Singles Chart.<ref name="US-R&B-singles">{{citechú thích web | url={{BillboardURLbyName|artist=Janet Jackson|chart=R&B/Hip-Hop Songs}} | title=Janet Jackson – Chart History: R&B/Hip-Hop Songs | work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]| accessdate=April 8, 2012}}</ref> Cả hai album này chủ yếu mang dòng nhạc [[bubblegum pop]].<ref>{{citechú thích web |url={{Allmusic|class=album|id=r10041|pure_url=yes}} |title=allmusic (((Dream Street > Overview))) |work=[[AllMusic]] |accessdate=July 21, 2010}}</ref> Jackson bí mật kết hôn với ca sĩ [[James DeBarge]] năm 1984 và ly dị sau đó không lâu, với lễ cưới bị hủy bỏ vào năm sau đó.<ref name="Smith 1996 324">{{harvnb|Smith|1996|p=324}}</ref>
 
=== 1986–88: ''Control'' ===
Sau khi phát hành album thứ hai, Janet quyết định chấm dứt hợp tác với gia đình, phát biểu rằng "Tôi chỉ muốn ra khỏi nhà, thoát khỏi sự kiểm soát của cha, đó là một trong những điều khó khăn nhất tôi phải làm."<ref name="Saunders" /> Để chuẩn bị album phòng thu thứ ba, Jackson gặp gỡ hai nhà sản xuất [[Jimmy Jam and Terry Lewis]]. Họ mong muốn kết quả là sự hòa quyện với dòng nhạc pop mà vẫn giữ nền tảng chính ở thị trường nhạc [[urban contemporary|urban]].<ref name="She's a rebel">{{harvnb|Gaar|2002|p=323–325}}</ref> Chỉ trong sáu tuần, họ hoàn thành ''[[Control (album)|Control]]'' và phát hành vào tháng 2 năm 1986.<ref name="cohen">{{Citechú thích news|last=Cohen |first=Jonathan |title=Billboard Feature: Janet Jackson: Still In Control |url=http://www.allbusiness.com/retail-trade/miscellaneous-retail-retail-stores-not/4614593-1.html |work=Billboard |date=December 15, 1999 |accessdate=September 6, 2010 |deadurl=yes |archiveurl=https://web.archive.org/web/20110110093834/http://www.allbusiness.com/retail-trade/miscellaneous-retail-retail-stores-not/4614593-1.html |archivedate=January 10, 2011 }}</ref> Album này đạt hạng nhất ''Billboard'' 200, 5 lần được [[Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ]] (RIAA) chứng nhận Bạch kim và tiêu thụ hơn 14 triệu bản trên toàn thế giới.<ref name="Billboard Album peaks" /><ref name="cert">{{citechú thích certification|region=United States|artist=Janet Jackson|type=album|accessdate=August 21, 2009}}</ref>
 
''Control'' tuyên bố "sự tinh vi và chững chạc" ở Jackson, được xem là "cú xoay chuyển so với làn sóng nhạc ballad tình cảm" đang chiếm ưu thế trên các trạm phát thanh lúc bấy giờ. Bà được so sánh với vị thế của [[Donna Summer]], như những người "không muốn chấp nhận tình trạng mới mẻ mà tự mình tạo nên sự khác biệt."<ref>{{citation|last=Johnson|first=Connie|title=Jackson Jive|newspaper=[[Los Angeles Times]]|page=78|date=February 23, 1986|issn=0458-3035}}</ref><ref>{{Citation | title = Singer Janet Jackson | volume= 108 | issue = 3 | page = 61 | newspaper=[[Newsweek]]| date = July 21, 1986| issn = 0028-9604}}</ref><ref>{{Citation |url=http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/321531/review/5944692/control | title = Janet Jackson: Control: Music Reviews: Rolling Stone | last=Hoerburger | first=Rob |work=Rolling Stone | date = April 24, 1986 | accessdate = September 6, 2010 | archiveurl = https://web.archive.org/web/20080430054634/http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/321531/review/5944692/control | archivedate = April 30, 2008}}</ref> Năm đĩa đơn trích từ album, "[[What Have You Done for Me Lately]]", "[[Nasty (bài hát)|Nasty]]", "[[When I Think of You]]", "[[Control (bài hát)|Control]]" và "[[Let's Wait Awhile]]" đều lọt vào top 5 bảng xếp hạng [[Billboard Hot 100|''Billboard'' Hot 100]]. Đĩa đơn thứ sáu mang tên "[[The Pleasure Principle (bài hát)|The Pleasure Principle]]" cũng lọt vào top 20. Trong đó, "When I Think of You" là đĩa đơn đầu tiên của Janet quán quân bảng xếp hạng này.<ref name="US-singles">{{citechú thích web | url={{BillboardURLbyName|artist=Janet Jackson|chart=Hot 100}} | title=Janet Jackson – Chart History: Hot 100 | work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]| accessdate=October 29, 2012}}</ref> ''Control'' mang về cho Janet 4 [[giải thưởng âm nhạc Billboard|giải thưởng ''Billboard'']], bao gồm hạng mục "Nghệ sĩ đĩa đơn pop hàng đầu" và 3 đề cử [[giải Grammy]], trong đó có "[[Giải Grammy cho Album của năm|Album của năm]]".<ref name="books.google.com">{{citechú thích book|url=https://books.google.com/books?id=tiQEAAAAMBAJ&printsec=frontcover&source=gbs_summary_r&cad=0_0#PPA10,M1 |title=In Praise of Numbers|work=[[Billboard]]|volume=98|number=52|publisher=|date=December 27, 1986 |accessdate=April 18, 2014}}</ref> Album còn thắng 4 [[giải thưởng Âm nhạc Mỹ]] trên 12 đề cử, một kỷ lục chưa ai phá vỡ.<ref>{{citation|last=Smith|first=Kathleen|title=American Music Awards tonight to honor Presley posthumously|newspaper=[[St. Petersburg Times]]|page=7.D|date=January 26, 1987}}</ref><ref>{{citation|title=Travis tops music award winners|newspaper=[[Houston Chronicle]]|date=January 26, 1988|page=1|issn=1074-7109}}</ref><ref>{{Citation | last1 = Hamlin | first1 = Jesse | title = Graced With a Grammy / Paul Simon wins award for top album | page = 48 | newspaper=[[San Francisco Chronicle]] | date = February 25, 1987 }}</ref> Đến lúc này, Jackson đã thành công trong việc "rũ bỏ cái bóng của một đứa trẻ nhà Jackson" và trở thành "một nghệ sĩ đúng nghĩa".<ref>{{Citation|last=Hilburn|first=Robert|title=British Critics Turn All Ears To America|page=65|newspaper=[[Los Angeles Times]]|date=January 11, 1987|issn=0458-3035}}</ref>
 
Ca từ của album đề cập đến sự trao quyền, lấy cảm hứng từ một sự cố [[quấy rối tình dục]] mà Jackson trải qua. Bà nhớ lại rằng "sự nguy hiểm tìm đến khi vài gã trai lén theo tôi trên đường&nbsp; ... Thay vì chạy đi tìm Jimmy hay Terry, tôi đã tự bảo vệ mình. Tôi hạ gục họ. Đó là cách mà những bài hát như 'Nasty' và 'What Have You Done for Me Lately' ra đời, lấy từ quyền tự vệ của bản thân."<ref name="Sexual Healing">{{Citation | last1 = Ritz | first1 = David | title = Sexual healing | issue = 665 | page = 38 | newspaper=Rolling Stone | date = September 16, 1993 | issn = 0035-791X}}</ref> Sự kết hợp sáng tạo giữa [[dance-pop]] và [[nhạc công nghiệp]] đã gây ảnh hưởng tới sự hình thành thể loại nhạc [[new jack swing]], thông qua sự hòa trộn của các yếu tố [[hip hop|hip-hop]] và [[R&B]].<ref name="The New Blue Music">{{harvnb|Ripani|2002|p=130–153}}</ref> Video âm nhạc cho các đĩa đơn này trở nên thịnh hành trên hệ thống [[MTV]], giúp [[Paula Abdul]] nhận được một hợp đồng thu âm nhờ sự cộng tác về vũ đạo với Jackson. ''[[Billboard (magazine)|Billboard]]'' khẳng định "âm nhạc dễ tiếp cận và các video dàn dựng công phu [của Jackson] là một cơ hội hấp dẫn đối với MTV, giúp kênh truyền hình này phát triển từ chương trình rock sang dòng nhạc đa dạng rộng rãi hơn."<ref name="cohen" />
 
=== 1989–92: ''Janet Jackson's Rhythm Nation 1814'' ===
Jackson phát hành album thứ tư, ''[[Janet Jackson's Rhythm Nation 1814|Rhythm Nation 1814]]'', vào tháng 9 năm 1989. Mặc dù hãng thu âm mong muốn một album tương tự như ''Control'', Jackson lại quyết định đưa nội dung về ý thức xã hội cùng nhiều thể loại âm nhạc khác nhau trong tác phẩm này.<ref>{{Citechú thích web| last1 = Cocks | first1 = Jay | title = Dancing on the charts | volume = 135 | issue = 22 | page = 87 | newspaper=[[TIme (tạp chí)|Time]] | date = May 28, 1990 | issn = 0040-781X}}</ref> Bà khẳng định, "Tôi biết một album hay ca khúc đơn thuần không thể làm thay đổi thế giới. Tôi chỉ muốn âm nhạc và vũ đạo của mình được khán giả quan tâm, cố giữ chúng đủ lâu để họ có cơ hội lắng nghe đến lời nhạc."<ref>{{Citechú thích web |last1 =Graham | first1 = Jefferson | title = Janet in command; Jackson rules her own `Nation'; Highlights of a rhythmic life | page = 01.D | newspaper=[[USA Today]] | date = December 15, 1989 }}</ref> Chủ đề chính của album là sự thống nhất và đoàn kết, được triển khai sau khi giới truyền thông phơi bày hàng loạt tội ác và nỗi bi kịch trong xã hội lúc bấy giờ.<ref>{{Citechú thích web| last1 = Morse | first1 = Steve | title = Changing Her Tune Janet Jackson's New Conscience | page = 30 | newspaper=The Boston Globe | date = November 20, 1989 }}</ref>
 
Đạt vị trí quán quân trên ''Billboard'' 200, album này được chứng nhận 6 lần đĩa Bạch kim bởi RIAA và tiêu thụ hơn 20 triệu bản trên toàn thế giới.<ref name="Billboard Album peaks" /><ref name="cert" /><ref>{{Citechú thích web|author=Anderson, Kyle|work=[[Entertainment Weekly]]|url=http://www.ew.com/article/2014/09/19/janet-jackson-rhythm-nation-1814-25th-anniversary|title=Janet Jackson's 'Rhythm Nation 1814': Still dancing and dreaming 25 years later|accessdate=2016-09-26|date=19 tháng 9 năm 2014}}</ref> ''[[Rolling Stone (tạp chí)|Rolling Stone]]'' chú ý sự trưởng thành về nghệ thuật của Jackson xoay chuyển từ "sự tự do bản thân sang những vấn đề rộng rãi hơn—sự bất công, tình trạng mù chữ, tội phạm, ma tuý—mà không bỏ sót chi tiết nào."<ref>{{Citechú thích web| last = Aletti | first = Vince | title = Rhythm Nation 1814: Janet Jackson: Review: Rolling Stone |work=Rolling Stone | date = October 19, 1998 | url = http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/182747/review/5943659/rhythm_nation_1814 | accessdate = September 6, 2010 | archiveurl = https://web.archive.org/web/20080430054629/http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/182747/review/5943659/rhythm_nation_1814 | archivedate = April 30, 2008}}</ref> Album được xem là "bước ngoặt trong sự nghiệp của bà", bao gồm một "tập hợp đa dạng các bài hát cùng tài năng thiên bẩm của Jackson", giúp mở rộng "phạm vi của Jackson theo mọi hướng có thể", khiến hình tượng của bà "vô cùng nữ tính, mà cũng nam tính một cách tàn bạo, mang dáng vẻ chững chạc, mà cũng rất ngây thơ."<ref name="Henderson">{{citechú thích web|last=Henderson|first=Eric|title=Janet Jackson: Janet Jackson's Rhythm Nation 1814: Music Review|url=http://www.slantmagazine.com/music/music_review.asp?ID=1839|work=[[Slant Magazine]]|date=September 7, 2009|accessdate=November 11, 2009}}</ref> ''Rhythm Nation 1814'' lập kỷ lục khi có tới 7 đĩa đơn quán quân tại Hoa Kỳ trong ba năm dương lịch liên tiếp, bao gồm "[[Miss You Much]]", "[[Rhythm Nation]]", "[[Escapade (bài hát)|Escapade]]", "[[Alright (bài hát của Janet Jackson)|Alright]]", "[[Come Back to Me (bài hát của Janet Jackson)|Come Back to Me]]", "[[Black Cat (bài hát)|Black Cat]]" và "[[Love Will Never Do (Without You)]]".<ref name="US-singles"/><ref>{{citechú thích web|title='Design of a Decade' Features Ten Years of Hits|url=https://books.google.com/books?id=fzkDAAAAMBAJ&pg=PA57|work=[[Jet (magazine)|Jet]]|accessdate=June 9, 2011|date=November 6, 1995}}</ref> Nổi tiếng nhờ vũ đạo và bối cảnh, video âm nhạc "Rhythm Nation" được xem là một trong những video phổ biến nhất lịch sử, với hình tượng quân lính của Jackson góp phần biến bà trở thành một biểu tượng thời trang.<ref>{{Citechú thích web|title=The Biggest Brother-Sister Stars in Show Business History|newspaper=[[Ebony (magazine)|Ebony]]|volume=46|issue=10|page=40|issn=0012-9011}}</ref> Video "Love Will Never Do (Without You)" cho thấy Jackson lần đầu tiên chuyển sang hình tượng gợi cảm và phong cách hở bụng thường thấy của bà sau này.<ref name="jeljones"/> ''Rhythm Nation 1814'' trở thành album bán chạy nhất năm 1990, chiến thắng 15 giải thưởng ''Billboard''.<ref>{{citechú thích web|url=http://www.tvguide.com/News/Billboard-Music-Awards-Winners-1047815.aspx |title=Adele, LMFAO Top Billboard Music Awards – Today's News: Our Take |work=TVGuide.com |date=May 21, 2012 |accessdate=December 13, 2012}}</ref><ref>{{Citechú thích web |last=Macdonald |first=Patrick |title = Ringing In 1991: Northwest Top 10 Video Count-Down | page = 8 | newspaper=[[The Seattle Times]] | date = December 28, 1990 }}</ref><ref>{{Citechú thích web | last1 = Anderson | first1 = Susan | title = Chronicle | page = 7 | newspaper=[[The New York Times]] | date = November 28, 1990 | isbn = 0-8118-6207-0 | issn = 0362-4331}}</ref> Video "Rhythm Nation" thắng [[giải Grammy]] ở hạng mục "Video âm nhạc dài xuất sắc nhất" năm 1989.<ref name="jeljones">{{harvnb|Halstead|Cadman|2003|p=84}}</ref>
 
[[Rhythm Nation World Tour 1990]] của Jackson trở thành chuyến lưu diễn mở màn của một nghệ sĩ thành công nhất và lập kỷ lục bán cháy vé nhanh nhất tại [[Tokyo Dome]], Nhật Bản.<ref name="jeljones"/><ref>{{harvnb|Jaynes|2005|p=565}}</ref> Bà thành lập "Học bổng Rhythm Nation", gây quỹ từ chuyến lưu diễn tới nhiều chương trình giáo dục.<ref>{{Citechú thích web|title = Janet Jackson Ends 'Rhythm Nation' Tour, Donates over $1/2 Million to Fund Education Projects | page = 56 | newspaper=[[Jet (magazine)|Jet]] |volume=79|issue=13| date = January 14, 1991|issn=0021-5996}}</ref><ref>{{Citechú thích web |title = Janet Combines Talent and Appeal for UNCF | page = B–3 | newspaper=[[Los Angeles Sentinel]] | date = March 3, 1994|issn=0890-4340}}</ref> Khi Jackson bắt đầu lưu diễn, bà nhận ra nhiều ảnh hưởng văn hóa bắt nguồn từ âm nhạc của mình. Joel Selvin của ''[[San Francisco Chronicle]]'' viết rằng "ca sĩ 23 tuổi này đã phát hành nhiều đĩa nhạc thành công trong 4 năm, trở nên gắn bó trên MTV và là hình mẫu chính cho nhiều thiếu nữ khắp lãnh thổ" và William Allen, phó Chủ tịch của [[United Negro College Fund]] lúc đó, nhắc đến Jackson trên ''[[Los Angeles Times]]'' như là một "hình mẫu cho tất cả thanh niên và thông điệp mà cô truyền đạt tới thiếu niên khắp đất nước này thông qua lời ca của 'Rhythm Nation 1814' đang có những dấu hiệu tích cực."<ref>{{Citechú thích web |last=Selvin |first=Joel |title = Just Wholesome Glitz From Janet | page = F1 | newspaper = [[San Francisco Chronicle]] | date = 1990-04-30 }}</ref><ref>{{Citechú thích web |title = Names In The News Janet Jackson Benefit Concert | page = 9 | newspaper = [[Los Angeles Times]] | date = 1990-02-05 |issn=0458-3035}}</ref> Bà còn nhận một ngôi sao trên [[Đại lộ Danh vọng Hollywood]] cho những nỗ lực từ thiện và ảnh hưởng tới ngành công nghiệp thu âm.<ref>{{Citechú thích web|title=Janet Jackson Gets Star On Hollywood Walk Of Fame|newspaper=Jet|date=1990-05-07|volume=78|issue=4|pages=60–61|issn=0021-5996}}</ref> Thành công vượt bậc của Jackson giúp bà đứng ngang hàng với [[Michael Jackson]], [[Madonna (entertainer)|Madonna]] và [[Tina Turner]].<ref name="Routledge">{{harvnb|Kramarae|Spender|2000|p=1408}}</ref> Tạp chí ''[[Ebony (tạp chí)|Ebony]]'' ghi nhận: "Chưa một cá nhân hay tập thể nào gây ảnh hưởng tới thế giới giải trí như Michael và Janet Jackson," cho rằng dù có nhiều thế hệ tiếp sau, chỉ có vài người có thể vượt qua "phong cách và sự khéo léo đáng kinh ngạc" của Jackson.<ref name="multimillion" /> Sau khi hoàn tất hợp đồng với hãng A&M Records năm 1991, bà ký kết một hợp đồng trị giá từ 32 tới 50 triệu đô-la Mỹ với [[Virgin Records]], giúp bà trở thành nghệ sĩ thu âm được trả thù lao cao nhất thời điểm trên,<ref name="multimillion">{{Citechú thích web|title=The Biggest Brother-Sister Stars in Show Business History|newspaper=[[Ebony (magazine)|Ebony]]|volume=46|issue=10|date=1991|page=40|issn=0012-9011}}</ref><ref name="virgin contract">{{Citechú thích web | last1 = Goldberg | first1 = M. | title = The Jacksons score big | page = 32 | newspaper=Rolling Stone | date = May 2, 1991 | issn = 0035-791X}}</ref> với danh tiếng của một "Nữ hoàng nhạc Pop."<ref name="Queen" /> Năm 1992, Jackson góp giọng trong ca khúc "[[The Best Things in Life Are Free]]" của [[Luther Vandross]], lọt vào top 10 ''Billboard'' và nhiều quốc gia trên thế giới.<ref name="influence"/>
 
=== 1993–96: ''janet.'', ''Poetic Justice'' và ''Design of a Decade'' ===
Album phòng thu thứ năm của Jackson, ''[[Janet (album)|janet.]]'' (1993) mở màn ở vị trí quán quân trên ''Billboard''&nbsp; 200, giúp bà là nữ nghệ sĩ đầu tiên lập thành tích này trong kỷ nguyên [[Nielsen SoundScan]].<ref name="Billboard Album peaks" /><ref>{{citechú thích news|url=https://books.google.com/?id=xwsEAAAAMBAJ&pg=PA3&vq=janet+jackson |title=Between The Bullets |first=Geoff |last=Mayfield |work=[[Billboard (magazine)|Billboard]] |accessdate=July 28, 2010 |date=August 5, 1995}}</ref> Album có 6 lần chứng nhận Bạch kim bởi RIAA và tiêu thụ hơn 20 triệu bản trên toàn cầu.<ref name="cert" /><ref>{{citechú thích news |url=http://www.abc.net.au/news/stories/2008/01/22/2143685.htm |title=Janet Jackson set for return to form |work=[[ABC|ABC News]] |date=January 22, 2008|accessdate=May 5, 2009}}</ref> Đĩa đơn đầu tiên, "[[That's the Way Love Goes]]" thắng giải Grammy cho "Bài hát R&B xuất sắc nhất" và đứng đầu Hot 100 trong 8 tuần liên tiếp.<ref name="Jacksons Number Ones">{{harvnb|Halstead|Cadman|2003}}</ref>{{rp|118}} "[[Again (bài hát của Janet Jackson)|Again]]" tiếp tục dẫn đầu trong 3 tuần, trong khi "[[If (bài hát của Janet Jackson)|If]]" và "[[Any Time, Any Place]]" leo lên top 4. "[[Because of Love]]" và "[[You Want This]]" xuất hiện trong top 10.<ref name="US-singles"/>
 
Album này thể nghiệm nhiều thể loại đa dạng, bao gồm [[R&B đương đại]], [[deep house]], [[jazz|swing jazz]], [[hip hop]], [[rock]] và [[pop]], "được mang tới bằng kỹ năng và đam mê tột bậc", theo lời miêu tả của ''Billboard''.<ref name="jeljones"/><ref>{{citechú thích news|author1=Paul Verna |author2=Chris Morris |author3=Edward Morris |title=Pop/Spotlight|newspaper=Billboard|date=May 23, 1993|page=91}}</ref> Jackson đảm nhận vai trò sáng tác và sản xuất nhiều hơn những album trước, giải thích rằng bà cảm thấy cần thiết phải "viết tất cả lời nhạc và phân nửa giai điệu", cũng như phát biểu thẳng thắn về tính gợi dục trong album.<ref name="Sexual Healing" /> ''[[Rolling Stone (tạp chí)|Rolling Stone]]'' viết, "là một công chúa trong gia đình da màu hoàng gia của nước Mỹ, mọi thứ Janet Jackson thực hiện đều quan trọng. Lúc khẳng định chịu trách nhiệm về cuộc sống, như trong ''Control'' (1986), hay chỉ huy một đoàn lính nhảy múa để chống trả nhiều vấn đề của xã hội (''Rhythm Nation 1814'', 1989), cô ấy vẫn gây ảnh hưởng. Và khi thông báo về sự trưởng thành tình dục, như trong album mới ''janet.'', đó chính xác là một khoảnh khắc văn hóa."<ref>{{citechú thích web|edition=659|url=http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/182126/review/6067467/janet |title=Janet Jackson: Janet: Music Reviews |work=Rolling Stone |accessdate=September 9, 2010 |archiveurl=https://web.archive.org/web/20080502093343/http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/182126/review/6067467/janet |archivedate=May 2, 2008}}</ref>
 
[[FileTập tin:Janet Tour 01.jpg|thumb|left|230px|Jackson trình diễn trong [[Janet World Tour]], kéo dài từ năm 1993–95]]
Tháng 7 năm 1993, Jackson nhận vai diễn điện ảnh đầu tiên trong ''[[Poetic Justice (phim)|Poetic Justice]]''. Dù giới phê bình chỉ trích bộ phim, diễn xuất của bà được mô tả là "lý thú" và "kỳ quặc một cách không tưởng"."<ref>{{citechú thích web | title = Poetic Justice |work=Rolling Stone | date = December 8, 2000 | archiveurl=https://web.archive.org/web/20100409203949/http://www.rollingstone.com/reviews/movie/5947325/review/5947326/poetic_justice|archivedate=9 tháng 4 năm 2010|url = http://www.rollingstone.com/reviews/movie/5947325/review/5947326/poetic_justice | accessdate = June 13, 2008}}</ref><ref>{{citechú thích web| last= Howe| first= Desson | title = Poetic Justice |work=The Washington Post | date = July 23, 1993 | url = http://www.washingtonpost.com/wp-srv/style/longterm/movies/videos/poeticjusticerhowe_a0afdf.htm| accessdate = June 13, 2008}}</ref> Bản ballad "Again" sáng tác riêng cho bộ phim nhận đề cử [[Giải Quả cầu vàng cho ca khúc trong phim hay nhất|giải Quả cầu vàng]] và [[Giải Oscar cho ca khúc trong phim hay nhất|giải Oscar]] cho "Ca khúc trong phim hay nhất."<ref>{{citechú thích web | last= Biddle | first= Frederic M. | title= Fashion and fame team on Oscar night | newspaper=The Boston Globe | page=61 | date= March 22, 1994}}</ref><ref name="jeljones1">{{harvnb|Halstead|Cadman|2003|p=85}}</ref> Tháng 9 năm 1993, Jackson xuất hiện bán khỏa thân trên bìa tạp chí ''Rolling Stone'', với phần ngực được bàn tay của người chồng lúc bấy giờ, René Elizondo, Jr. che lại. Bức ảnh là phiên bản gốc từ ảnh đồ họa của ''janet.'', do [[Patrick Demarchelier]] chụp lại.<ref>{{citechú thích web| title = Janet Jackson |work=Rolling Stone | date = September 30, 2004 | url = http://www.rollingstone.com/news/story/6478137/janet_jackson | archiveurl=https://web.archive.org/web/20071223223513/http://www.rollingstone.com/news/story/6478137/janet_jackson|archivedate=23 tháng 12 năm 2007|accessdate = July 23, 2008}}</ref> ''[[The Vancouver Sun]]'' ghi nhận đây là "một trong những ảnh bìa tạp chí bị đả kích và dễ nhận biết nhất."<ref>{{Citechú thích web | last1 = Murray | first1 = Sonia | title = Janet: The Queen of Pop: Michael could lose his crown to his hot little sister | page = C1 | newspaper=[[The Vancouver Sun]]| date = February 3, 1994| issn = 0832-1299}}</ref> Để quảng bá cho album, The [[Janet World Tour]] được công bố, nhận nhiều lời chỉ trích về giọng hát nhưng được khen ngợi về khả năng trình diễn của bà.<ref>{{citechú thích news|author=Jon Pareles|title=Wrapped in Song and Spectacle, Janet Jackson Plays the Garden|newspaper=[[The New York Times]]|date=1993-12-20|page=C.11|issn=0362-4331}}</ref><ref>{{citechú thích news| last= Graham | first=Renee | title=Janet Jackson: looks good, sounds bad | newspaper=[[Boston Globe]] | pages=34 | date=1994-06-20}}</ref> ''San Francisco Chronicle'' gọi chương trình xóa bỏ đi ranh giới giữa "đêm nhạc pop trên khán đài lớn và sân khấu trình diễn hoành tráng."<ref name="Michael Snyder">{{citechú thích news| last=Snyder | first=Michael | title=Janet Jackson Makes All The Right Moves / Singer brings extravaganza to San Jose | newspaper=San Francisco Chronicle | page=C1 | date=February 18, 1994}}</ref>
 
Trong thời gian này, anh trai Michael của bà [[Vụ kiện lạm dụng tình dục trẻ em của Michael Jackson năm 1993|bị cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em]]; ông phủ nhận bất kỳ hành vi sai trái nào.<ref>{{citechú thích news|last1=Corliss |first1=Richard |last2=Sachs |first2=Andrea |title=Society: Who's Bad? An age of innocence may be at an end as Michael Jackson, the Peter Pan of pop, confronts accusations that he sexually abused one of his young friends | newspaper=[[Time (tạp chí)|Time]]| page=54 | date=September 6, 1993}}</ref> Bà ủng hộ tinh thần cho Michael, bênh vực anh trai mình, bác bỏ những cáo buộc lạm dụng liên quan đến chị gái [[La Toya Jackson|La Toya]] và cha mẹ họ.<ref name="Robert Hilburn">{{citechú thích news| last= Hilburn | first= Robert | title= I Think I've Finally Grown Up | newspaper=[[Newsday]] | page=10 | date=1994-06-27}}</ref> Bà hợp tác với [[Michael Jackson]] trong "[[Scream/Childhood|Scream]]", đĩa đơn đầu tiên trích từ album ''[[HIStory: Past, Present and Future, Book I|HIStory]]'', ra mắt năm 1995. Bài hát do cả hai anh em sáng tác như một lời đáp trả trước sự săm soi của dư luận.<ref name="TCI">{{citechú thích news|last=Boepple |first= Leanne |title = Scream: space odyssey Jackson-style.(video production; Michael and Janet Jackson video) | page = 52 |volume=29 | newspaper=Theatre Crafts International | date = November 1, 1995 |issn=1063-9497}}</ref><ref name = "pinkerton 34">{{citechú thích book|last=Pinkerton|first=Lee|title= The Many Faces of Michael Jackson|publisher=Music Sales Distribution|year=1997|isbn=0-7119-6783-0}}</ref> Đĩa đơn đạt hạng 5 Hot&nbsp; 100 trong tuần lên kệ, trở thành bài hát đầu tiên mở màn trong top 5.<ref>{{citechú thích book|author=George, Nelson|year=2004|title=''[[Michael Jackson: The Ultimate Collection]]''|publisher=[[Sony BMG]]|format=booklet}}</ref> "Scream" xuất hiện trong quyển ''[[Sách kỷ lục Guinness]]'' cho hạng mục "Video âm nhạc đắt đỏ nhất", với kinh phí 7 triệu đô-la Mỹ.<ref name="mostexpensive">{{chú thích web|url=http://music.uk.msn.com/photos/photos.aspx?cp-documentid=150253228 |title=The Most Expensive Music Videos Ever Made |publisher=MSN |date=ngày 16 tháng 10 năm 2009 |accessdate=ngày 22 tháng 5 năm 2014}}</ref> Video thắng giải Grammy cho "[[Giải Grammy cho Video âm nhạc xuất sắc nhất|Video âm nhạc ngắn xuất sắc nhất]]".<ref>{{chú thích báo|url=http://www.cnn.com/SHOWBIZ/Music/9601/grammy_noms/grammy_list.html|title=List of Grammy nominees|date=ngày 4 tháng 1 năm 1996|accessdate=ngày 18 tháng 6 năm 2010|publisher=CNN}}</ref>
 
[[Album tuyển tập]] đầu tiên của Jackson, ''[[Design of a Decade: 1986-1996|Design of a Decade: 1986–1996]]'' ra mắt năm 1995. Album đạt hạng 3 trên ''Billboard'' 200.<ref name="Billboard Album peaks" /><ref>{{citechú thích news| url=http://www.nytimes.com/1995/11/30/arts/the-pop-life-073440.html | work=The New York Times | title=The Pop Life | first=Neil | last=Strauss | date=1995-11-30}}</ref> Đĩa đơn đầu tiên, "[[Runaway (bài hát của Janet Jackson)|Runaway]]" trở thành bài hát đầu tiên của một nữ nghệ sĩ có mở đầu trong top 10 Hot&nbsp; 100, tại vị trí thứ 3.<ref>{{citechú thích news|first=Bronson |last=Fred |title=Janet Jackson Has Done It Again |url=https://books.google.com/?id=6Q0EAAAAMBAJ&printsec=frontcover |work=Billboard |publisher=[[Nielsen Company|Nielsen Business Media, Inc.]] |page=96 |date=September 16, 1995 |accessdate=April 17, 2010}}</ref><ref>{{citechú thích news| title = Design of a Decade 1986/1996 > Charts & Awards > Billboard Singles | publisher=Allmusic | year = 2006 | url = {{Allmusic|class=album|id=r224159|pure_url=yes}}| accessdate = July 20, 2008}}</ref> ''Design of a Decade 1986/1996'' được RIAA chứng nhận hai lần Bạch kim và bán ra hơn 10 triệu bản trên thế giới.<ref>{{citechú thích web|url=http://www.queersighted.com/2009/11/23/janet-jackson-at-her-best/ |last=Lathwell |first=David |title=Janet Jackson at her best – Queer Sighted |work=queersighted.com |accessdate=July 7, 2010 |deadurl=yes |archiveurl=https://web.archive.org/web/20100211202342/http://www.queersighted.com/2009/11/23/janet-jackson-at-her-best/ |archivedate=February 11, 2010 }}</ref> ''[[The Boston Globe]]'' so sánh "sức mạnh ưu tú của nữ giới trong nhạc pop" của Jackson với [[Bonnie Raitt]], Madonna và [[Yoko Ono]], gọi sức ảnh hưởng của họ là "không thể đo lường".<ref>{{citechú thích news|last=Morse|first=Steve|title=Pure pop for power women Janet Jackson, Bonnie Raitt, Yoko Ono and Madonna flex their musical muscle|newspaper=''The Boston Globe''|page=51|date=November 3, 1995|issn=0743-1791}}</ref> Jackson tái ký hợp đồng với Virgin Records với số tiền 80 triệu đô-la Mỹ trong năm kế tiếp.<ref name="80 million">{{citechú thích news| title=Janet Jackson Hits Big; $80 Million Record Deal | newspaper=Newsday | page=A02 | date=January 13, 1996}}</ref> Bản hợp đồng giúp bà là nghệ sĩ thu âm được trả thù lao cao nhất lịch sử lúc bấy giờ, đánh bại kỷ lục của Michael Jackson và Madonna.<ref>{{citechú thích news|quote=Sau nhiều đồn đoán, Janet Jackson, 29 tuổi, giành lấy một hợp đồng gồm 4 album trị giá 80 triệu đô-la Mỹ cùng Virgin Records, biến cô trở thành nghệ sĩ trình diễn được trả thù lao cao nhất ngành công nghiệp âm nhạc (vượt qua Michael và Madonna, mỗi người giành một hợp đồng trị giá 60 triệu đô-la vào đầu thập niên 1990)|last1=Davidson |first1=Casey | title=News & Notes | newspaper=Entertainment Weekly | page=15 | date=January 26, 1996}}</ref><ref>{{citechú thích news|last1= Farley |first1=Christopher John |last2= Thigpen |first2=David E. |last3= Ressner |first3=Jeffrey | title=Business: Are they worth all that cash? Janet Jackson's record-breaking $80 million contract could set off a new wave of pop-music megadeals | newspaper=[[Time (tạp chí)|Time]]| page=54 | date=January 29, 1996}}</ref><ref>{{citechú thích news|quote=Ban nhạc rock [[R.E.M.]] sau đó ký một hợp đồng 80 triệu đô-la Mỹ với hãng [[Warner Bros. Records]] vào tháng 8 năm 1996; nhiều nguồn tin so sánh bản hợp đồng này với Jackson, nhưng hợp đồng của cô trị giá 70 triệu đô-la Mỹ| title=R.E.M. Signs $80M Deal | newspaper=Newsday | date=August 26, 1996}}</ref>
 
===1997–99: ''The Velvet Rope''===
Jackson bắt đầu trải qua chứng bệnh trầm cảm và lo âu nghiêm trọng, là cảm hứng cho album phòng thu thứ sáu của bà, ''[[The Velvet Rope]]'' phát hành vào tháng 10 năm 1997. Jackson trở lại với sự thay đổi lớn về hình ảnh, phô trương mái tóc đỏ rực, khuyên mũi và hình xăm.<ref>{{citechú thích web|url=https://books.google.com/books?id=WzsDAAAAMBAJ&pg=PA61|title=Janet Jackson Returns With Hit Album, New Look|work=[[Jet (magazine)|Jet]]|accessdate=April 20, 2014|date=17 tháng 11 năm 1997|publisher=Johnson Publishing Company}}</ref> Chủ đề chính của album tập trung vào nhu cầu gắn bó trong mỗi con người. Ngoài lời ca đề cập tới những vấn đề xã hội như [[tình yêu đồng giới]], [[ghê sợ đồng tính luyến ái]] và [[bạo lực gia đình]],<ref>{{citechú thích web|url=http://www.slantmagazine.com/house/2006/11/postkatrina-musicand-an-american-idol-dropout|title=Post-Katrina Music…and an American Idol Dropout - The House Next Door|work=[[Slant Magazine]]|author=Cinquemani, Sal|date=November 11, 2006|accessdate=April 20, 2014}}</ref><ref name="Elysa">{{citechú thích web|url=http://articles.latimes.com/1997/nov/20/entertainment/ca-55636|title=You're making your list and we've made ours: tons of ideas for presents--even for those hardest to please.: From Elton to Boyz to Celine to Dylan, It's an Album Bull Market|work=Los Angeles Times|author=Gardner, Elysa|date=November 20, 1997|accessdate=April 20, 2014}}</ref> các bài hát còn chứa nội dung về [[bạo dâm]] và được xem là tác phẩm mang tính gợi dục hơn ''janet''.<ref name="Saunders" /><ref>{{citechú thích web|url=http://www.mtv.com/news/1405/janet-jackson-experiments-on-new-album/|title=Janet Jackson Experiments On New Album - MTV|publisher=[[MTV|MTV News]]|author=Kaufman, Gil|date=October 2, 1997|accessdate=April 20, 2014}}</ref> ''[[The New York Times]]'' gọi đây là "album táo bạo, trau chuốt và hoàn thiện nhất" trong sự nghiệp của bà, còn ''Billboard'' đánh giá đây là "album Mỹ hay nhất năm và tác phẩm hùng mạnh nhất" của nữ ca sĩ.<ref>{{citechú thích news|last=Pareles|first=Jon|title=Critics' Choice/Pop CD's; Love Can Get Complicated (Ouch!)|url=http://www.nytimes.com/1997/10/07/arts/critic-s-choice-pop-cd-s-love-can-get-complicated-ouch.html|accessdate=January 16, 2014|newspaper=[[The New York Times]]|date=October 7, 1997}}</ref><ref>{{citechú thích web|last=Flick|first=Larry|title=The Year in Music|newspaper=Billboard|volume=109|issue=52|page=16|date=December 3, 1998|issn=0006-2510}}</ref> Album mở đầu tại ngôi quán quân ''Billboard''&nbsp; 200, 3 lần chứng nhận Bạch kim tại Hoa Kỳ với doanh số bán hàng trên toàn thế giới hơn 10 triệu bản.<ref name="cert" />
 
[[FileTập tin:Janet Jackson 1998 concert.jpg|thumb|Jackson trình diễn trong [[Velvet Rope Tour]] vào tháng 8 năm 1998]]
Đĩa đơn mở đường "[[Got 'til It's Gone]]" lên kệ vào tháng 8 năm 1997, có sự góp giọng của ca sĩ [[Joni Mitchell]] và rapper [[Q-Tip (rapper)|Q-Tip]]. Video âm nhạc của bài hát, nơi Jackson hóa thân thành một ca sĩ phòng trà trong [[Apartheid|thời kỳ phân biệt chủng tộc]] ở Nam Phi, giành chiến thắng giải Grammy cho "Video âm nhạc ngắn xuất sắc nhất".<ref>{{citechú thích news|url=http://articles.latimes.com/1998/jan/07/entertainment/ca-5628/15|title=Complete List of Academy Voter Picks|page=15|work=Los Angeles Times |date=January 7, 1998|accessdate=May 6, 2011}}</ref> "[[Together Again]]" trở thành bài hát quán quân thứ 8 của Jackson trên ''Billboard'' Hot&nbsp; 100, đứng ngang hàng với [[Elton John]], Diana Ross và [[The Rolling Stones]].<ref name="Jacksons Number Ones" />{{rp|28, 120}} Bài hát trụ hạng trong 46 tuần tại Hot 100 và 19 tuần tại bảng xếp hạng đĩa đơn Vương quốc Liên hiệp Anh, một con số kỷ lục.<ref name="US-singles"/><ref name="Jacksons Number Ones" /> Bài hát tiêu thụ 6 triệu bản trên toàn cầu và là một trong những [[danh sách đĩa đơn bán chạy nhất|đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại]].<ref>{{citechú thích book|title= FYI > Together Again |work=UNAIDS Outlook Report|publisher= Joint United Nations Programme on HIV/AIDS |date= July 2010 |page= 30 |url= https://books.google.com/?id=E1jwF1bK1tQC&pg=PA30&dq=%22together+again%22+%22six+million+copies+worldwide%22}}</ref> "[[I Get Lonely]]" đạt hạng 3 tại Hoa Kỳ và nhận một đề cử giải Grammy cho "Trình diễn giọng nữ R&B xuất sắc nhất".<ref name="US-singles"/><ref>{{citechú thích journal|url=https://books.google.com/books?id=TQ0EAAAAMBAJ|title=Final Nominations for the 41st Annual Grammy Awards|journal=Billboard|publisher=Nielsen Business Media, Inc.|volume=111|issue=3|page=80|issn=0006-2510|date=1999-01-16|accessdate=2011-10-18}}</ref> Đây là đĩa đơn top 10 thứ 18 liên tiếp của Jackson, giúp bà là nữ nghệ sĩ duy nhất đạt thành tích này.<ref>{{citechú thích web|title=Causing a Commotion|url=http://rockhall.com/education/resources/commotion/|publisher=[[Rock and Roll Hall of Fame]]|accessdate=January 13, 2012}}</ref> Bà còn phát hành một vài đĩa đơn khác, bao gồm "[[Go Deep]]" và bản ballad "[[Every Time (bài hát)|Every Time]]", đi kèm là những video âm nhạc chứa cảnh khỏa thân gây tranh cãi.<ref>{{citechú thích web|url=http://www.vibe.com/article/naked-music-videos-pg-2|title=Naked Music Videos (Pg. 2)| work=Vibe|publisher=SpinMedia|date=March 25, 2010|accessdate=February 19, 2014}}</ref>
 
Album này lột tả hình ảnh Jackson như là biểu tượng của cộng đồng người đồng tính.<ref name="McCormick">{{citechú thích web|last=McCormick |first=Neil | title=The Arts: Give her enough rope&nbsp; ... Reviews Rock CDs | newspaper=[[The Daily Telegraph]] | page=11| date=October 18, 1997}}</ref><ref>{{citechú thích web |url=http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/116269/review/5942564/the_velvet_rope |title=Janet Jackson: The Velvet Rope: Music Reviews: Rolling Stone |work=Rolling Stone |accessdate=September 9, 2010 |archiveurl=https://web.archive.org/web/20080503081338/http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/116269/review/5942564/the_velvet_rope |archivedate=May 3, 2008|edition=776/777}}</ref> "Together Again" là một bài hát pop, với ca từ kể về một người bạn đã mất vì căn bệnh [[AIDS]];<ref>{{citechú thích web|url=http://www.ew.com/ew/article/0,,289747_2,00.html|title=Music Review: 'The Velvet Rope' - Music Reviews and News |work=[[Entertainment Weekly]]|author=J.D.Considine|date=October 10, 1997|accessdate=April 20, 2014}}</ref> "Free Xone" được xem là "bản khải hoàn ca của người đồng tính" và là một "bài hát chống lại sự ghê sợ đồng tính luyến ái"; và lời ca liên quan đến tình dục đồng giới nữ trong bản hát lại "[[Tonight's the Night (Gonna Be Alright)|Tonight's the Night]]" của [[Rod Stewart]].<ref>{{citechú thích web|url=http://www.nydailynews.com/true-velvet-janet-jackson-personal-new-lp-sexuality-famous-kin-article-1.804955|title=True 'Velvet' Janet Jackson Gets Personal About Her New LP, Her Sexuality And Her Famous Kin|author=Farber, Jim|work=[[Daily News (New York)|Daily News]]|location=New York|date=October 11, 1998|accessdate=April 20, 2014}}</ref> ''The Velvet Rope'' nhận giải "Album nhạc nổi bật" tại [[Giải thưởng GLAAD Media]].<ref name=gladd>{{citechú thích web|url=http://www.glaad.org/media/release_detail.php?id=4308 |title=Janet Jackson to be Honored at 19th Annual GLAAD Media Awards in Los Angeles |accessdate=June 10, 2008 |last=McCarthy |first=Marc |publisher=[[GLAAD]] |date=April 1, 2008|archiveurl = https://web.archive.org/web/20080608152724/http://www.glaad.org/media/release_detail.php?id=4308 |archivedate = June 8, 2008|deadurl=yes}}</ref> Một phần từ lợi nhuận của ca khúc "Together Again" được quyên góp cho [[AmfAR, The Foundation for AIDS Research|Quỹ nghiên cứu AIDS Hoa Kỳ]].<ref name="Jacksons Number Ones" />
 
Jackson công bố về [[The Velvet Rope Tour|The Velvet Rope World Tour]] đến châu Âu, Bắc Mỹ, châu Á, châu Phi, New Zealand và châu Đại Dương. Các nhà phê bình khen ngợi dàn dựng, vũ đạo và chất giọng của Jackson.<ref name="broadway" /> Đêm diễn được so sánh với "sự tham vọng và hoành tráng của một vở kịch Broadway".<ref name="broadway">{{citechú thích web |last=Hilburn |first=Robert | title=Janet Jackson Learns The Ropes\ Singer Learns To Like Herself On The Way To Creating The Lavishly Staged Velvet Rope Tour | newspaper=Pittsburgh Post-Gazette| page=G3| date=September 20, 1998|issn=1068-624X}}</ref> Chương trình đặc biệt của chuyến lưu diễn trên [[HBO]], ''The Velvet Rope: Live in Madison Square Garden'' thu hút hơn 15 triệu người xem, vượt tỉ lệ người xem trên 4 mạng lưới lớn cũng như lượng người xem đăng ký.<ref>{{citechú thích web| title = HBO's Exclusive Live Concert Event Janet: The Velvet Rope | publisher=[[Time Warner]] | date = October 14, 1998 | url = http://www.timewarner.com/corp/newsroom/pr/0,20812,666900,00.html | archiveurl=https://web.archive.org/web/20060315065539/http://www.timewarner.com/corp/newsroom/pr/0,20812,666900,00.html|archivedate=15 tháng 3 năm 2006|accessdate = March 9, 2008}}</ref> Chương trình thắng một [[giải Emmy]] trên tổng cộng 4 đề cử.<ref>{{citechú thích web |url=https://books.google.com/?id=Fz0DAAAAMBAJ&pg=PA57&dq=%22janet+jackson%22+%22nominations%22&cd=3#v=onepage&q=%22janet%20jackson%22%20%22nominations%22 |title=Don Cheadle, Janet Jackson, Chris Rock, Cicely Tyson Among Primetime Emmy Nominees |publisher= Johnson Publishing Company|work=Jet|accessdate=June 29, 2010|edition=64060 |date=August 16, 1999}}</ref> Jackson quyên góp một phần lợi nhuận của chuyến lưu diễn tới [[America's Promise]], một tổ chức do [[Colin Powell]] thành lập để hỗ trợ thanh thiếu niên bị tước quyền công dân.<ref>{{citechú thích web|author=Kim McAvoy|title=HBO makes the most of music|newspaper=Broadcasting & Cable|volume=128|issue=36|page=30}}</ref>
 
Sau chuyến lưu diễn, Jackson góp giọng trong nhiều sản phẩm hợp tác, bao gồm "[[Luv Me, Luv Me]]" của [[Shaggy (nhạc sĩ)|Shaggy]] trong bộ phim ''[[How Stella Got Her Groove Back (nhạc phim)|How Stella Got Her Groove Back]]'',<ref>{{citechú thích web | url={{BillboardURLbyName|artist=Shaggy|chart=Hot 100}} | title=Shaggy – Chart History: Hot 100 | work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]| accessdate=October 29, 2012}}</ref> "[[Girlfriend/Boyfriend]]" cùng [[Blackstreet]]<ref>{{citechú thích web | url={{BillboardURLbyName|artist=Blackstreet|chart=Hot 100}} | title=Blackstreet – Chart History: Hot 100 | work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]| accessdate=October 29, 2012}}</ref> và "[[What's It Gonna Be?!]]" với [[Busta Rhymes]]. "What's It Gonna Be?!" dẫn đầu [[Billboard Hot 100|''Billboard'']] [[Hot R&B/Hip-Hop Songs|Hip-Hop Singles]] và đạt hạng 3 trên Hot 100,<ref>{{citechú thích web | url={{BillboardURLbyName|artist=Busta Rhymes|chart=R&B/Hip-Hop Songs}} | title=Busta Rhymes – Chart History: R&B/Hip-Hop Songs | work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]| accessdate=April 8, 2012}}</ref><ref>{{citechú thích web | url={{BillboardURLbyName|artist=Busta Rhymes|chart=Hot 100}} | title=Busta Rhymes – Chart History: Hot 100 | work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]| accessdate=October 29, 2012}}</ref> với video âm nhạc nằm trong [[Danh sách video ca nhạc tốn kém nhất mọi thời đại|danh sách tốn kém nhất mọi thời đại]].<ref name="mostexpensive"/> Jackson còn đóng góp bản ballad "God's Stepchild" trong nhạc phim ''[[Down in the Delta]]'' (1998). Jackson thu âm bản song ca "I Know the Truth" với [[Elton John]] trong nhạc phim ''[[Elton John and Tim Rice's Aida]]'' (1999). Tại [[giải thưởng Âm nhạc Thế giới]] 1999, Jackson nhận "Giải thưởng huyền thoại" cho "đóng góp nổi bật đến ngành công nghiệp pop".<ref name="World Music Awards">{{citechú thích web| title = Global Pulse: Smith, Hill Top World Awards | work=Billboard | date = May 6, 1999 | url = http://www.billboard.com/bbcom/search/google/article_display.jsp?vnu_content_id=947178| archiveurl=https://web.archive.org/web/20121102140500/http://www.billboard.com/bbcom/search/google/article_display.jsp?vnu_content_id=947178|archivedate=3 tháng 7 năm 2009|accessdate = September 16, 2008}}</ref> ''Billboard'' xếp Jackson là nghệ sĩ thành công thứ hai của thập niên, chỉ đứng sau [[Mariah Carey]].<ref>{{citechú thích web| last1 = Mayfield | first1 = Geoff | title = Totally '90s: Diary of a decade | volume = 111 | issue = 112 | newspaper=Billboard | date = December 25, 1999 | issn = 0006-2510}}</ref>
 
=== 2000–03: ''Nutty Professor II: The Klumps'' và ''All for You'' ===
Tháng 7 năm 2000, Jackson vào vai Tiến sĩ Denise Gaines trong bộ phim ''[[Nutty Professor II: The Klumps]]'', bên cạnh [[Eddie Murphy]]. Đạo diễn [[Peter Segal]] khẳng định "Janet Jackson là sự lựa chọn phù hợp và hiển nhiên nhất."<ref>{{citechú thích web|url=http://archive.thedailycougar.com/vol65/163/shobiz/shobiz3.html|title=The Daily Cougar|work=Entertainment News|publisher=Daily Cougar|author=Singleton, Keenan|year=2000|accessdate=February 19, 2014}}</ref> Đây là bộ phim thứ hai của bà dẫn đầu tại các phòng vé, mang về ước tính 170 triệu đô-la Mỹ toàn cầu.<ref>{{Citechú thích web | last= LaSalle | first=Mick | title=`Professor' Moves Out Smartly / Hollywood's summer better than expected| newspaper=San Francisco Chronicle | page=D1 | date= July 31, 2000}}</ref><ref>{{Citechú thích web | title=Box Office; Home Edition| newspaper=Los Angeles Times | page=F–28 | date= August 3, 2000}}</ref> Bài hát "[[Doesn't Really Matter]]" sử dụng trong nhạc phim trở thành đĩa đơn thứ chín của Jackson đạt ngôi quán quân tại Hot 100, giữ vững vị trí này trong 3 tuần lễ.<ref>{{citechú thích web |url= https://books.google.com/books?id=oRQEAAAAMBAJ&pg=PA42 |title= Missing: A Summer Hit |work= Billboard |publisher= Nielsen Business Media|author=Whitmire, Margo |date=30 July 2005 |accessdate= 7 Feb 2014}}</ref> Cùng năm đó, người chồng Rene Elizondo Jr. đệ đơn ly dị với Jackson, công bố cuộc hôn nhân của họ trước công chúng. Theo ghi nhận của ''[[Entertainment Weekly]]'', 8 trong 13 năm mà cả hai kết hôn là "một sự thật mà họ cố giấu diếm không chỉ với truyền thông quốc tế, mà còn ở cha ruột của chính Jackson".<ref name="Gordinier">{{Citechú thích web | last=Gordinier | first=Jeff | title=Will the real Janet Jackson please stand up? Is the seductive superstar an enigma wrapped in a riddle? Or just your average nasty girl with a taste for pleasure and pain?| newspaper=Entertainment Weekly | page=36 | date= May 4, 2001}}</ref> Elizondo còn đâm đơn kiện bà, với số tiền ước tính khoảng 10–25 triệu đô-la Mỹ—vụ việc không đạt đến thỏa thuận trong suốt 3 năm.<ref name="Gordinier" /><ref>{{Citechú thích web | last= McElroy | first=Quindelda | title=Ex-hubbies can cash in| newspaper=[[The Atlanta Journal-Constitution]] | page=E.2 | date= April 21, 2007}}</ref>
 
Tháng 3 năm 2001, [[MTV]] vinh danh Jackson với buổi lễ "[[MTV Icon]]", công nhận "những đóng góp đáng kể đến âm nhạc, video âm nhạc và văn hóa đại chúng, cũng như ảnh hưởng tới thế hệ MTV" của Jackson. Đêm nhạc tri ân có sự góp mặt của [[Britney Spears]], [[Jennifer Lopez]], [[Aaliyah]] và [[Jessica Simpson]], cùng màn trình diễn của [['N Sync]], [[Pink (ca sĩ)|Pink]], [[Destiny's Child]], [[Usher (ca sĩ)|Usher]], [[Buckcherry]] và [[Outkast]].<ref name="mtvICON">{{Citechú thích web| last = Jeckell | first = Barry | title = MTV To Honor Janet Jackson |work=Billboard | date = January 10, 2001 | url = http://www.billboard.com/articles/news/80773/mtv-to-honor-janet-jackson | accessdate = March 16, 2008}}</ref> [[Giải thưởng Âm nhạc Mỹ]] cũng trao tặng Jackson "Giải thưởng danh dự" cho "những album chứng nhận đa Bạch kim dàn dựng công phu, được khen ngợi và mang ý nghĩa xã hội."<ref>{{Citechú thích web| title = Billboard Bits: AMAs, They Might Be Giants, Ricky Scaggs |work=Billboard | date = January 4, 2001 | url = http://www.billboard.com/articles/news/80796/billboard-bits-amas-they-might-be-giants-ricky-scaggs| accessdate = May 3, 2008}}</ref> Album thứ bảy của bà, ''[[All for You (album)|All for You]]'' ra mắt hồi tháng 4 năm 2001. Album mở đầu tại vị trí quán quân ''Billboard''&nbsp; 200 với 605.000 bản, doanh số tuần đầu cao nhất trong sự nghiệp của bà, là trong những con số mở đầu lớn nhất của một nữ ca sĩ trong lịch sử.<ref name="Billboard Album peaks" /><ref>{{Citechú thích web| last = Martens | first = Todd | title = Janet Reigns Supreme On Billboard Charts |work=Billboard | date = May 3, 2001 | url = http://www.billboard.com/articles/news/79869/janet-reigns-supreme-on-billboard-charts | accessdate = April 17, 2008}}</ref> Album đánh dấu sự trở lại với phong cách nhạc dance sôi động, nhận nhiều phản hồi tích cực.<ref>{{citechú thích web |url = http://www.slantmagazine.com/music/review/janet-jackson-all-for-you |title = Janet Jackson: All for You |work = [[Slant Magazine]] |accessdate = July 15, 2010 |first = Sal |last = Cinquemani |date = June 14, 2001 }}</ref><ref>{{Citechú thích web| last = Pareles | first = Jon | title = Album of the Week |work=The New York Times | date = May 4, 2001 | url = http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=9C0DE7D91238F937A35756C0A9679C8B63 | accessdate = July 20, 2008}}</ref> ''All for You'' được chứng nhận đĩa Bạch kim bởi RIAA và bán 9 triệu bản trên toàn cầu.<ref name="cert" /><ref>{{citechú thích web|url=http://www.chartsinfrance.net/Janet-Jackson/news-68976.html |title=Janet Jackson dévoile la vidéo de "Make Me" |work=Charts in France |accessdate=September 28, 2010}}</ref>
 
Đĩa đơn đầu tiên, "[[All for You (bài hát của Janet Jackson)|All for You]]" mở đầu tại Hot 100 ở vị trí thứ 14, một kỷ lục đối với các đĩa đơn chưa phát hành thương mại.<ref>{{citechú thích news|title=Joe St-St-Stays On Top With 'Stutter'|url=http://www.billboard.com/articles/news/80407/joe-st-st-stays-on-top-with-stutter|work=[[Billboard]]|date=March 8, 2001|accessdate=February 22, 2014}}</ref> [[MTV]] phong tặng Jackson danh hiệu "Nữ hoàng Radio" khi bài hát này làm nên lịch sử phát thanh, trở thành đĩa đơn đầu tiên "được thêm vào danh sách phát thanh nhạc pop, rhythmic và urban" trong tuần đầu tiên phát hành.<ref>{{citechú thích news|last=VanHorn|first=Teri|title=Janet Jackson Single Breaks Radio, Chart Records|url=http://www.mtv.com/news/articles/1441454/janet-jackson-single-breaks-radio-chart-records.jhtml|accessdate=February 21, 2014|newspaper=MTV News|date=March 9, 2001}}</ref> Bài hát phá vỡ kỷ lục mở màn trên sóng phát thanh với 70 triệu khán giả, đạt hạng 9 trên [[Radio Songs]].<ref>{{Citechú thích news |last=Trust |first=Gary |title=Lady Gaga Claims 1,000th Hot 100 No. 1 with 'Born This Way' |work=Billboard |publisher=Prometheus Global Media |date=February 16, 2011 |url=http://www.billboard.com/articles/news/473025/lady-gaga-claims-1000th-hot-100-no-1-with-born-this-way |accessdate=February 16, 2011}}</ref> "All for You" dẫn đầu Hot 100 trong 7 tuần, lọt vào top 10 tại 11 quốc gia,<ref>{{Citechú thích web| last = Martens | first = Todd | title = Seven And Counting For Janet At No. 1 |work=Billboard | date = May 17, 2001 | url = http://www.billboard.com/articles/news/79721/seven-and-counting-for-janet-at-no-1 | accessdate = April 17, 2008}}</ref><ref>{{citechú thích news|title=Seven And Counting For Janet At No. 1|url=http://www.billboard.com/articles/news/79721/seven-and-counting-for-janet-at-no-1|accessdate=February 22, 2014|newspaper=[[Billboard]]}}</ref> và thắng giải Grammy cho "[[Giải Grammy cho Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất|Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất]]".<ref>{{chú thích báo|url=http://web.archive.org/web/20020808171139/http://www.cbsnews.com/stories/2002/01/04/entertainment/main323197.shtml|title=Complete List Of Grammy Nominees|date=ngày 4 tháng 1 năm 2002|accessdate=ngày 25 tháng 6 năm 2010|publisher=[[CBS News]]}}</ref> "[[Someone to Call My Lover]]" đạt hạng 3 trên Hot&nbsp; 100.<ref>{{Citechú thích web| last = Caulfield | first = Keith | title = Ask Billboard |work=Billboard | date = December 24, 2006 | url = http://www.billboard.com/articles/news/56367/ask-billboard | accessdate = April 17, 2008}}</ref> Sử dụng đoạn nhạc mẫu từ "[[You're So Vain]]" (1972) của [[Carly Simon]], bài hát "[[Son of a Gun (I Betcha Think This Song Is About You)]]" có sự góp mặt của chính Simon và [[Missy Elliott]] trong đĩa đơn phối lại.<ref>{{citechú thích web|url=http://music.yahoo.com/read/news/12057156|title=Janet Jackson On Teaming Up With Carly Simon|accessdate=March 19, 2008|first=Jason|last=Gelman|date=April 25, 2001|publisher=[[Yahoo! Music]]|archiveurl=https://web.archive.org/web/20090115055851/http://music.yahoo.com/read/news/12057156|archivedate=January 15, 2009}}</ref><ref>{{citechú thích web|url=http://www.billboard.com/articles/news/77726/janet-heads-to-hawaii-for-hbo-live-special|title=Janet Heads To Hawaii For HBO Live Special|date=November 15, 2001|accessdate=July 21, 2014|work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]}}</ref>
 
Tháng 7 năm 2001, Jackson công bố [[All for You Tour]], được trình chiếu trên chương trình kênh [[HBO]], thu hút 12 triệu người xem.<ref>{{citechú thích web |url=http://blogcritics.org/music-dvd-review-janet-jackson-live/comment-page-1/|title=Music DVD Review: Janet Jackson – Live in Hawaii (Re-Release)|work=Blog Critics|date=March 31, 2008|accessdate=January 29, 2014}}</ref> Chuyến lưu diễn đi khắp Hoa Kỳ và Nhật bản, dù chặng khu vực châu Âu và châu Á buộc phải hủy sau [[sự kiện 11 tháng 9|cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9]]. Tờ ''[[Los Angeles Times]]'' khen ngợi màn trình diễn của Jackson.<ref name="All for You Tour">{{Citechú thích web| url=http://articles.latimes.com/2001/oct/06/entertainment/ca-53988| last1= Esparza | first1=Rafael | last2= Massey | first2=David| last3= Scalese| first3=Rudy| title=Let Jackson's Energetic Beat Go On| newspaper=[[Los Angeles Times]] | page=F–4 | date= October 6, 2001}}</ref> Richard Harrington của ''[[Washington Post]]'' gọi buổi diễn của bà vượt qua những đồng nghiệp đương thời<ref>{{citechú thích web|url=http://www.highbeam.com/doc/1P2-471830.html |title=Janet Jackson, Diva Dynamo – The Washington Post|work=[[Washington Post]] via [[Highbeam Research]]|last=Harrington |first=Richard|date=August 18, 2001|accessdate=September 28, 2010}}</ref> nhưng Bob Massy từ ''[[Spin (tạp chí)|Spin]]'' phê bình "những động tác yếu ớt" của vũ đoàn và nhóm bè "tông quá cao", dù khẳng định "Janet biến bản thân thành một nhà giải trí đích thực."<ref>{{citechú thích journal |url=https://books.google.com/books?id=m-qexhnZaukC&pg=PA54 |page=54 |last=Massy |first=Bob |title=Janet Jackson, August 17, 2001, MCI Center, Washington, D.C. |journal=Spin |date=November 2001 |volume=17 |number=11 |issn=0886-3032}}</ref> Jackson quyên góp một phần lợi nhuận của chương trình tới [[Boys & Girls Clubs of America]].<ref>{{Citechú thích web| title=Janet Jackson Announces 'All for You Tour 2001'; Alliance to Support Boys & Girls Clubs of America; Ticket Proceeds To Be Donated As Part Of Nationwide Campaign| publisher=Business Wire | date= May 30, 2001}}</ref>
 
Năm kế đến, Jackson bắt đầu được dư luận chú ý bởi những mối quan hệ với [[Justin Timberlake]], diễn viên [[Matthew McConaughey]] và nhà sản xuất thu âm [[Jermaine Dupri]].<ref>{{citechú thích web|url=http://popdirt.com/miss-jackson-gettin-it-on-with-grammy-co-presenter/3242/|title=Miss Jackson Gettin' It On With Grammy Co-Presenter|work=Popdirt|date=March 21, 2002|accessdate=January 4, 2014}}</ref><ref>{{citechú thích web|url=http://articles.orlandosentinel.com/2002-07-13/news/0207120443_1_justin-timberlake-warren-sapp-scavenger-hunt|title=Justin Timberlake Lets Music Ease Toll On His Heart|work=Orlando Sentinel|publisher=Abott, Jim|date=July 13, 2002|accessdate=January 4, 2014}}</ref><ref>{{Citechú thích web| last= Norment | first=Lynn | title=Janet & Jermaine| newspaper=[[Ebony (magazine)|Ebony]] |volume=63 |issue= 4| page=82 | date= February 2008 |issn=0012-9011}}</ref> Trong album phòng thu đầu tay của Timberlake, ''[[Justified (album)|Justified]]'' (2002) Jackson góp giọng trong bài hát "(And She Said) Take Me Now" theo yêu cầu của Timberlake.<ref>{{citechú thích web|url=http://www.nme.com/reviews/name/6813 |title=Album Reviews&nbsp; – Justin Timberlake: Justified |date=November 1, 2002|first=Alex |last=Needham |work=[[NME]]|publisher=[[IPC Media]] (Time Inc)|accessdate=March 3, 2013}}</ref><ref>{{citechú thích web|url=http://www.slantmagazine.com/music/review/justin-timberlake-justified/222 |title=Justin Timberlake: Justified |date=November 8, 2002|first=Sal |last=Cinquemani |publisher=[[Slant Magazine]] |accessdate=July 16, 2012}}</ref> Jackson hợp tác với nghệ sĩ nhạc [[reggae]] [[Beenie Man]] trong ca khúc "[[Feel It Boy]]", do [[The Neptunes]] sản xuất.<ref>{{chú thích báo|
url=http://www.rollingstone.com/artists/beenieman/albums/album/132047/review/6068103/tropical_storm|archiveurl=http://web.archive.org/web/20071117233201/http://www.rollingstone.com/artists/beenieman/albums/album/132047/review/6068103/tropical_storm|title=Beenie Man: Tropical Storm: Music Reviews: Rolling Stone|author=Ernest Hardy|edition=905|date=19 tháng 9 năm 2002|work=[[Rolling Stone]]|archivedate=17 tháng 11 năm 2007|accessdate=15 tháng 10 năm 2016}}</ref>
 
=== 2004–05: Tranh cãi Super Bowl XXXVIII và ''Damita Jo'' ===
[[National Football League|Giải Bóng bầu dục quốc gia]] và MTV chọn Jackson để trình diễn tại chương trình giữa giờ [[Super Bowl XXXVIII]], vào tháng 2 năm 2004. Bà trình diễn liên khúc "All for You", "Rhythm Nation" và trích đoạn "The Knowledge", trước khi đến bài hát "[[Rock Your Body]]" cùng khách mời [[Justin Timberlake]]. Khi Timberlake hát câu "I'm gonna have you naked by the end of this song", anh xé rách trang phục của Jackson, để lộ bên ngực phải trước 140 triệu khán giả. Jackson đưa ra lời xin lỗi sau màn trình diễn này, khẳng định đây chỉ là một sự cố bất ngờ, vì theo kịch bản Timberlake chỉ giật chiếc áo yếm và giữ nguyên phần áo ngực đỏ bên trong.<ref name="apologeticjackson">{{Citechú thích web | title = Apologetic Jackson says 'costume reveal' went awry |publisher=CNN | date = February 3, 2004 | url = http://www.cnn.com/2004/US/02/02/superbowl.jackson/ | accessdate = May 20, 2006}}</ref> Bà viết rằng "Tôi thật sự xin lỗi nếu đã xúc phạm tới bất kỳ ai. Đây hoàn toàn không phải ý định của tôi&nbsp; ... MTV, CBS, the NFL đều không hay biết điều này và thật đáng tiếc, mọi chuyện đã diễn ra theo cách này."<ref>{{Citechú thích web | title = Jackson's apology can't stem mass anger | publisher=[[ESPN]] | url = http://sports.espn.go.com/nfl/playoffs03/news/story?id=1724968&partnersite=espn | accessdate = March 9, 2008|date=5 tháng 2 năm 2004}}</ref> Timberlake cũng đưa ra lời xin lỗi, gọi đó là một "sự cố trang phục."<ref name="apologeticjackson" /> Đây là khoảnh khắc được thu và chơi lại nhiều nhất lịch sử [[TiVo]], thu hút ước tính 35.000 lượt đăng ký.<ref>{{Citechú thích web | title=Numbers | newspaper=Time |volume=163 |issue=7 | page=19 | date=February 16, 2004|issn=0040-781X}}</ref><ref>{{Citechú thích web |last=Burke |first=Monte | title=The Ripple Effect | newspaper=Time |volume=173 |issue=4 | page=46 | date=March 1, 2004|issn=0015-6914|url=http://www.forbes.com/forbes/2004/0301/046a.html}}</ref> Được xem là một trong những sự kiện truyền hình gây tranh cãi nhất, ''Sách kỷ lục Guinness'' sau này liệt Jackson cho danh hiệu "Tìm kiếm nhiều nhất trong lịch sử Internet" và "Sự kiện thời sự tìm kiếm nhiều nhất".<ref>{{Citechú thích web | title = Star-studded 2007 edition of Guinness World Records released | publisher=[[CBC News]] | date = September 29, 2006 | url=http://www.cbc.ca/m/touch/arts/story/2006/09/29/guinness-record-book.html | accessdate=March 19, 2012|archiveurl=https://web.archive.org/web/20120626214517/http://www.cbc.ca/m/touch/arts/story/2006/09/29/guinness-record-book.html|archivedate=29 tháng 9 năm 2006}}</ref> CBS, [[National Football League|NFL]] và MTV (kênh chị em với CBS, nơi sản xuất chương trình giữa giờ), bác bỏ mọi liên quan và trách nhiệm đến vụ việc này. [[Federal Communications Commission|Ủy ban Truyền thông Liên bang]] phạt nặng toàn bộ công ty liên quan và tiếp tục điều tra trong 8 năm, sau cùng đưa ra án phạt 550.000 đô-la Mỹ tới đài CBS.<ref>{{Citechú thích web |last=Davidson |first=Paul | title=FCC loses appeal of 'wardrobe malfunction' fine | newspaper=USA Today | page=2b| date=July 22, 2008|issn=0734-7456}}</ref>
 
Sau sự cố, CBS chỉ định Timberlake xuất hiện tại [[giải Grammy lần thứ 46]], nhưng không cho phép Jackson tới dự và buộc bà phải hủy kế hoạch giới thiệu tại lễ trao giải.<ref>{{citechú thích web| title = Jackson banned from Grammys for Super Bowl stunt| publisher = The Telegraph| date = May 4, 2004| url = http://www.telegraph.co.uk/news/1453527/Jackson-banned-from-Grammys-for-Super-Bowl-stunt.html| accessdate = June 18, 2013|archiveurl=https://web.archive.org/web/20161018213009/http://www.telegraph.co.uk/news/1453527/Jackson-banned-from-Grammys-for-Super-Bowl-stunt.html|archivedate=18 tháng 10 năm 2016}}</ref> Tranh cãi còn hoãn kế hoạch diễn xuất của bà trong phim tiểu sử về ca sĩ và nhà hoạt động [[Lena Horne]], do [[American Broadcasting Company]] sản xuất. Dù Horne được cho là không hài lòng với sự cố Super Bowl, đại diện của Jackson phát biểu chính bà là người tự nguyện rời bỏ dự án này.<ref>{{Citechú thích web | title = Horne: Janet Jackson, don't play me |agency=Associated Press | publisher=CNN | date = February 4, 2004 | url = http://www.cnn.com/2004/SHOWBIZ/TV/02/24/tv.janetjackson.ap/ | accessdate = April 3, 2008 | format = – <sup>[http://scholar.google.co.uk/scholar?hl=en&lr=&q=intitle%3AHorne%3A+Janet+Jackson%2C+don%27t+play+me&as_publication=&as_ylo=&as_yhi=&btnG=Search Scholar search]</sup>|archiveurl = https://web.archive.org/web/20050220135401/http://www.cnn.com/2004/SHOWBIZ/TV/02/24/tv.janetjackson.ap/ |archivedate = February 20, 2005}}</ref> Một bức tượng [[chuột Mickey]] mặc trang phục "Rhythm Nation" nổi tiếng của Jackson đặt tại công viên [[Walt Disney World]] bị gỡ bỏ sau màn trình diễn gây tranh cãi. Bức tượng này xây dựng vào một năm trước để vinh danh bà.<ref>{{citechú thích web|url=http://www.ew.com/ew/article/0,,597274,00.html|title=Disney World removes Janet Jackson-inspired statue|work=Entertainment Weekly|author=Susman, Gary|date=March 3, 2004|accessdate=January 4, 2014}}</ref>
 
Album phòng thu thứ tám ''[[Damita Jo (album)|Damita Jo]]'', được đặt theo tên lót của Jackson, phát hành vào tháng 3 năm 2004. Album mở đầu tại vị trí thứ hai trên ''Billboard'' 200<ref name="Billboard Album peaks" /><ref>{{Citechú thích web | title = Usher Holds Off Janet Atop Billboard 200 |work=Billboard | url = http://www.billboard.com/biz/articles/news/1440367/usher-holds-off-janet-atop-billboard-200 | accessdate = October 21, 2009|date=7 tháng 4 năm 2004}}</ref> trong nhiều đánh giá từ trái chiều tới tích cực, khen ngợi những bài hát có cải biên hiện đại và phối giọng của Jackson, dù gặp một vài chỉ trích tới chủ đề gợi dục.<ref>{{citechú thích web |url=http://www.slantmagazine.com/music/review/janet-jackson-damita-jo/419 |title=Janet Jackson: Damita Jo |publisher=[[Slant Magazine]] |date=2004-03-23 |accessdate=2010-05-26|author=Cinquemani, Sal}}</ref><ref>{{citechú thích web|author=Powers, Ann|url=http://www.blender.com/guide/new/52153/damita-jo.html |title=Janet Jackson – Damita Jo |work=[[Blender (magazine)|Blender]] |accessdate=2010-05-26 |deadurl=yes |archiveurl=https://web.archive.org/web/20101227232332/http://www.blender.com/guide/new/52153/damita-jo.html |archivedate=December 27, 2010|date=30 tháng 3 năm 2004}}</ref><ref>{{citechú thích web |url=http://usatoday30.usatoday.com/life/music/reviews/2004-03-29-janet-jackson_x.htm|title='Damita Jo' exudes confidence|work=USA Today|author=Jones, Steve|date=2004-03-30|accessdate=2014-04-01}}</ref> Dù vậy, nhiều đánh giá lại tập trung vào sự cố tại Super Bowl hơn là về album này.<ref name=laweekly>{{citechú thích web|url=http://www.laweekly.com/2004-05-06/music/fear-of-a-black-titty/|title=Fear of a Black Titty|author=Hardy, Ernest|work=L.A. Weekly|date=May 6, 2004|accessdate=April 11, 2014}}</ref> Tại Hoa Kỳ, album đạt chứng nhận Bạch kim trong chưa đầy một tháng.<ref name="cert" />
 
Diễn biến thương mại của album vấp phải ảnh hưởng lớn từ sự phản đối của công chúng, bị cấm tại nhiều trạm phát thanh và kênh âm nhạc. Các tập đoàn tham gia tẩy chay Jackson bao gồm [[Viacom]] và CBS, các công ty con MTV, [[Clear Channel Communications]] và [[Infinity Broadcasting]].<ref name=kreps>{{citechú thích news |url=http://www.rollingstone.com/culture/news/nipple-ripples-10-years-of-fallout-from-janet-jacksons-halftime-show-20140130|title=Nipple Ripples: 10 Years of Fallout From Janet Jackson's Halftime Show|work=Rolling Stone |author=Kreps, Daniel|accessdate=January 30, 2014|date=January 30, 2014}}</ref><ref>{{Citechú thích web| title = Blackballed – Panache Report | publisher=Panach Report | year = 2004 | url = http://panachereport.com/channels/old_school_update/Blackballed.htm | accessdate = June 18, 2013}}</ref> Sự phản đối này ảnh hưởng tới việc phát hành ''Damita Jo'' và kéo dài tới hai album tiếp theo của Jackson. Một nhà điều hành cấp cao của tập đoàn giải trí [[Viacom]], nơi sở hữu MTV, VH1 và nhiều định dạng truyền thanh khác, chia sẻ họ "hoàn toàn ngó lơ đĩa nhạc này. Áp lực lớn tới mức họ không thể đồng thuận với bất kỳ điều gì liên quan tới Janet. Giới cấp cao vẫn tức giận cô ta và đây là một biện pháp trừng phạt."<ref name="blender">{{citechú thích book |last=Tannenbaum |first=Robert |year=2004 |title=America's Most Wanted | publisher = [[Blender Magazine]]| page=128}}</ref> Trước vụ bê bối, doanh số của ''Damita Jo'' được trông đợi vượt trội hơn ''All for You''.<ref name="southcoasttoday.com">{{citechú thích news |url=http://www.southcoasttoday.com/apps/pbcs.dll/article?AID=/20040329/LIFE/303299955 |title=Awaiting 'Damita Jo': SouthCoastToday.com |work=South Coast Today |accessdate=October 15, 2013 |date=March 29, 2004}}</ref> 3 đĩa đơn trích từ album này—"[[Just a Little While]]", "[[I Want You (bài hát của Janet Jackson)|I Want You]]", "[[All Nite (Don't Stop)]]"–nhận nhiều đánh giá tích cực, nhưng không thể giữ thứ hạng cao, dù được cho là có diễn biến khá tốt dưới tình cảnh khó khăn lúc bấy giờ.<ref name="Newsday">{{citechú thích web|url=http://www.newsday.com/entertainment/music/ |title=A "Sexploration": Janet Jackson's "Damita Jo" album gets lost in the lust |date=March 29, 2004 |accessdate=February 7, 2014 |deadurl=yes |archiveurl=https://web.archive.org/web/20140122060228/http://www.newsday.com/entertainment/music |archivedate=January 22, 2014 }}</ref> ''Billboard'' báo cáo ''Damita Jo'' "bị lu mờ phần lớn bởi tàn dư của Super Bowl", với 3 đĩa đơn—"là những điểm sáng của album này"–bị ngăn chặn trên đài phát thanh pop.<ref name="Together Again">{{Citechú thích web| last = Hope | first = Clover | title = Together Again: Janet Jackson |work=Billboard | date = February 4, 2008 | url = http://www.billboard.com/articles/news/1046632/together-again-janet-jackson | accessdate = March 23, 2008}}</ref> "I Want You" đạt chứng nhận Bạch kim tại Mỹ<ref name="cert"/> và giành đề cử cho giải Grammy.<ref>{{citechú thích web|url=http://www.mtv.com/news/topics/g/grammy/2005/nominees/|title=2005 Grammy Winners|accessdate=May 23, 2014|publisher=[[MTV]]. Viacom}}</ref>
 
Để quảng bá, Jackson làm chủ trì trên ''[[Saturday Night Live]]'', trình diễn hai bài hát và làm khách mời trong phim hài kịch tình huống ''[[Will & Grace]]''.<ref>{{Citechú thích web|last1=Hay |first1=Carla | title=The Billboard Backbeat | newspaper=Billboard |volume=116 |issue=35 | pages=60–61 | date=August 28, 2004}}</ref> Jackson nhận "Giải thưởng Huyền thoại" tại [[Radio Music Awards]], "Giải thưởng Cảm hứng" từ [[MTV Japan Video Music Awards|Giải Video âm nhạc Nhật Bản]], "Giải thưởng Thành tựu trọn đời" tại [[Soul Train Music Awards]] và đề cử giải [[Teen Choice Awards]] cho "Nữ nghệ sĩ yêu thích nhất." Tháng 11 năm 2004, [[100 Black Men of America]], Inc. bình chọn Jackson là hình mẫu đại diện cho giải "Thành tựu nghệ thuật" của tổ chức này, ca ngợi "sự nghiệp thành công vĩ đại" của bà.<ref>{{Citechú thích web| title=New York Chapter Of 100 Black Men Honors Janet Jackson, Hank Aaron, Johnnetta Cole, Willie Gary | newspaper=Jet |volume=106 |issue=23 | page=28 | date=December 6, 2004|issn=0021-5996}}</ref> Trước những chỉ trích vì vinh danh Jackson sau vụ bê bối, tổ chức này đáp trả "giá trị của một cá nhân không thể bị đánh giá chỉ vì một khoảnh khắc trong đời."<ref>{{Citechú thích web |last1=Browne |first1= J. Zamgba | title=Janet Jackson stirs up controversy at annual gala of 100 Black Men | newspaper=[[New York Amsterdam News]] |volume=95 |issue=47 | page=8 | date=November 18, 2004|issn=0028-7121}}</ref><ref>{{Citechú thích web|last1= Berry |first1= Steve | title=Janet Jackson stirs up controversy at annual gala of 100 Black Men | newspaper=[[The Columbus Dispatch]] |volume=95 |issue=47 | page=12.D| date=November 11, 2004|issn=1074-097X}}</ref> Tháng 6 năm 2005, bà được [[Human Rights Campaign]] và [[AIDS Project Los Angeles]] trao "Giải thưởng Nhân đạo" để công nhận những đóng góp của bà cho các quỹ từ thiện AIDS.<ref>{{Citechú thích web| title = Janet Jackson Receives HRC Award – Towleroad | publisher=Towleroad.com | date = June 20, 2005 | url = http://www.towleroad.com/2005/06/janet_jackson_r.html |accessdate = September 9, 2010}}</ref>
 
=== 2006–07: ''20 Y.O.'' và ''Why Did I Get Married?'' ===
[[FileTập tin:Matthew Zeghibe Janet Jackson Teresa Scionti.jpg|thumb|left|Jackson cùng thí sinh chiến thắng cuộc thi "Design Me" cho album phòng thu thứ chín, ''[[20 Y.O.]]'']]
 
Jackson bắt đầu thu âm album phòng thu thứ chín, ''[[20 Y.O.]]'' vào năm 2005. Bà thu âm với nhà sản xuất Dupri, Jam và Lewis trong nhiều tháng vào năm 2006. Tựa đề album ám chỉ tới hai thập kỷ từ lúc phát hành album ''Control'', như là "sự kỷ niệm giải phóng hân hoan và phong cách âm nhạc làm nên lịch sử."<ref name="Janet's Juggernaut">{{Citechú thích web |url = http://www.billboard.com/articles/news/57333/janets-juggernaut |title = Janet's Juggernaut |last = Coveney | first = Janine| newspaper=Billboard |date = September 5, 2006 |accessdate=September 13, 2010}}</ref> Để quảng bá, Jackson xuất hiện trên nhiều tờ tạp chí và trình diễn trên chương trình ''[[Today (chương trình truyền hình Mỹ)|Today Show]]'' và giải thưởng Âm nhạc ''Billboard''. Trên bìa tạp chí ''[[Us Weekly]]'', Jackson để lộ hình thể săn chắc sau một thời gian bị giới truyền thông tập trung vào cân nặng, trở thành số bán chạy nhất của tạp chí này.<ref>{{citechú thích web|last=Kelly |first=Keith| title = MLad Mag's Coverup – Fhm Wraps Racy Glossy After Hudson News Complaint| newspaper=New York Post | date=June 23, 2006 | page = 36|quote=Ấn bản của Janet Jackson bán chạy nhất trong lịch sử ''Us Weekly'', với kỷ lục 1.4 triệu bản bán ra trong tuần lễ ngày 26 tháng 5. }}</ref> ''20 Y.O.'' phát hành vào tháng 9 năm 2006, đạt hạng hai trên ''Billboard''&nbsp; 200.<ref name="Billboard Album peaks" /> Album nhận nhiều phản hồi trái chiều, với nhiều lời chỉ trích phần sản xuất và sự góp mặt của Jermaine Dupri.<ref name="Serpick" /> ''Rolling Stone'' không đồng tình với sự liên kết tới ''Control'', chia sẻ rằng "Nếu là cô ấy, chúng tôi sẽ không so sánh như thế."<ref name="Serpick">{{Citechú thích web |last=Serpick |first=Evan |title=Janet Jackson: 20 Y.O.: Music Reviews: Rolling Stone |date=October 3, 2006 |url=http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/11571388/review/11942285/20_yo |accessdate=July 19, 2010 |archiveurl=https://web.archive.org/web/20080503060722/http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/11571388/review/11942285/20_yo |archivedate=May 3, 2008}}</ref>
 
Jackson vẫn tiếp tục bị tẩy chay trên sóng phát thanh và kênh âm nhạc, gây ảnh hưởng lớn tới thứ hạng và độ lan truyền của bà.<ref name="kreps" /><ref>{{Citechú thích web| title = Janet Blacklist? - TMZ.com | publisher=TMZ | date = July 28, 2006 | url = http://www.tmz.com/2006/07/28/janet-blacklist/ | accessdate = June 18, 2013}}</ref> Đĩa đơn đầu tiên, "[[Call on Me (bài hát của Janet Jackson)|Call on Me]]" có sự góp giọng của rapper [[Nelly]], đạt hạng 25 trên Hot 100,<ref name="US-singles"/> hạng nhất trên [[Hot R&B/Hip-Hop Songs]]<ref name="US-R&B-singles"/> và hạng 6 tại Vương quốc Liên hiệp Anh.<ref name="UK-charts">{{citechú thích web | url=http://www.officialcharts.com/artist/42628/janet%20jackson/ | title=Janet Jackson | publisher=[[Official Charts Company]] | accessdate=June 20, 2016 | format=chọn "Albums" hoặc "Singles"}}</ref> Video cho đĩa đơn thứ hai, "[[So ExcitedExchú thíchd]]" do [[Joseph Kahn]] đạo diễn, cho thấy Jackson khỏa thân trong nhiều vũ đạo phức tạp.<ref>{{citechú thích news|last=Slezak|first=Michael|url=http://popwatch.ew.com/2006/09/18/snap_judgment_j_1/|title=Snap judgment: Janet's "So ExcitedExchú thíchd" video|date=September 18, 2006|accessdate=August 16, 2014|work=[[Entertainment Weekly]]|publisher=[[Time Inc.]]}}</ref> ''20 Y.O.'' giành chứng nhận Bạch kim tại Mỹ và bán 1.2 triệu bản trên thế giới, nhận một đề cử giải Grammy cho "Album R&B đương đại xuất sắc nhất".<ref name="cert" /><ref>{{citechú thích web |url=http://www.billboard.com/articles/news/1046834/ask-billboard |title=Ask Billboard |work=Billboard|accessdate=July 14, 2010|author= Caulfield, Keith|date=11 tháng 1 năm 2008}}</ref><ref>{{Citechú thích web|url=https://books.google.com/?id=PNMDAAAAMBAJ&pg=PA74&dq=Janet+Jackson,+Discipline,+worldwide+million&cd=1#v=onepage&q=Janet%20Jackson%2C%20Discipline%2C%20worldwide%20million&f=false |title=Don't Call it a Comeback: 'I'm not ready to retire!'|author=Norment, Lynn|work=Ebony|publisher=Johnson Publishing Company|edition=63|accessdate=June 5, 2010 |date=April 2008}}</ref> Sau khi phát hành album, Dupri bị chê trách bởi khâu sản xuất và chỉ dẫn sai lệch, sau đó bị yêu cầu phải rời khỏi hãng Virgin Records.<ref>{{Citechú thích web|last1=Mitchell |first1=Gail |last2=Garrity |first2=Brian| title=Dupri Exit Fuels Rumors | newspaper=Billboard |volume=118 |issue=44 | page=10 | date=November 4, 2006|issn=0006-2510}}</ref> ''[[Slant Magazine]]'' gọi sản phẩm này là "một sai lầm lớn mà Dupri phải trả giá bằng công việc của mình và có thể là hợp đồng của Janet với Virgin."<ref>{{citechú thích news |url=http://www.slantmagazine.com/house/2006/11/postkatrina-musicand-an-american-idol-dropout|title=Post-Katrina Music...and an American Idol Dropout – Slant Magazine|work=Slant Magazine|author=Cinquemani, Sal|accessdate=December 4, 2014 |date=September 11, 2006}}</ref>
 
''Forbes'' xếp Jackson là người phụ nữ giàu có thứ 7 trong ngành công nghiệp giải trí, với tổng tài sản hơn 150 triệu đô-la Mỹ.<ref>{{Citechú thích web| last = Goldman | first = Lea | author2 = Kiri Blakeley | title = The 20 Richest Women In Entertainment |work=Forbes | date = January 18, 2007 | url = http://www.forbes.com/2007/01/17/richest-women-entertainment-tech-media-cz_lg_richwomen07_0118womenstars_lander.html | accessdate = September 3, 2008}}</ref> Năm 2007, bà đóng cặp với [[Tyler Perry]] trong bộ phim ''[[Why Did I Get Married?]]''. Phim mở màn tại vị trí số 1 ở các phòng vé, thu về 60 triệu đô-la Mỹ.<ref>{{Citechú thích web| last = Ryan | first = Joal | title = Just Call It Tyler Perry's Box Office |work=[[E! News]] | date = October 15, 2007| url = http://uk.eonline.com/uberblog/b56440_Just_Call_It_Tyler_Perrys_Box_Office.html | accessdate = September 17, 2010 }}</ref> Diễn xuất của Jackson được mô tả "oai hùng một cách nhẹ nhàng" và "quyến rũ nhưng nhạt nhòa".<ref>{{Citechú thích web| last = Scheib| first = Ronnie | title = Tyler Perry's Why Did I Get Married? | newspaper=Variety | date = October 2007| page=32|volume=408|issue=10|issn=0042-2738}}</ref><ref>{{Citechú thích web| last = Morris | first = Wesley | title = 'Married' is involving, if not blissful |work=The Boston Globe | date = October 13, 2007| url = http://www.boston.com/movies/display?display=movie&id=10489 | accessdate = July 29, 2008}}</ref> Tháng 2 năm 2008, Jackson thắng [[giải Image]] cho "Nữ diễn viên phụ nổi bật" với vai diễn này.<ref>{{Citechú thích web|last1= Christian |first1=Margena A | title=NAACP Honors Showbiz Veterans, Newcomers At Image Awards | newspaper=[[Jet (magazine)|Jet]] |volume=113 |issue=8 | page=52 | date=March 3, 2008}}</ref> Jackson cũng thu âm đĩa đơn đầu tiên cho bộ phim ''[[Rush Hour 3]]''.<ref>{{citechú thích web|url=http://www.mtv.com/news/articles/1559084/jermaine-dupri-janet-will-switch-labels.jhtml|title=Jermaine Dupri Says Janet Will Switch Labels, Be On 'Rush Hour 3' LP|work=MTV News|author=Reid, Shaheem|date=May 9, 2007|accessdate=February 14, 2014}}</ref>
 
===2008–09: ''Discipline'' và ''Number Ones''===
[[FileTập tin:Janet Jackson 4.jpg|180px|thumb|Jackson trình diễn trong [[Rock Witchu Tour]]]]
Jackson ký hợp đồng với [[Island Records]] sau khi hoàn thành nghĩa vụ với hãng Virgin. Bà hoãn kế hoạch lưu diễn và bắt đầu hợp tác với nhiều nhà sản xuất, bao gồm [[Rodney "Darkchild" Jerkins]], [[Tricky Stewart]] và [[Stargate (nhóm sản xuất)|Stargate]].<ref>{{Citechú thích web | title = Janet Jackson Sets Sights On Fall Tour, Book – Billboard | publisher= Billboard | date = July 3, 2008 |author=Graff, Gary| url = http://www.billboard.com/articles/news/1046327/janet-jackson-sets-sights-on-fall-tour-book | accessdate = February 7, 2014}}</ref> Album phòng thu thứ 10, ''[[Discipline (album của Janet Jackson)|Discipline]]'' phát hành vào tháng 2 năm 2008, mở đầu tại ngôi quán quân.<ref name="Billboard Album peaks" /> Dù bị hạn chế trên sóng phát thanh, đĩa đơn đầu tiên "[[Feedback (bài hát)|Feedback]]" đạt hạng 19 trên Hot&nbsp; 100 và hạng 9 trên [[Pop Songs]], lần xếp hạng cao nhất của bà kể từ "[[Someone to Call My Lover]]".<ref name="US-singles"/><ref name="pop-singles">{{citechú thích web | url={{BillboardURLbyName|artist=Janet Jackson|chart=Pop Songs}} | title=Janet Jackson – Chart History: Pop Songs | work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]| accessdate=April 8, 2012}}</ref> Jackson thắng "Giải Vanguard" tại lễ trao giải GLAAD Media, vinh danh những đóng góp của bà trong việc quảng bá quyền bình đẳng trong cộng đồng người đồng tính.<ref name=gladd /> Chuyến lưu diễn thứ năm của Jackson, [[Rock Witchu Tour]], khởi động vào tháng 9 năm 2008.<ref>{{Citechú thích web | last = Harrington | first = Jim | title = Review: The hits kept coming at Janet Jackson's Oakland show | newspaper=[[Oakland Tribune]] | date = September 14, 2008| issn = 1068-5936}}</ref> Jackson rời khỏi Island Records qua thỏa thuận hai bên. ''Billboard'' tiết lộ rằng Jackson không hài lòng với khả năng quản lý và quảng bá album của [[LA Reid]], "hãng đồng ý chấm dứt hợp đồng theo ý nguyện của ca sĩ."<ref name="Concepcion">{{Citechú thích web|first=Mariel |last=Concepcion |url=http://www.billboard.com/articles/news/1044010/janet-jackson-parts-ways-with-island-def-jam |title=Janet Jackson Parts Ways With Island Def Jam |work=Billboard |accessdate=September 22, 2008|date=22 tháng 9 năm 2008}}</ref><ref>{{citechú thích web |url=http://new.music.yahoo.com/blogs/chart_watch/51507/week-ending-april-11-2010-bieber-bounces-back/ |title=Week Ending April 11, 2010: Bieber Bounces Back |work=Yahoo|author=Grein, Paul |date= April 14, 2010 |accessdate=May 16, 2010|archiveurl=https://web.archive.org/web/20100418040414/http://new.music.yahoo.com/blogs/chart_watch/51507/week-ending-april-11-2010-bieber-bounces-back|archivedate=18 tháng 4 năm 2010}}</ref><ref>{{Citechú thích web|title=Janet Jackson splits with record label|url=http://www.nme.com/news/janet-jackson/39889|newspaper=[[NME]]|date=September 20, 2008|accessdate=October 8, 2009}}</ref>
 
Tháng 6 năm 2009, người anh trai Michael qua đời ở tuổi 50. Bà phát biểu về vụ việc tại [[giải BET]] 2009, khẳng định "Michael đối với các bạn là một biểu tượng, đối với chúng tôi anh ấy còn là người nhà. Và anh ấy sẽ luôn sống trong tim chúng ta. Đại diện cho gia đình, xin cảm ơn tình cảm và sự ủng hộ của mọi người. Chúng tôi nhớ anh ấy rất nhiều."<ref>{{Citechú thích web|last=Carter|first=Kelley|title=An emotional Janet Jackson thanks fans at BET Awards|newspaper=USA Today|url=http://www.usatoday.com/life/people/2009-06-29-bet-awards-jackson_N.htm?csp=34|date=June 28, 2009|accessdate=June 28, 2009}}</ref> Trong một bài phỏng vấn, bà tiết lộ mình biết tin dữ lúc ghi hình ''[[Why Did I Get Married Too?]]''. Giữa lúc đau buồn với gia đình, bà lại tập trung làm việc và tránh mọi tin tức về cái chết của anh trai. Bà chia sẻ "đối mặt với sự thật vẫn là điều quan trọng, tôi không trốn tránh, nhưng đôi lúc ta cần phải dừng lại một phút."<ref name="HB">{{Citechú thích web|last=Brown|first=Laura|title=Janet Jackson Takes Control|newspaper=[[Harper's Bazaar]]|page=244|date=October 2009|issn=0017-7873}}</ref> Trong thời gian này, bà kết thúc mối tình 7 năm với Jermaine Dupri.<ref name="HB" /> Vài tháng sau, Jackson trình diễn "Scream" để tưởng nhớ Michael tại [[giải Video âm nhạc của MTV năm 2009]].<ref>{{Citechú thích web|url=http://www.mtv.com/news/articles/1621392/20090913/madonna.jhtml|title=VMAs Kick Off with Madonna and Janet's Tribute to Michael Jackson|last=Kaufman|first=Gil|date=September 13, 2009|work=MTV News|accessdate=September 14, 2009}}</ref> MTV khẳng định "không ai khác ngoài Janet có thể cất giọng và gửi một thông điệp mạnh mẽ."<ref name="SF">{{Citechú thích web|last=Kinon|first=Cristina|title=Janet Jackson to do dance tribute for Michael to kick off VMAs|newspaper=Daily News|url=http://www.nydailynews.com/entertainment/tv/2009/09/11/2009-09-11_janet_jackson_to_do_dance_tribute_for_michael_to_kick_off_vmas.html|date=September 11, 2009|accessdate=September 19, 2009|location=New York}}</ref> Màn trình diễn được giới phê bình khen ngợi; ''[[Entertainment Weekly]]'' gọi liên khúc này "đầy năng lượng mà cũng thật cảm động".<ref>{{Citechú thích web|last=Slezak|first=Michael|title=Janet Jackson single-handedly saves MTV VMA tribute to Michael Jackson|url=http://music-mix.ew.com/2009/09/14/janet-jackson-michael-jackson-vmas-2009|date=September 13, 2009|newspaper=Entertainment Weekly|accessdate=September 16, 2009}}</ref>
 
Album tuyển tập thứ hai của Jackson, ''[[Number Ones (album của Janet Jackson)|Number Ones]]'' (mang tựa đề ''The Best'' trong nhiều phát hành quốc tế), phát hành tháng 11 năm 2009. Để quảng bá, bà trình bày một loạt bài hát tại [[giải thưởng Âm nhạc Mỹ]], [[Jingle Bell Ball]] ở [[The O2 Arena|sân vận động O2]] và ''[[The X-Factor]]''.<ref>{{Citechú thích web|last=Kaufman|first=Gil|title=Janet Jackson Kicks Off American Music Awards With Energetic Medley/Singer performed her new single, 'Make Me.'|url=http://www.mtv.com/news/articles/1626828/20091122/jackson_janet.jhtml|publisher=MTV|date=November 22, 2009|accessdate=November 22, 2009}}</ref><ref>{{Citechú thích web|title=Janet Jackson – Capital FM|url=http://www.capitalfm.com/jingle-bell-ball/2009/sunday/janet-jackson/|publisher=[[95.8 Capital FM]]|date=October 20, 2009|accessdate=October 20, 2009}}</ref> Đĩa đơn quảng bá của album, "[[Make Me (bài hát của Janet Jackson)|Make Me]]", do Rodney "Darkchild" Jerkins sản xuất, ra mắt hồi tháng 9.<ref>{{Citechú thích web|last=Kaufman|first=Gil|title=Janet Jackson Releases New Single Following VMA Performance |url=http://www.mtv.com/news/articles/1621430/20090914/jackson_janet.jhtml|publisher=MTV|date=September 14, 2009|accessdate=September 14, 2009}}</ref> Đây là đĩa đơn quán quân thứ 19 của Jackson trên [[Hot Dance Club Songs]], giúp bà trở thành nghệ sĩ đầu tiên có đĩa đơn quán quân trong 4 thập kỷ khác nhau.<ref>{{citechú thích news|url=http://www.billboard.com/#/column/chartbeat/chart-highlights-country-dance-club-play-1004054789.story|archiveurl=https://web.archive.org/web/20091223105939/http://www.billboard.com/column/chartbeat/chart-highlights-country-dance-club-play-1004054789.story#/web/20091223105939/http://www.billboard.com/column/chartbeat/chart-highlights-country-dance-club-play-1004054789.story|archivedate=23 tháng 12 năm 2009|title=Chart Highlights: Adult Contemporary, Pop, Jazz & More|date=December 21, 2009|work=Billboard|accessdate=December 21, 2009}}</ref> Cuối tháng đó, Jackson chủ trì chương trình [[amfAR, The Foundation for AIDS Research]], diễn ra tại [[Milan]], kết hợp với tuần lễ thời trang.<ref>{{Citechú thích web|title=Janet Jackson to Chair amfAR's Inaugural Milan Fashion Week Event|publisher=amfAR|url=http://www.amfar.org/spotlight/article.aspx?id=7847&terms=janet+jackson|date=August 24, 2009|accessdate=September 28, 2009}}</ref> Sự kiện quyên góp tổng cộng 1.1 triệu đô-la Mỹ cho tổ chức không lợi nhuận.
 
===2010–14: Dự án điện ảnh, ''True You'', lưu diễn và hoạt động nhân đạo===
Tháng 4 năm 2010, Jackson trở lại trong phần tiếp theo của ''Why Did I Get Married?'', mang tên ''[[Why Did I Get Married Too?]]''. Bộ phim mở màn ở vị trí thứ hai tại phòng vé, thu về tổng cộng 60 triệu đô-la Mỹ.<ref>{{citechú thích web|last=Flint|first=Joe|url=http://www.latimes.com/entertainment/news/la-et-box-officeside5-2010apr05,0,7889804.story|title=Tyler Perry's impressive weekend|newspaper=Los Angeles Times|date=April 5, 2010|accessdate=April 6, 2010}}</ref> Diễn xuất của Jackson được miêu tả "hăng hái và hài hước một cách kỳ lạ".<ref>{{citechú thích web|last=Hale|first=Mike|title=Tyler Perry's Why Did I Get Married Too? (2010): At Couples' Reunion, Laughs, Then Grief|url=http://movies.nytimes.com/2010/04/03/movies/03tyler.html|newspaper=The New York Times|date=April 7, 2010|accessdate=April 7, 2010}}</ref><ref>{{citechú thích web|last=Cooper|first=Jackie|title=''"Tyler Perry's Why Did I Get Married Too?": Why Did He Make a Two?''|url=http://www.huffingtonpost.com/jackie-k-cooper/tyler-perrys-why-did-i-ge_b_525126.html|date=April 5, 2010|accessdate=April 6, 2010|publisher=The Huffington Post}}</ref> Jackson nhận [[giải Image]] cho "Nữ diễn viên nổi bật" nhờ vai diễn này.<ref>{{citechú thích web|url=http://www.naacpimageawards.net/42/nominees-and-honorees/motion-picture/|title=The 42nd NAACP Image Awards – Motion Picture|publisher=[[NAACP Image Awards]]|date=2011-01-12|accessdate=January 12, 2011}}</ref> Jackson thu âm bài hát chủ đề của bộ phim, "[[Nothing (bài hát của Janet Jackson)|Nothing]]" và phat hành làm đĩa đơn quảng bá.<ref>{{citechú thích web|author=Rodriguez, Jayson |date=February 18, 2010|url=http://www.mtv.com/news/articles/1632205/20100218/dupri_jermaine.jhtml|title=Jermaine Dupri Says New Janet Jackson Song Is 'A Good Record'|publisher=MTV|accessdate=2010-04-07}}</ref> Bài hát xuất hiện trong đêm chung kết mùa 9 ''[[American Idol]]'' cùng với "Again" và "Nasty".<ref>{{citechú thích web|last=Downey|first=Ryan J.|date=May 27, 2010|title='American Idol' Finale Ratings the Lowest Since Season One|url=http://www.mtv.com/news/articles/1640212/20100527/story.jhtml|publisher=MTV News|accessdate=May 27, 2010}}</ref> Tháng 7, Jackson tạo mẫu cho dòng thời trang [[Blackglama]], bao gồm chất liệu lông chồn.<ref name="fur">{{citechú thích web|author=Ella Ngo|title=Poll: Are You Fur or Against Janet Jackson's New Ad|url=http://www.eonline.com/uberblog/b192769_poll_are_you_fur_against_janet_jacksons.html#ixzz0v8eHIF1S|publisher=[[E! Online|E!]]|date=July 29, 2010|accessdate=July 29, 2010}}</ref> Jackson sau đó giúp đỡ thiết kế dòng thời trang và phụ iện cho Blackglama, chào bán tại [[Saks Fifth Avenue]] và [[Bloomingdales]].<ref>{{citechú thích web |url=http://fashionetc.com/news/celebrity/3848-janet-jackson-blackglama-collection |title=Janet Jackson's Blackglama Collection |last=Donnelly |first=Erin |date=November 21, 2011 |work=Fashion Etc |accessdate=May 7, 2014}}</ref> Universal Music ra mắt album tuyển tập ''[[Icon: Number Ones]]'', như là phần đầu tiên trong loạt album tổng hợp ''[[Icon (loạt album)|Icon]]''.
 
[[FileTập tin:Numberonestour.jpg|thumb|left|Jackson trình diễn trong [[Number Ones, Up Close and Personal]]]]
Tháng 11 năm 2010, Jackson vào vai Joanna trong phim chính kịch ''[[For Colored Girls]]'', chuyển thể từ vở kịch năm 1975 của [[Ntozake Shange]], ''[[For Colored Girls Who Have Considered Suicide When the Rainbow Is Enuf]]''.<ref>{{citechú thích web|author=Christopher John Farley|title=Janet Jackson Tackles Poetry in 'For Colored Girls'|url=http://blogs.wsj.com/speakeasy/2010/11/02/janet-jackson-tackles-poetry-in-for-colored-girls|newspaper=[[The Wall Street Journal]]|date=November 2, 2010|accessdate=November 2, 2010}}</ref> Vai diễn của Jackson được so sánh với [[Meryl Streep]] vai [[Miranda Priestly]] trong ''[[The Devil Wears Prada (phim)|The Devil Wears Prada]]''.<ref name="Dargis">{{citechú thích web|author=Manohla Dargis|title=A Powerful Chorus Harmonizing 'Dark Phrases of Womanhood'|url=http://movies.nytimes.com/2010/11/05/movies/05for.html|newspaper=[[The New York Times]]|date=November 4, 2010|accessdate=November 4, 2010}}</ref><ref>{{citechú thích web|author=Randy Myers|title=Review: Cast elevates 'For Colored Girls' from soap opera territory|url=http://www.mercurynews.com/movies-dvd/ci_16493615|newspaper=[[San Jose Mercury News]]|date=November 4, 2010|accessdate=November 4, 2010}}</ref> Vai diễn giúp bà giành đề cử cho "Nữ diễn viên phụ nổi bật" và "Dàn diễn viên nổi bật" của giải Black Reel.<ref>{{citechú thích web|title=2011 Black Reel Awards Nominations |url=http://blackreelawards.wordpress.com/2010/12/15/2011-black-reel-awards-nominations/ |publisher=[[Black Reel Awards]] |date=December 15, 2010 |accessdate=December 17, 2010 |deadurl=yes |archiveurl=https://web.archive.org/web/20101221000645/http://blackreelawards.wordpress.com/2010/12/15/2011-black-reel-awards-nominations/ |archivedate=December 21, 2010 }}</ref>
 
Jackson thông báo về chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới lớn nhất, [[Number Ones, Up Close and Personal]] để quảng bá album tuyển tập ''Number Ones''.<ref name="2011 tour">{{citechú thích web|url=http://www.theboombox.com/2010/11/19/janet-jackson-announces-2011-plans/ |title=Janet Jackson Announces 2011 Plans, Asks Fans for Questions |publisher=[[AOL]] |work=The Boombox |date=November 19, 2010 |accessdate=November 19, 2010}}</ref> Chương trình diễn ra tại 35 thành phố trên thế giới, do người hâm mộ đệ trình trên trang mạng chính thức của bà.<ref name="2011 tour" /><ref name="2011 tour" /> Bà trình diễn 35 bài hát ăn khách của mình và tri ân mỗi bài hát cho các thành phố đi qua.<ref name="2011 tour" /> [[Mattel]] ra mắt một phiên bản [[Barbie]] có giới hạn của Jackson, mang tên "Divinely Janet", được bán đấu giá hơn 15.000 đô-la Mỹ và quyên góp lợi nhuận tới [[Project Angel Food]].<ref>{{citechú thích web|author=Amber Katz|title=This Janet Jackson Barbie Doll Is All We Want For Christmas!|url=http://buzzworthy.mtv.com/2010/12/10/janet-jackson-barbie-doll/|publisher=MTV|date=December 10, 2010|accessdate=April 8, 2011}}</ref> Jackson phát hành quyển sách ''[[True You: A Journey to Finding and Loving Yourself]]'' vào tháng 2 năm 2011, cùng với sự hỗ trợ của David Ritz. Cuốn sách thuật lại những khó khăn về cân nặng và sự tự tin mà bà trải qua, cũng như xuất bản những lá thư tới người hâm mộ. Tác phẩm này dẫn đầu [[The New York Times Best Seller list|danh sách bán chạy nhất của ''New York Times'']] một tháng sau đó.<ref>{{citechú thích web|title=Best Sellers – The New York Times|url=http://www.nytimes.com/best-sellers-books/2011-03-06/hardcover-advice/list.html|work=The New York Times|date=February 28, 2011|accessdate=February 28, 2011|first=Jennifer|last=Schuessler}}</ref> Ngoài ra, bà ký một hợp đồng sản xuất phim với [[Lions Gate Entertainment]] để "lựa chọn, phát triển và sản xuất phim cho một xưởng phim độc lập."<ref name="PM">{{citechú thích web|author=Pamela McClintock|title=Janet Jackson Signs Film Production Deal with Lionsgate (Exclusive)|url=http://www.hollywoodreporter.com/news/janet-jackson-signs-film-production-167872|newspaper=[[The Hollywood Reporter]]|date=March 15, 2011|accessdate=March 17, 2011}}</ref>
 
Jackson trở thành nữ ca sĩ pop đầu tiên trình diễn tại kim tự tháp của [[I. M. Pei]], thuộc [[Bảo tàng Louvre]] để nâng cao những đóng góp bảo tồn hội họa.<ref>{{citechú thích web|title=Janet Jackson to Perform at Paris' Louvre Museum|url=http://www.hollywoodreporter.com/news/janet-jackson-perform-at-paris-175694|newspaper=The Hollywood Reporter|date=April 6, 2011|accessdate=April 8, 2011}}</ref><ref>{{citechú thích web|author=Sonya E|title=Janet Jackson To Make History In Paris|url=http://www.s2smagazine.com/stories/2011/04/janet-jackson-make-history-paris|newspaper=[[Sister 2 Sister]]|date=April 8, 2011|accessdate=April 9, 2011}}</ref> Jackson được ''Blackglama'' chọn hợp tác trở lại trong năm thứ hai,<ref>{{citechú thích web|url=http://www.rttnews.com/Content/EntertainmentNews.aspx?Section=2&Id=1700517&SM=1|title=Janet Jackson Featured In New Blackglama Ad Campaign|publisher=[[RTTNews]]|date=2011-08-25|accessdate=August 26, 2011}}</ref> phát hành bộ sưu tập gồm 15 sản phẩm trang sức.<ref>{{citechú thích web|author=Coleen Nika|title=News Roundup: Lady Gaga's Barney's Workshop, Rihanna's Collection, Janet Jackson's New Line And More|url=http://www.rollingstone.com/music/blogs/thread-count/news-roundup-lady-gagas-barneys-workshop-rihannas-collection-janet-jacksons-new-line-and-more-20111123#ixzz1f5PBzWZB|newspaper=[[Rolling Stone]]|date=November 23, 2011|accessdate=November 29, 2011}}</ref> Năm 2012, Jackson quảng bá cho chương trình giảm cân của [[Nutrisystem]] sau khi gặp khó khăn về cân nặng trong quá khứ.<ref name="nutri">{{citechú thích web|author=Elizabeth Olson|title=Weight Loss, With Divas and Public Service|url=http://www.nytimes.com/2011/12/15/business/media/weight-loss-with-divas-and-public-service-angles.html?_r=1|newspaper=New York Times|date=December 14, 2011|accessdate=January 3, 2012}}</ref> Với chương trình này, bà quyên góp 10 triệu đô-la Mỹ để cung cấp thức ăn cho người nghèo.<ref name="nutri" /> amfAR vinh danh những đóng góp của bà đến quá trinh nghiên cứu AIDS khi chủ trì gala Cinema Against AIDS tại [[Liên hoan phim Cannes]].<ref>{{citechú thích web|author=Michelle Salemi|title=Janet Jackson's AmfAR Advocacy Goes Beyond Galas|url=http://variety.com/2013/music/features/amfar-1200484249/#!1/janet-jackson/|publisher=[[Variety (magazine)|Variety]]|date=May 23, 2013|accessdate=November 12, 2013}}</ref> Bà còn tham gia trong một bài tuyên truyền cộng đồng của [[UNICEF]] để giúp đỡ trẻ em đói nghèo.<ref>{{citechú thích web|title=Janet Jackson Teams Up with UNICEF to Fight Hunger|url=http://www.etonline.com/music/134692_Janet_Jackson_Teams_Up_with_UNICEF_to_Fight_Hunger/|publisher=[[ETonline]]|date=February 25, 2013|accessdate=December 11, 2013}}</ref> Tháng 2 năm 2013, Jackson thông báo kết hôn với người chồng thứ ba, doanh nhân người [[Qatar]] [[Wissam Al Mana]], trong một lễ cưới riêng tư một năm trước.<ref>{{citechú thích news|first=Zach|last= Johnson|title=Janet Jackson Is Married to Wissam Al Mana!|url=http://www.usmagazine.com/celebrity-news/news/janet-jackson-is-married-to-wissam-al-mana-2013252|work=[[Us Weekly]]|date=February 25, 2013|accessdate=February 25, 2013}}</ref>
 
===2015–nay: Rhythm Nation và ''Unbreakable''===
Ngày 16 tháng 5 năm 2015, Jackson thông báo kế hoạch phát hành album và chuyến lưu diễn thế giới mới.<ref>{{citechú thích news|author1=Billboard Staff|title=Janet Jackson Announces New Album, Tour|url=http://www.billboard.com/articles/news/6568528/janet-jackson-announces-new-album-tour|accessdate=May 16, 2015|work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]|agency=[[Prometheus Global Media]]|date=May 16, 2015|archiveurl=http://www.webcitation.org/6YbaBRVEn|archivedate=May 17, 2015|location=United States}}</ref><ref>{{citechú thích news|last1=McLaughlin|first1=Eliott C.|last2=Sutton|first2=Joe|title='From my lips,' Janet Jackson announces new album, world tour|url=http://www.cnn.com/2015/05/17/entertainment/janet-jackson-new-album-tour/|accessdate=May 17, 2015|work=[[CNN]]|agency=[[Turner Broadcasting System]] ([[Time Warner]])|date=May 17, 2015|archiveurl=http://www.webcitation.org/6YbaHb6yq|archivedate=May 17, 2015|location=United States}}</ref> Bà đưa ra dự định ra mắt album mới vào mùa thu năm 2015, dưới hãng thu âm của chính bà, Rhythm Nation, do [[BMG Rights Management]] phân phối.<ref>{{citechú thích news|author= Andrew Hampp|title=Janet Jackson to Release New Album This Fall Via Rhythm Nation/BMG|url=http://www.billboard.com/articles/columns/the-juice/6583268/janet-jackson-new-album-fall-rhythm-nation-bmg|accessdate=June 3, 2015|work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]|agency=[[Prometheus Global Media]]|date=June 3, 2015}}</ref> Jackson trở thành một trong số ít những nữ nhạc sĩ Mỹ-Phi sở hữu một hãng thu âm riêng.<ref>{{citechú thích news|title=Janet Jackson back with new album – and record-breaking new deal with BMG|url=http://www.theguardian.com/music/2015/jun/03/janet-jackson-new-album-record-breaking-deal-bmg-rhythm-nation|publisher=[[The Guardian]]|date=June 3, 2015|accessdate=June 5, 2015}}</ref> Ngày 15 tháng 6 năm 2015, Jackson thông báo chặng Bắc Mỹ của [[Unbreakable World Tour (chuyến lưu diễn của Janet Jackson)|Unbreakable World Tour]].<ref>{{citechú thích news|last1=Hampp|first1=Andrew|title=Janet Jackson Announces Unbreakable World Tour|url=http://www.billboard.com/articles/columns/the-juice/6598120/janet-jackson-announces-unbreakable-world-tour|accessdate=June 15, 2015|work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]|agency=[[Prometheus Global Media]]|date=June 15, 2015|archiveurl=http://www.webcitation.org/6ZJhT1KFP|archivedate=June 15, 2015|location=United States}}</ref> Ngày 22 tháng 6, đĩa đơn "[[No Sleeep]]" được phát hành,<ref>{{citechú thích web|author=Erika Ramirez |url=http://www.billboard.com/articles/columns/the-juice/6605590/janet-jackson-releases-new-song-no-sleep-listen |title=Janet Jackson Releases New Song, 'No Sleep': Listen|publisher=Billboard|date=June 22, 2015 |accessdate=June 22, 2015}}</ref> đạt hạng nhất Billboard + Twitter Trending 140 ngay sau khi ra mắt.<ref>{{Citechú thích web|title = Janet Jackson Leads Trending 140, Pentatonix's Michael Jackson Medley Hits Top Five|url = http://www.billboard.com/articles/chart-beat/real-time-charts/6605670/janet-michael-jackson-pentatonix-trending-140|accessdate = 2015-09-24}}</ref> Phiên bản đơn ca của "No Sleeep" mở màn tại vị trí thứ 67 trên Hot 100, là bài hát thứ 40 của bà trên bảng xếp hạng này;<ref>{{citechú thích news|author=Gary Trust|title=Wiz Khalifa No. 1 on Hot 100 'Again,' Selena Gomez Debuts at No. 9|url=http://www.billboard.com/articles/columns/chart-beat/6613247/wiz-khalifa-no-1-hot-100-selena-gomez-debuts|work=Billboard|date=July 1, 2015|accessdate=July 1, 2015}}</ref> trong khi phiên bản album có sự góp mặt của [[J. Cole]] đạt hạng 63 và vươn đến ngôi quán quân [[Adult R&B Songs]] chart.<ref>{{citechú thích news|author=Gary Trust|title=Hot 100 Chart Moves: Charlie Puth & Meghan Trainor's 'Marvin Gaye' Hits Top 40|url=http://www.billboard.com/articles/columns/chart-beat/6656636/charlie-puth-meghan-trainor-marvin-gaye-hot-100-top-40|work=Billboard|date=2015-08-06|accessdate=2015-08-10}}</ref><ref>{{citechú thích news|author=Amaya Mendizabal|title=Janet Jackson's 'No Sleeep' Becomes Her Longest-Running No. 1 on Adult R&B Songs|url=http://www.billboard.com/articles/columns/chart-beat/6714515/janet-jackson-no-sleeep-longest-running-number-1-hot-rb-songs|work=Billboard|date=September 29, 2015|accessdate=September 30, 2015}}</ref>
 
[[BET]] trao tặng Jackson giải thưởng "Ultimate Icon: Music Dance Visual" tại mùa giải năm 2015, với màn trình diễn tri ân của [[Ciara]], [[Jason Derulo]] và [[Tinashe]].<ref>{{citechú thích news|author=Gerrick D. Kennedy|title=BET to honor Janet Jackson with new 'Icon' award|url=http://www.latimes.com/entertainment/music/posts/la-et-ms-bet-to-honor-janet-jackson-with-icon-award-20150623-story.html|work=[[Los Angeles Times]]|date=June 23, 2015|accessdate=June 26, 2015}}</ref> Bà thông báo về dòng nữ trang mang tên "Janet Jackson Unbreakable Diamonds collection," đánh dấu sự hợp tác giữa bà và Paul Raps New York.<ref>{{citechú thích web|author=Antoinette Bueno |url=http://www.etonline.com/news/167091_janet_jackson_announces_unbreakable_diamond_collection/ |title=EXCLUSIVE: Janet Jackson Announces a Surprising New Venture|publisher=''[[Entertainment Tonight]]''|date=June 30, 2015 |accessdate=July 1, 2015}}</ref> Ngày 20 tháng 8, bà phát hành một đoạn ca khúc "The Great Forever" và xác nhận tựa đề album phòng thu thứ 11, ''[[Unbreakable (album của Janet Jackson)|Unbreakable]]''.<ref>{{citechú thích web|author=Jeremy Gordon|title=Janet Jackson Titles New Album, Previews "The Great Forever"|url=http://pitchfork.com/news/60867-janet-jackson-titles-new-album-previews-the-great-forever/|publisher=[[Pitchfork Media]]|date=2015-08-20|accessdate=2015-08-20}}</ref><ref>{{citechú thích news|author=Joe Lynch|title=Janet Jackson Teases Upbeat New Song 'The Great Forever,' Confirms Album Title|url=http://www.billboard.com/articles/news/6670966/janet-jackson-great-forever-unbreakable-new-album|work=Billboard|date=2015-08-20|accessdate=2015-08-20}}</ref> Jimmy Jam và Terry Lewis tiết lộ chủ đề của album được phát triển cùng lúc với chuyến lưu diễn, với các sáng tác khác biệt, kể về trải nghiệm của Jackson trong nhiều năm trở lại đó.<ref>{{citechú thích news|author=Kyle Anderson|title=6 things we now know about Janet Jackson's new album, thanks to Jimmy Jam and Terry Lewis|url=http://www.ew.com/article/2015/08/28/janet-jackson-unbreakable-jimmy-jam-terry-lewis?hootPostID=ba187cbcb1679bf45d207f09cf62b8f0|work=[[Entertainment Weekly]]|date=2015-08-28|accessdate=2015-08-28}}</ref> [[Unbreakable (bài hát của Janet Jackson)|Bài hát chủ đề]] của album ra mắt ngày 3 tháng 9 năm 2015<ref>{{citechú thích web|author=Will Robinson|title=Janet Jackson shares powerful new single, 'Unbreakable'|url=http://www.ew.com/article/2015/09/03/janet-jackson-new-song|work=[[Entertainment Weekly]]|date=2015-09-03|accessdate=2015-09-04}}</ref> và "[[Burnitup!]]", có sự góp mặt của [[Missy Elliott]] lên kệ ngày 24 tháng 9 năm 2015.<ref>{{citechú thích web|last=Jacobs|first=Matthew|url=http://www.huffingtonpost.com/entry/janet-jackson-missy-elliott-burnitup_56053f7ce4b0af3706dbd1f7|title=Janet Jackson And Missy Elliott 'BURNITUP!' With Their New Song|publisher=[[The Huffington Post]]|date=September 25, 2015|accessdate=September 26, 2015}}</ref>
 
''Unbreakable'' phát hành ngày 2 tháng 10 năm 2015 trong nhiều đánh giá tích cực, trong đó có ''[[The Wall Street Journal]]'',<ref>{{citechú thích news|author=Jim Fusilli|title=‘Unbreakable’ by Janet Jackson Review|url=http://www.wsj.com/articles/unbreakable-by-janet-jackson-review-1443563988|work=[[The Wall Street Journal]]|date=September 29, 2015|accessdate=September 29, 2015}}</ref> ''[[The New York Times]]'',<ref>{{citechú thích news|author=[[Jon Pareles]]|title=Review: Janet Jackson’s ‘Unbreakable’ Focuses on Love Outside the Bedroom|url=http://www.nytimes.com/2015/10/01/arts/music/review-janet-jacksons-unbreakable-focuses-on-love-outside-the-bedroom.html?_r=0|work=[[The New York Times]]|date=September 30, 2015|accessdate=September 30, 2015}}</ref> ''[[USA Today]]'',<ref>{{citechú thích news|author=Elysa Gardner|title=Album of the week: Janet Jackson turns reflective on 'Unbreakable'|url=http://www.usatoday.com/story/life/music/2015/10/01/album-of-the-week-janet-jackson-unbreakable/73025824/|work=[[USA Today]]|date=October 1, 2015|accessdate=October 1, 2015}}</ref> ''[[Los Angeles Times]]''<ref name="LAT">{{citechú thích news|author=Mikael Wood|title= Review Janet Jackson's new 'Unbreakable' includes a tender tribute to Michael |url=http://www.latimes.com/entertainment/music/posts/la-et-ms-janet-jackson-unbreakable-album-review-20150930-story.html|work=[[Los Angeles Times]]|date=October 1, 2015|accessdate=October 1, 2015}}</ref> và ''[[The Guardian]]''.<ref>{{citechú thích news|author=Alex Macpherson|title=Janet Jackson: Unbreakable review – sunny serenity on reflective 11th album|url=http://www.theguardian.com/music/2015/oct/01/janet-jackson-unbreakable-review-sunny-serenity-on-reflective-11th-album|work=[[The Guardian]]|date=October 1, 2015|accessdate=October 1, 2015}}</ref> Đây là album thứ 7 của Jackson leo lên vị trí quán quân tại Mỹ.<ref name=seventh>{{citechú thích web|author=Keith Caulfield|title=Janet Jackson Earns Historic Seventh No. 1 Album on Billboard 200 Chart|url=http://www.billboard.com/articles/columns/chart-beat/6722962/janet-jackson-earns-historic-seventh-no-1-album-on-billboard-200-chart-unbreakable|work=Billboard|date=October 11, 2015|accessdate=October 11, 2015}}</ref> Ngày 6 tháng 4 năm 2016, Jackson thông báo "đang lên kế hoạch cho gia đình" với người chồng Wissam Al Mana, đồng thời phải hoãn lại chuyến lưu diễn.<ref>{{citechú thích news|title=Janet Jackson Delays Tour; Planning Family, Ordered to Rest|url=http://abcnews.go.com/Entertainment/wireStory/janet-jackson-delays-tour-planning-family-ordered-rest-38187068|work=[[ABC News]]|date=April 6, 2016|accessdate=April 6, 2016}}</ref> Tháng 10 cùng năm, Jackson xác nhận đang mang thai con đầu lòng với Al Mana.<ref>{{citechú thích web |url=http://www.bbc.com/news/world-us-canada-37630463 |title=Janet Jackson and Wissam al-Mana expecting a first child |last= |first= |date=12 October 2016 |access-date=12 October 2016|publisher=BBC}}</ref> Bà hạ sinh Eissa Al Mana vào ngày 3 tháng 1 năm 2017.<ref>{{citechú thích news|last1=Juneau|first1=Jen|last2=Chiu|first2=Melody|title=Janet Jackson Welcomes Son Eissa|url=http://people.com/babies/janet-jackson-welcomes-son-eissa/|accessdate=January 3, 2017|work=[[People (magazine)|People]]|publisher=[[Time Inc.]]|date=3 January 2017|location=United States}}</ref>
 
==Phong cách nghệ thuật==
===Ảnh hưởng và giọng hát ===
Jackson gọi [[Lena Horne]] là nguồn cảm hứng sâu sắc đến nhiều thế hệ giải trí, kể cả bản thân bà. Bà khẳng định "[Horne] mang đến niềm vui đến đời sống của mọi người—ngay cả lớp thế hệ sau này, những người còn non trẻ hơn tôi. Bà ấy là một tài năng vĩ đại. Bà ấy đã mở ra nhiều cánh cửa cho nghệ sĩ như tôi."<ref>{{citechú thích web|title=Sultry songstress Lena Horne dies|url=http://www.washingtontimes.com/news/2010/may/10/legendary-singer-lena-horne-dies/|newspaper=The Washington Times|date=May 10, 2010|accessdate=July 12, 2010}}</ref> Tương tự, bà xem [[Dorothy Dandridge]] là một trong những thần tượng lớn.<ref>{{citechú thích web|author=Liz Smith|title=Janet Jackson as Dandridge?|newspaper=Los Angeles Times|date=June 4, 1993|page=2|issn=0458-3035}}</ref> Jackson gọi mình là "một người hâm mộ lớn của [[Joni Mitchell]]" vì "lúc còn nhỏ, tôi luôn yêu thích đĩa nhạc của Joni Mitchell [...] những ca khúc của Joni luôn tìm đến tôi theo một cách vô cùng thân mật, riêng tư."<ref>{{citechú thích web|last=Penn|first=Roberta|title=Janet Jackson digs deep and gets personal in latest album|newspaper=[[The Fresno Bee]]|date=September 5, 1997|page=E.4|issn=0889-6070}}</ref><ref>{{citechú thích web|title=Janet Jackson Returns with Hit Album and New Look|newspaper=Jet|volume=92|issue=26|page=60|date=November 17, 1997}}</ref> Bà khẳng định [[Tina Turner]] "là một người hùng của nhiều người, đặc biệt là phụ nữ, nhờ sức mạnh phi thường của mình [...] Tôi cảm thấy âm nhạc của bà luôn hiện hữu xung quanh và sẽ luôn như thế."<ref>{{citechú thích web|title=The Immortals – The Greatest Artists of All Time: 61) Tina Turner|newspaper=Rolling Stone|url=http://www.rollingstone.com/news/story/7248197/the_immortals__the_greatest_artists_of_all_time_61_tina_turner|date=April 22, 2005|accessdate=April 26, 2009}}</ref> Bà cũng liên hệ tới nhiều nghệ sĩ mang nhận thức lớn về xã hội như [[Tracy Chapman]], [[Sly and the Family Stone]], [[U2]] và [[Bob Dylan]] là nguồn cảm hứng của mình.<ref name="She's a rebel" /><ref>{{citechú thích web|author=Kevin Phinney|title=Jackson takes control on latest album // Songstress instrumental in signing producers, writing lyrics for `Rhythm Nation'|newspaper=Austin American-Statesman|date=September 21, 1989|page=F.2}}</ref> Vào thuở đầu sự nghiệp, Jackson xem các anh trai Michael và Jermaine là nguồn cảm hứng âm nhạc.<ref name="Sex, sadness & the triumph of Janet Jackson">{{citechú thích web| last= Ritz | first= David | title = Sex, sadness & the triumph of Janet Jackson |work=Rolling Stone | date = October 1, 1998 | url = http://www.rollingstone.com/news/story/5938082/sex_sadness__the_triumph_of_janet_jackson | accessdate = April 23, 2008}}</ref> Theo [[Rolling Stone]] và [[MTV]], những nghệ sĩ ảnh hưởng lớn tới bà còn có [[The Ronettes]], [[Dionne Warwick]], [[Tammi Terrell]], [[Diana Ross]], [[Chaka Khan]], [[Stevie Wonder]], [[Teena Marie]], [[Michael Jackson]] và [[Prince (nhạc sĩ)|Prince]].<ref name="influence">{{citechú thích web| title = Janet Jackson: Rolling Stone |work=Rolling Stone | year = 2008 | url = http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson | accessdate = April 23, 2008 | archiveurl = https://web.archive.org/web/20080419050812/http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson <!--Added by H3llBot--> | archivedate = April 19, 2008}}</ref>
 
[[Tập tin:Janet Tour.jpg|nhỏ|phải|190px|Jackson trình diễn tại [[Janet Tour]] năm 1995]]
Jackson sở hữu chất giọng [[mezzo-soprano|nữ trung]].<ref>{{harvnb|Dean|2003|p=34}}</ref> Trong suốt sự nghiệp, bà thường chịu nhiều lời phê bình về khả năng ca hát hạn chế, đặc biệt khi so sánh trước những nghệ sĩ đương đại khác như [[Whitney Houston]] và [[Mariah Carey]].<ref>{{citechú thích web|author=Stephen Holden|title=Big Stars, Big Bucks and the Big Gamble|newspaper=The New York Times|date=April 7, 1991|page=A.24|issn=0362-4331}}</ref> Về kỹ thuật giọng hát như Houston và [[Aretha Franklin]], nhà luyện thanh Roger Love khẳng định "khi Janet cất giọng, bà có thể lấy một lượng hơi lớn. Bà rõ ràng đang nhắm tới một kỹ thuật gợi cảm, đạt hiệu quả ở một cấp độ nào đó. Nhưng thực ra, điều đó còn khá hạn chế." Ông nói thêm, giọng hát của bà phù hợp trong phòng thu, nhưng không thể truyền đạt tốt trên sân khấu, cho dù chương trình có "những bài hát hay, vũ đạo công phu và sự hiện diện của bà" đi chăng nữa, thì "giọng hát không phải là điểm then chốt."<ref>{{citechú thích web|author1=Roger Love |author2=Donna Frazier |title=Set Your Voice Free: How To Get The Singing Or Speaking Voice You Want|publisher=[[Little, Brown and Company]]|year=2009|isbn=978-0-316-09294-4}}</ref> Nhà tiểu sử David Ritz nhận xét "trong những album—video và màn trình diễn trực tiếp của Janet, nơi thể hiện kỹ thuật nhảy sắc nét, điêu luyện [...] điểm chính không phải là giọng hát," mà được thay thế bằng "nhịp sôi động, những đoạn hook hấp dẫn và giá trị sản xuất hoàn hảo của bà."<ref name="influence"/> Eric Henderson của ''[[Slant Magazine]]'' cho rằng giới phê bình "dường như quên mất chất giọng 'gimme a beat' bùng nổ mà bà sử dụng rải rác trong 'Nasty'&nbsp; ... Hoặc họ hoàn toàn bác bỏ sự hoàn hảo mà giọng hát do dự của bà xuất hiện trong 'Let's Wait Awhile'."<ref>{{citechú thích web| last=Henderson | first=Eric | title = Slant Magazine Music Review: Janet Jackson: Control |work=[[Slant Magazine|Slant]] | year = 2003 | url = http://www.slantmagazine.com/music/music_review.asp?ID=367 | accessdate = June 30, 2008}}</ref> Nhà soạn nhạc cổ điển [[Louis Andriessen]] khen ngợi "nhịp rubato, nhịp điệu, sự nhạy cảm và ngây thơ trong giọng hát gợi cảm một cách kỳ lạ" của bà.<ref name="Louis">{{citechú thích web|last=Andriessen|first=Louis|author2=Maja Trochimczyk|title=The music of Louis Andriessen|publisher=Routledge|page=61|year=2002|isbn=978-0-8153-3789-8}}</ref>
 
Nhiều nhà phê bình còn xem giọng hát của bà thường lệ thuộc vào phần sản xuất âm nhạc. Nhà phê bình [[J. D. Considine]] nhận thấy "trong album, Jackson không dựa theo giọng hát nhiều bằng cách giọng hát của bà được dựng nên bởi phần sản xuất nhịp nhàng của Jimmy Jam và Terry Lewis."<ref>{{citechú thích web|author=J.D. Considine|title=It's Her `Velvet Rope' Tour, but Janet Jackson Gets Lost in the Crowd; Music Review: Back-up Singers, Back-up Dancers Help Make the Show Lively|newspaper=[[The Sun (United Kingdom)|The Sun]]|date=July 11, 1998|page=4.E}}</ref> Wendy Robinson của ''[[PopMatters]]'' cho rằng "sức mạnh giọng hát của Janet Jackson không nằm ở thanh quản của bà ấy. Bà không đẩy hơi, mà chỉ thì thầm&nbsp; ... Chất giọng của Jackson là sự kết hợp điêu luyện giữa hòa âm nhẹ nhàng và cân bằng nhịp."<ref name="PopMatters">{{citechú thích web|url =http://www.popmatters.com/review/jacksonjanet-rhythm/|title =Janet Jackson: Rhythm Nation Compilation – PopMatters|work=PopMatters|author=Robinson, Wendy|date=February 9, 2014|accessdate=February 9, 2014}}</ref> Matthew Perpetus ''[[Fluxblog]]'' gọi kỹ năng thanh nhạc của Jackson như là một thể loại học thuật trong dòng nhạc [[indie rock]], cho rằng nó có "sức ảnh hưởng lớn đến người nghe, hướng dẫn và nhấn mạnh sự chuyển đổi năng lượng mà không bị xao nhãng khỏi đoạn hook" và ví như "đang nghe sự diễn đạt của một con người hoàn thiện, đầy mâu thuẫn và sự phức tạp."<ref>{{citechú thích web|url=http://www.fluxblog.org/2008/07/your-new-influences-1.html |title=FLUXBLOG: New, Unusual, Trendy, and Zany |work=Fluxblog |author=Perpelus, Matthew |date=July 2, 2008 |accessdate=February 20, 2014 |deadurl=yes |archiveurl=https://web.archive.org/web/20081012061052/http://www.fluxblog.org/2008/07/your-new-influences-1.html |archivedate=October 12, 2008 }}</ref>
 
===Âm nhạc===
Âm nhạc của Jackson bao gồm nhiều thể loại khác nhau. Các đĩa nhạc thập niên 1980 của bà được cho là lấy cảm hứng từ [[Prince (nhạc sĩ)|Prince]], với đội ngũ sản xuất là cựu thành viên của nhóm [[The Time (ban nhạc)|The Time]].<ref>{{Citechú thích web|last=Pareles|first=Jon|title=Pop and Jazz Guide|pages=C.23|newspaper=[[The New York Times]]|date=April 25, 1986|issn=0362-4331}}</ref> Sal Cinquemani viết rằng ngoài việc thống trị sóng phát thanh [[Top 40]], bà còn "tăng thêm nét nữ tính đặc trưng cho thể loại [[Minneapolis sound]] của Prince—và, những bài hát như 'What Have You Done for Me Lately?,' 'Nasty,' 'Control' và 'Let's Wait Awhile' chính là sự nhấn mạnh của [[chủ nghĩa nữ giới]]."<ref name="SCNO">{{Citechú thích web|last=Cinquemani|first=Sal|title=Janet Jackson: Number Ones |url=http://www.slantmagazine.com/music/music_review.asp?ID=1921 |publisher=[[Slant Magazine]]|date=November 19, 2009 |accessdate=November 19, 2009}}</ref> Trong ''Control'', Richard J. Ripani ghi nhận Jackson, Jam và Lewis đã "tạo nên âm thanh mới, hòa trộn những yếu tố nhịp điệu funk và disco, cùng với [[đàn synthesizer]], bộ gõ, hiệu ứng âm thanh và sự nhạy cảm nhạc rap ở tần suất cao."<ref name="The New Blue Music" /> Tác giả [[Rickey Vincent]] khẳng định bà thường xuyên được nhắc tới vì đã xác định lại tiêu chuẩn của dòng nhạc đại chúng với nhịp độ [[nhạc công nghiệp]] trong album này.<ref name="Vincent">{{harvnb|Vincent|Clinton|1996|p=272, 284}}</ref> Jackson còn là người tạo xu hướng trong thể loại [[pop ballad]]; Richard Rischar có viết "dòng nhạc pop ballad da màu giữa thập niên 1980 bị ảnh hưởng bởi lối xử lý, trình diễn nhịp nhàng và tinh tế, dẫn đầu là những ca sĩ như Whitney Houston, Janet Jackson và [[James Ingram]]."<ref>{{harvnb|Rischar|2004|p=408}}</ref> Bà tiếp tục phát triển âm nhạc bằng cách dung hòa thể loại pop và urban, với những yếu tố hip-hop trong những năm 90. Điều này bao gồm biểu diễn tiết chế hơn, kết hợp những bản ballad nhẹ nhàng và nhịp dance sôi động.<ref>{{harvnb|Miller|2008|p=205}}</ref> Trong thập kỷ sự nghiệp đầu tiên, bà được xem là "nghệ sĩ định hình nên âm thanh và hình tượng của [[rhythm and blues]]".<ref>{{Citechú thích web|author=Greg Kot|title=Fighting Another Grammy Whammy 'Janet' Producers Defend Jackson's Role|newspaper=Chicago Tribune|date=February 28, 1994|page=5|issn=1085-6706}}</ref> Nhà phê bình Karla Peterson gọi bà là "một vũ công nhạy bén, một người trình diễn hấp dẫn và 'That's the Way Love Goes' chứng tỏ bà là một nhạc sĩ pop tài ba."<ref name="Peterson">{{Citechú thích web|author=Karla Peterson|title=Pop goes Janet in concert full of programmed flash|newspaper=[[U-T San Diego]]|date=February 26, 1994|page=E.6}}</ref> Nhiều tác phẩm trong những thập kỷ sau này của bà không còn được đón nhận như trước; Sal Cinquemani bình luận: "ngoại trừ [[R.E.M.]], không cựu ngôi sao nào có cú trở lại hoành tráng, với sức sáng tạo và diễn biến thương mại giảm sút tới vậy."<ref name="SCNO" />
 
Jackson thay đổi chủ đề ca từ trong nhiều năm, trở thành trọng tâm phân tích trong [[âm nhạc học]], nghiên cứu tầng lớp Mỹ Phi và [[giới tính học]].<ref name="Smith 1996 324"/><ref name="TSR">{{harvnb|Reynolds|Press|1996|p=297}}</ref> David Ritz so sánh phong cách âm nhạc của Jackson với [[Marvin Gaye]], "giống như Marvin, tính tự truyện dường như là nguồn gốc chính trong âm nhạc của bà. Nghệ thuật của bà, cũng giống như Marvin, nổi lên giữa biển đau thương thầm kín."<ref name="Sex, sadness & the triumph of Janet Jackson" /> Hầu hết thành công của bà xuất phát từ "hàng loạt nhịp điệu groove mạnh mẽ, chắc chắn; chất giọng tươi vui, đa dạng; và lời ca đậm chất triết lý dựa trên sự tự hào và tự nhận thức."<ref>{{Citechú thích web|last=MacCambridge|first=Michael|title=Worth a note|newspaper=[[Austin American-Statesman]]|page=G.2|date=October 19, 1989}}</ref> Ritz còn khẳng định, "Điều bí ẩn chính là ngọn lửa ngầm cháy quanh tâm hồn của Janet Jackson. Ngọn lửa thiêu đốt những yếu tố nhiên liệu quan trọng nhất: sự sinh tồn và tham vọng, tính thận trọng và sức sáng tạo, sự tự tin ngút trời và nỗi sợ thăm thẳm."<ref name="Sex, sadness & the triumph of Janet Jackson" /> Trong thập niên 1980, lời ca của bà thể hiện tính tự hiện thực, nguyên tắc nữ quyền và tư tưởng chính trị.<ref name="TSR" /><ref name="Lilly">{{harvnb|Goren|2009|p=61}}</ref> Gillian G. Gaar, tác giả cuốn ''She's a Rebel: The History of Women in Rock & Roll'' (2002), mô tả ''Control'' là "một câu chuyện tự truyện kể về cuộc đời của bà với cha mẹ, cuộc hôn nhân đầu tiên và sự giải thoát."<ref name="She's a rebel" /> Jessie Carney Smith trong ''Encyclopedia of African American Popular Culture'' (2010) có viết "với album này, bà thổi vào sự tự tin, tính độc đáo và sức mạnh cá nhân. Bà thử thách khán giả bằng cách thay đổi chính mình, từ một nhân vật ngây thơ sang một ngôi sao trưởng thành, đa tài."<ref name="EAAPC">{{harvnb|Smith|2010|p=738, 739}}</ref> Nhắc tới ''Rhythm Nation 1814'' như một hiện thân của hy vọng, Timothy E. Scheurer trong ''Born in the USA: The Myth of America in Popular Music from Colonial Times to the Present'' (2007) có viết, "Nó nhắc nhở gia đình nhà [[Sly Stone]] thời kỳ trước ''[[There's a Riot Goin' On]]'' và nhiều nghệ sĩ Mỹ Phi khác của thập niên 1970 rằng cái thế giới mà [[Martin Luther King, Jr.|Dr. King]] tưởng tượng vẫn còn khả thi, rằng [[Giấc mơ Mỹ]] chính là mơ ước cho mọi người."<ref>{{harvnb|Scheurer|2007|p= 224}}</ref>
 
Trong ''Janet'', Jackson bắt đầu tập trung vào chủ đề tình dục. Shayne Lee, tác giả của ''Erotic Revolutionaries: Black Women, Sexuality, and Popular Culture'' (2010), viết rằng âm nhạc trong một thập kỷ kế đến "đánh bóng thương hiệu của bà như một trong những giọng ca gợi dục nhất thập niên 1990."<ref name="ER">{{harvnb|Lee|2010|p=12–16}}</ref> Trong ''You've Come A Long Way, Baby: Women, Politics, and Popular Culture'' (1996), Lilly J. Goren nhận thấy "sự phát triển của Jackson từ một nhạc sĩ hát về xã hội cho tới hình tượng diva gợi cảm đánh dấu định hướng mà xã hội và ngành công nghiệp âm nhạc muốn những diva dance-rock theo đuổi."<ref name="Lilly" /> ''[[The Washington Post]]'' tuyên bố hình tượng công chúng của Jackson trong những giai đoạn khác nhau trong sự nghiệp đã thay đổi, "từ sự ngây thơ thành từng trải, làm cảm hứng cho những album gợi cảm như ''Janet'' năm 1993 và ''The Velvet Rope'' năm 1997, khám phá sự gắn kết—theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen—của tình yêu và dục vọng."<ref name="Klein">{{Citechú thích web| last= Klein| first=Joshua | title=Janet Jackson's Lighthearted Lament About Lost Love | newspaper=[[The Washington Post]] | page= C01 | date=April 25, 2001}}</ref> Bài hát "Free Xone" từ ''The Velvet Rope'', lột tả mối quan hệ đồng giới theo hướng tích cực, được nhà xã hội học Shayne Lee miêu tả là "một sự kiện hiếm có, khi một giọng ca da màu nổi tiếng khám phá năng lượng lãng mạn hoặc gợi dục bên ngoài phạm vi [[tình dục dị tính]], một bước ngoặt lớn trong cuộc [[chính trị tình dục]] da màu."<ref name="ER" /> Khi quảng bá ''Janet'', bà khẳng định "Tôi thích cảm giác đắm mình trong dục vọng—mà không màng tới sự đời. Với tôi, tình dục trở thành sự ăn mừng, một phần hân hoan trong quá trình sáng tạo."<ref name="Sexual Healing" /> Từ khi phát hành ''Damita Jo'', Jackon khẳng định "Từ những album đầu tiên, khám phá—và giải phóng—bản năng giới tính luôn là sự tìm tòi và chủ đề liên tục của tôi" và nói thêm "Là một nghệ sĩ, đó không chỉ là đam mê, mà còn là bổn phận của tôi".<ref name=upscale>{{harvnb|Ritz|2004|p=64}}</ref> Stephen Thomas Erlewine cảm thấy sự đề cập không ngừng nghỉ tới tình dục của Jackson trong âm nhạc thiếu tính sáng tạo, đặc biệt khi so sánh tới những nghệ sĩ như Prince, khẳng định "trong lúc tình dục xúc tác rất nhiều cho dòng nhạc pop, đó không phải là một chủ đề lôi cuốn—giống như mọi thứ khác, tất cả đều phụ thuộc vào người nghệ sĩ."<ref name="STE">{{Citechú thích web|last=Erlewine |first=Stephen Thomas | title = ''Damita Jo'' |publisher=Allmusic | year = 2004| url = {{Allmusic|class=album|id=r680820|pure_url=yes}} | accessdate = February 8, 2009}}</ref>
 
===Video và sân khấu===
[[Tập tin:Janet Jackson Number Ones Tour 2011.jpeg|nhỏ|trái|Jackson trình diễn trong [[Number Ones: Up Close and Personal]] vào năm 2011]]
Các video âm nhạc và màn trình diễn của Jackson lấy cảm hứng từ những vở nhạc kịch mà bà xem lúc nhỏ, bị ảnh hưởng lớn bởi vũ đạo của [[Fred Astaire]] và [[Michael Kidd]] và nhiều nhân vật khác.<ref name="Envisioning">{{harvnb|Mitoma|2002|p=16}}</ref> Trong sự nghiệp, bà đã hợp tác và giới thiệu nhiều biên đạo múa chuyên nghiệp, như [[Tina Landon]], [[Paula Abdul]] và Michael Kidd.<ref>{{harvnb|Jenai|2003|p=14–16}}</ref> Veronica Chambers khẳng định "sự ảnh hưởng của bà đến dòng nhạc pop là không thể phủ nhận và bao phủ rộng rãi." Chambers nhận thấy nhiều video của nghệ sĩ khác "không chỉ sử dụng vũ công của Jackson mà vũ đạo và bối cảnh còn có nhiều điểm tương đồng với bà."<ref>{{citechú thích news|title=She's Not Anybody's Baby Sister Anymore|work=[[The New York Times]]|author=Chambers, Veronica|url=http://www.nytimes.com/1997/09/07/arts/she-s-not-anybody-s-baby-sister-anymore.html|date=September 7, 1997|accessdate=March 7, 2014}}</ref> Janine Coveney của ''Billboard'' cho rằng "sự tuyên bố độc lập về âm nhạc của Jackson [trong ''Control''] cho thấy hàng loạt những bài hát ăn khách, sản xuất âm thanh khó phai mờ và hình tượng bền bỉ về vũ đạo và hình ảnh video mà những giọng ca pop vẫn còn tái sử dụng."<ref name="Janet's Juggernaut" /> Ben Hogwood của ''[[MusicOMH]]'' khen ngợi "nguồn ảnh hưởng lớn mà bà truyền đạt tới thế hệ sau", đặc biệt ở [[Britney Spears]], [[Jennifer Lopez]] và [[Christina Aguilera]].<ref>{{citechú thích web|url=http://www.musicomh.com/music/dvds/janet-jackson.htm |title=Janet Jackson – From Janet. To Damita Jo: The Videos – music DVD reviews – musicOMH |work=MusicOMH |publisher=Hogwood, Ben |year=2004 |accessdate=December 25, 2013 |deadurl=yes |archiveurl=https://web.archive.org/web/20130513191906/http://www.musicomh.com/music/dvds/janet-jackson.htm |archivedate=May 13, 2013 }}</ref> Qadree EI-Amin cho rằng nhiều nghệ sĩ pop "thêu dệt những màn trình diễn theo cá tính dance-diva của Janet."<ref name="crossroads">{{Citation | last1 = Norment | first1 = Lynn | title = Janet: At the crossroads | volume = 56 | issue = 1 | page = 180 | newspaper=Ebony | date = November 1, 2000 | issn = 0012-9011}}</ref>
 
Beretta E. Smith-Shomade, tác giả ''Shaded Lives: African-American Women and Television'' (2002), viết rằng "ảnh hưởng của Jackson tới những video âm nhạc phần lớn nhờ vào thành công doanh số âm nhạc, cho phép bà mở rộng sự kiểm soát và tự do trong hình ảnh. Sự kiểm soát này ảnh hưởng trực tiếp tới hình ảnh và nội dung của video, giúp bà nổi bật giữa nhiều nhóm nghệ sĩ giả định khác—nam giới hay nữ giới, da trắng hay da màu."<ref name="Beretta">{{harvnb|Smith-Shomade|2002|p=86}}</ref> ''Parallel Lines: Media Representations of Dance'' (1993) nghiên cứu những video của bà thường gợi nhớ lại về những buổi hòa nhạc trực tiếp hay nhà hát kịch công phu.<ref name="PL">{{harvnb|Jordan|Allen|1993|p=68}}</ref> Dù vậy, trong ''Rhythm Nation 1814'' dài 30 phút, Jackson sử dụng kỹ thuật vũ đạo đường phố, tương phản với vũ đạo truyền thống.<ref name="PL" /> Hình ảnh vũ đoàn đầy năng lượng tượng trưng cho quyền bình đẳng giới tính, lúc Jackson "trình diễn vô danh và hòa vào các vũ công."<ref>{{harvnb|Järviluoma|Moisala|Vilkko|2003|p=92}}</ref> Những video âm nhạc của bà còn góp phần đẩy cao mức độ tự do tính dục của tầng lớp phụ nữ trẻ, như lời của Jean M. Twenge trong ''Generation Me: Why Today's Young Americans are More Confident, Assertive, Entitled—and More Miserable Than Ever Before'' (2007), Jackson "nhiều lần ám chỉ tới [[tình dục đường miệng]] trong những video âm nhạc bằng hành động đẩy [[đầu]] của đàn ông xuống đúng vị trí", gây nên sự "thúc đẩy trào lưu" tình dục giữa các video của nữ ca sĩ và giới nữ trẻ.<ref>{{harvnb|Twenge|2007|p=167}}</ref> Dù vậy, những cáo buộc về giải phẫu thẩm mỹ, tẩy trắng da và hình tượng gợi dục quá đà khiến bà bị xem là sản phẩm của quan điểm tình dục nam giới da trắng, hơn là sự giải phóng của bản thân hoặc những người khác.<ref name="Beretta" /> Jackson nhận [[giải MTV Video Vanguard]] cho những đóng góp tới thể loại nghệ thuật này và trở thành người đầu tiên được [[MTV Icon]] tri ân những ảnh hưởng tới ngành công nghiệp âm nhạc. Năm 2003, ''[[Slant Magazine]]'' xếp "Rhythm Nation" và "Got 'til It's Gone" trong "100 Video âm nhạc vĩ đại nhất".<ref>{{citechú thích web|author=Sal Cinquemani and Ed Gonzalez|title=100 Greatest Music Videos|url=http://www.slantmagazine.com/music/feature/100-greatest-music-videos/205/page_10|publisher=Slant Magazine|date=June 30, 2003|accessdate=March 9, 2012}}</ref> Năm 2011, "Rhythm Nation" được ''Billboard'' bình chọn là video xuất sắc thứ 10 trong thập niên 1980.<ref>{{citechú thích web|url=http://www.billboard.com/articles/news/468693/the-10-best-80s-music-videos-poll-results|title=The 10 Best '80s Music Videos: Poll Results|last=Letkemann|first=Jessica|work=Billboard|publisher=Prometheus Global Media|date=August 1, 2011|accessdate=August 1, 2011}}</ref>
 
Nicholas Barber của ''The Independent'' khẳng định "Đêm nhạc của Janet như bộ phim bom tấn hè của dòng nhạc pop, với tất cả vụ nổ, hiệu ứng đặc biệt."<ref name="Glasgow">{{citechú thích web |last=Barber | first=Nicholas | title=Rock music: Janet Jackson gets lost in her own limelight | newspaper=[[The Independent]] | page=6 | date=June 7, 1998}}</ref> Tạp chí ''Jet'' báo cáo "tiết mục sân khấu lưu diễn sáng tạo của Janet đã giúp bà nổi tiếng như một nghệ sĩ trình diễn đẳng cấp thế giới."<ref>{{citechú thích web|title=Janet Jackson receives American Music Awards' Top Honor Highlighting Stellar Career|newspaper=Jet|volume=99|issue=7|date=January 29, 2001|page=56|issn=0021-5996}}</ref> Chris Willman của ''Los Angeles Times'' mô tả vũ đạo trong Rhythm Nation 1814 Tour là "một hỗn hợp những động tác giật cứng nhắc và uyển chuyển một cách duyên dáng."<ref name="Chris Willman">{{citechú thích web| last1 = Willman | first1 = Chris | title = Pop Music Review Janet Jackson's Dance of Community| page = 1 | newspaper=Los Angeles Times | date = April 23, 1990 | issn = 0458-3035}}</ref> Number Ones: Up Close and Personal chuyển sang bối cảnh nhà hát nhỏ, khác với những kết cấu sân khấu hoành tráng của bà trước đây. Nhiều nhà phê bình nhận thấy điều này không ảnh hưởng tới màn trình diễn của bà, mà còn cộng hưởng thêm. Greg Kot của ''[[Chicago Tribune]]'' viết "Trong những chuyến lưu diễn trước, chất giọng mỏng manh của Jackson thường bị sức dàn dựng lớn của đêm diễn nuốt chửng&nbsp; ... Trong bối cảnh đơn giản hơn, Jackson mang tới sự ấm áp và chân thành không phải lúc nào cũng hiện hữu tại nhiều sân vân động."<ref>{{citechú thích web|author=Glenn Gamboa|title=The magnificent 7 Our critic's take on Janet Jackson's top hits before her musical comeback|newspaper=[[Newsday]]|date=March 18, 2011|page=B.15}}</ref>
 
Thor Christensen của ''[[The Dallas Morning News]]'' chú ý tới việc Jackson [[nhép môi]] tại nhiều đêm diễn; ông viết: "Janet Jackson—một trong những ca sĩ nhép môi khét tiếng trên sân khấu&nbsp; ... cô ta dùng 'một vài' bản thu sẵn để hòa vào giọng hát thật của mình. Nhưng lại từ chối tiết lộ bao nhiêu phần trăm 'giọng hát' trên sân khấu là thu âm và bao nhiêu là thực."<ref name="lip-sync">{{citechú thích web| last1 = Christensen | first1 = Thor | title = Loose Lips: Pop Singers' Lip-Syncing In Concert Is An Open Secret| page = B.8 | newspaper=[[Pittsburgh Post-Gazette]] | date = September 15, 2001 | issn = 1068-624X}}</ref> Michael MacCambridge của ''[[Austin American-Statesman]]'', lúc nhận xét Rhythm Nation World Tour, mô tả việc nhép miệng là "điểm cần bàn", khi "Jackson thường hát cùng với chất giọng thu âm sẵn, để gần đạt tới chất lượng phiên bản đĩa đơn phát thanh nhất."<ref name="MacCambridge">{{citechú thích web |last=MacCambridge | first=Michael | title=A lesson in `Control' // Janet Jackson delivers precise, sparkling show | newspaper=[[Austin American-Statesman]] | page=B.8 | date=July 6, 1990}}</ref> MacCambridge còn phát biểu "dường như chẳng ai–ngay cả một thành viên của gia đình Đệ nhất nhạc Soul—có thể nhảy như cô ấy trong vòng 90 phút mà vẫn giữ chất giọng nội lực trong những đêm nhạc hoành tráng thập niên 1990."<ref name="MacCambridge" /> Tương tự, Chris Willman nhận xét "ngay cả một ca sĩ được huấn luyện chỉnh chu cũng có thể cảm thấy bị gò ép để giữ vững âm lượng—hay chính xác hơn là ở 'Control'—lúc nhún nhảy, trình diễn và khua tay theo nhiều hướng bất thường ở một tốc độ hoàn hảo, chóng mặt."<ref name="Chris Willman" /><ref>{{citechú thích web|title=First-Person Reflections on a Pop Career|url=http://www.nytimes.com/2011/03/21/arts/music/janet-jacksons-number-ones-at-radio-city-review.html|newspaper=[[The New York Times]]|date=March 20, 2011|accessdate=April 1, 2011|first=Ben|last=Ratliff}}</ref> Chris Richards của ''The Washington Post'' khẳng định, "ngay cả lúc thỏ thẻ nhất, giọng hát tinh xảo ấy vẫn chưa hề đánh mất độ chính xác nhạy bén của mình."<ref name="CR">{{citechú thích web|author=Chris Richards|title=Janet Jackson lets fans see her sweat with energized Constitution Hall show|url=http://www.washingtonpost.com/lifestyle/style/janet-jackson-lets-fans-see-her-sweat-with-energized-constitution-hall-show/2011/03/23/ABtaY8KB_story.html|newspaper=[[The Washington Post]]|date=March 23, 2011|accessdate=April 1, 2011}}</ref>
 
==Di sản==
Là thành viên nhỏ tuổi nhất trong "gia đình Jackson danh giá",<ref>{{harvnb|Strong|2004|p=749}}</ref> Janet Jackson luôn nỗ lực để đưa sự nghiệp của mình thoát khỏi cái bóng của anh trai Michael và toàn thể gia đình Jackson. Steve Dollar của ''Newsday'' viết rằng "bà xóa đi hình tượng đứa con út hiền lành trong một gia đình mà đời sống cả trong lẫn ngoài bị người đời trêu chọc, bàn tán, tình tiết hóa và là một bản sao của [[gia tộc Kennedy]]."<ref>{{citechú thích web|author=Steve Dollar|title=A Little Help From Her Friends|newspaper=Newsday|date=July 23, 2000|page=D.07}}</ref> Phillip McCarthy của ''[[The Sydney Morning Herald]]'' chú ý tới một trong những điều kiện thường thấy nhất của bà khi phỏng vấn là không đề cập tới anh trai Michael.<ref>{{citechú thích web|url=http://newsstore.smh.com.au/apps/viewDocument.ac?page=1&sy=smh&kw=%22don%27t+mention+michael%22&pb=all_ffx&dt=selectRange&dr=entire&so=relevance&sf=text&sf=headline&rc=10&rm=200&sp=nrm&clsPage=1&docID=SHD0802241O77H3LSPMD |title=The Sun Herald&nbsp; — Don't mention Michael |last=McCarthy |first=Phillip |work=Sydney Morning Herald |date=February 25, 2008 |accessdate=October 22, 2010}}</ref> Joshua Klein viết rằng, "trong nửa đầu sự nghiệp ca hát, Janet Jackson dường như là một nghệ sĩ luôn có mục tiêu. Nổi lên từ năm 1982, cũng là lúc anh trai Michael bắt đầu thành công, những album của Jackson chứa đầy những bài hát mang tính tuyên ngôn, từ 'The Pleasure Principle' tới 'Rhythm Nation' và sự tuyên bố về mục đích trong 'Control'."<ref name="Klein" /> Steve Huey của Allmusic khẳng định dù Jackson sinh ra trong một gia đình giải trí, bà phải tự lực tiến tới ngôi vị "[[superstar|siêu sao]]", cạnh tranh không chỉ nhiều nữ nghệ sĩ thu âm khác như Madonna và Whitney Houston, mà còn với chính anh em trai của mình, trong lúc "thay đổi thành công hình ảnh của một người trẻ tuổi mạnh mẽ, độc lập thành một người phụ nữ gợi cảm, trưởng thành."<ref>{{citechú thích web| last = Huey | first = Steve | title = Janet Jackson > Biography |publisher=Allmusic | year = 2008 | url = {{Allmusic|class=artist|id=p4572|pure_url=yes}} | accessdate = June 7, 2008}}</ref> Bằng việc xây dựng cá tính độc đáo qua phong cách nghệ thuật và kinh doanh, bà được xem là "Nữ hoàng nhạc Pop".<ref name="Queen">{{harvnb|Parish|1995|p=158}}</ref><ref>{{citechú thích news|last=Smith|first=Giles|title=Slow riffs, fast riffs, midriffs|newspaper=[[The Independent]]|page=26|date=April 21, 1996|issn=0951-9467}}</ref> Klein cho rằng "không quá khó khăn để thấy trước sự nổi tiếng, nhưng chỉ vài người dự đoán được ngày Janet—[[Nasty (bài hát)|Quý cô Jackson, nếu bạn thô tục]]—thay thế Michael làm người kế thừa di sản thực thụ nhà Jackson."<ref name="Klein" />
 
Jackson còn được công nhận là người đóng vai trò chủ chốt trong việc phá bỏ rào cản chủng tộc của ngành công nghiệp thu âm, nơi những nghệ sĩ da màu từng bị coi là không đạt tiêu chuẩn.<ref>{{harvnb|Garofalo|1999|p=343}}</ref> Trong ''Right to Rock: The Black Rock Coalition and the Cultural Politics of Race'' (2004), Maureen Mahon viết: "Trong những năm 1980, Whitney Houston, Michael Jackson, Janet Jackson và Prince là những nghệ sĩ Mỹ Phi bứt phá&nbsp; ... Khi bước tới thành công đại chúng, họ tước đi định kiến của ngành công nghiệp. Họ được quảng bá từ sự phân biệt dòng nhạc da màu sang nhạc pop đại chúng trong một quá trình kinh tế theo định hướng đa chủng tộc."<ref>{{harvnb|Mahon|2004|p=163}}</ref> ''Routledge International Encyclopedia of Women: Global Women's Issues and Knowledge'' (2000) nhận thấy Jackson, cùng nhiều phụ nữ Mỹ Phi đang chú ý khác, đã có bước đột phá về tài chính trong âm nhạc đại chúng và đạt tới "cấp độ siêu sao".<ref name="Routledge" /> Bà cùng nhiều người đương thời "mở ra con đường sáng tạo, trí tuệ và kinh doanh hiệu quả trong thiết lập và duy trì công ty, tiềm lực thơ ca, quảng cáo và sở hữu."<ref>{{harvnb|Smith-Shomade|2002|p=181}}</ref> Sự hiểu biết về kinh doanh của bà được so sánh với Madonna, gia tăng cấp độ tự trị và cho phép "mở rộng sức sáng tạo, tiếp cận các nguồn tài chính và phân phối thị trường hàng loạt."<ref>{{citechú thích web|last=Millner|first=Denene|title=Dueling Divas Top Five Singers Slug It Out To See Who's The Real Queen Of Pop|url=http://www.nydailynews.com/dueling-divas-top-singers-slug-real-queen-pop-article-1.728224|newspaper=Daily News|date=January 12, 1996|accessdate=October 15, 2009|location=New York}}</ref><ref>{{harvnb|DeCurtis|1992|p=257}}</ref> Là một hình mẫu về sự tái sáng tạo, tác giả Jessie Carney Smith viết "Janet tiếp tục thử thách giới hạn sức mạnh chuyển hóa bản thân", mang về nhiều giải thưởng điện ảnh, âm nhạc và lưu diễn trong sự nghiệp.<ref name="EAAPC" />
 
[[FileTập tin:Janet Jackson.jpg|nhỏ|phải|Jackson tại một sự kiện năm 2006]]
Nhà âm nhạc học Richard J. Ripani nhận dạng Jackson như người dẫn đầu trong phong trào phát triển dòng nhạc R&B đương đại, hòa quyện độc đáo giữa các thể loại và hiệu ứng âm thanh, mở ra chất giọng rap trong âm nhạc R&B chủ đạo.<ref name="The New Blue Music" /> Ông còn cho rằng [[bài hát trứ danh]] "Nasty" của bà còn gây ảnh hưởng tới thể loại new jack swing, do [[Teddy Riley (nhà sản xuất)|Teddy Riley]] phát triển.<ref name="The New Blue Music" /> Leon McDermott của ''[[Sunday Herald]]'' viết: "Các album bán triệu bản của bà trong những năm 1980 giúp hồi sinh R&B đương đại thông qua lối xử lý chắc chắn của Jimmy Jam và Terry Lewis; nhịp điệu groove len lỏi trong ''Control'' năm 1986 và ''Rhythm Nation 1814'' năm 1989 là nền tảng chính cho nhiều nhà sản xuất và ca sĩ ngày nay noi theo."<ref>{{citechú thích web| last= McDermott | first= Leon | title= Going bust?; Damita Jo ought to have been Janet Jackson's big comeback album, says Leon McDermott, but after that incident at the Super Bowl will America forgive her? | newspaper=Sunday Herald | page=3 | date= March 28, 2004}}</ref> Trong ''Bring the Noise: 20 Years of Writing About Hip Rock and Hip Hop'' (2011), [[Simon Reynolds]] mô tả sự hợp tác của Jackson và những nhà sản xuất thu âm như sự tái sáng tạo của thể loại dance-pop.<ref name="Reynolds">{{harvnb|Reynolds|2011|p=226}}</ref> Den Berry, chủ tịch và giám đốc điều hành hãng Virgin Records khẳng định: "Janet là hiện thân chính xác nhất của một siêu sao toàn cầu. Sức sáng tạo nghệ thuật và cá nhân của bà vượt qua giới hạn địa lý, văn hóa và thế hệ."<ref>{{citechú thích web|title=Janet Jackson Renews Contract With Virgin Records For Blockbuster Deal|newspaper=Jet|volume=89|issue=13|page=35|issn=0021-5996}}</ref>
 
Âm nhạc và vũ đạo của Jackson là niềm cảm hứng tới nhiều nghệ sĩ khác. Nhà điều hành Lee Trink từ hãng Virgin Records chia sẻ: "Janet là một biểu tượng lịch sử trong văn hóa chúng ta. Bà là một trong những nghệ sĩ tài năng mà mọi người noi theo, tái hiện lại và đặt lòng tin tưởng&nbsp; ... chẳng mấy siêu sao như thế lại có thể vượt qua thử thách của thời gian."<ref name="Janet's Juggernaut" /> Sarah Rodman của ''[[Boston Herald]]'' gọi Britney Spears, [[Aaliyah]] và [[Destiny's Child]] thừa nhận những "nhịp điệu groove và vũ điệu tuyệt vời" của Jackson.<ref name="divawings">{{citechú thích web| last= Rodman | first=Sarah | title= Music; Has Janet Jackson earned her diva wings?; Two FleetCenter shows are just one criterion | newspaper=[[Boston Herald]] | page=S03 | date= August 24, 2001}}</ref> Nhà phê bình âm nhạc Gene Stout bình luận rằng bà "ảnh hưởng tới một lượng lớn thế hệ trình diễn sau này, từ [[Jennifer Lopez]]&nbsp; ... đến Britney Spears, những người thường bắt chước động tác của Jackson."<ref>{{citechú thích web|last=Stout|first=Gene|title=Janet Jackson's Steamy Album Leaves Room For Romance|newspaper=Seattle Post-Intelligencer|page=8|date=July 16, 2001|issn=0745-970X}}</ref> [['N Sync]] và [[Usher (ca sĩ)|Usher]] nhắc tới bà như là người truyền đạt kỹ năng diễn xuất lên sân khấu trực tiếp.<ref>{{citechú thích web|last=Valdéz|first=Mimi|title=Show and prove|newspaper=Vibe|volume=9|issue=8|page=116|date=August 2001|issn=1070-4701}}</ref><ref>{{harvnb|Nickson|2005|p=39}}</ref> [[Beyoncé Knowles]],<ref>{{citechú thích web| last= Murray | first=Sonia | title= Janet & Beyonce: Rivals or not, the stars share surprising similarities | newspaper=The Atlanta Journal and Constitution | page=F.1 | date= August 18, 2006|issn=1539-7459}}</ref> [[Toni Braxton]],<ref>{{citechú thích web|author=Michael A. Gonzales|title=Toni's Secret|newspaper=Vibe|volume=5|issue=5|date=July 1997|page=92|issn=1070-4701}}</ref> Aaliyah,<ref name="Aaliyah">{{harvnb|Sutherland|2005|p= 9}}</ref> Britney Spears,<ref>{{citechú thích web|author=Mark Brown|title=In Her Own Words; What's a Critic To Do When Britney Says it All?|newspaper=Rocky Mountain News|date=November 12, 2001|page=8.D}}</ref> [[Christina Aguilera]],<ref>{{harvnb|Dominguez|2003|p=26}}</ref> [[Crystal Kay]],<ref>{{citechú thích web|title=Now Hear This Yokohama-based teen pop singer among the promising|newspaper=Asahi Evening News|page=1|date=January 1, 2003|issn=0025-2816}}</ref> [[Kelly Rowland]],<ref>{{citechú thích web|title=Five Minutes With: Kelly Rowland|newspaper=[[Lincolnshire Echo]]|date=July 1, 2010|page=11}}</ref> [[Rihanna]]<ref>{{citechú thích web|last=Collins|first=Hattie|title=Janet Jackson on surviving the family circus and missing Michael|url=http://entertainment.timesonline.co.uk/tol/arts_and_entertainment/music/article6931756.ece|work=The Sunday Times |location=UK |date=November 29, 2009|accessdate=November 28, 2009}}</ref> và ca sĩ người Brazil [[Kelly Key]]<ref>{{citechú thích web|url=http://www.universomusical.com.br/materia.asp?mt=sim&id=170&cod=po|title=Kelly Key busca o sucesso de Christina Aguilera, Jennifer Lopez, Britney Spears, Madonna e Janet Jackson|work=Universo Musical|accessdate=January 7, 2012}}</ref> đều gọi bà là nguồn cảm hứng lớn nhất, trong khi [[Rozonda Thomas|Rozonda "Chilli" Thomas]] của nhóm [[TLC (ban nhạc)|TLC]],<ref>{{citechú thích web|author=Sonia Murray|title=TLC: Struggling in the Spotlightnot|newspaper=Austin American-Statesman|date=July 12, 1999|page=E.1}}</ref> [[Cassie (ca sĩ)|Cassie]],<ref name="Cassie">{{citechú thích web| last= Bobbin | first= Jay | title= Imitation nation; World of pop music filled with copycats | newspaper=Chicago Tribune | page=54 | date= August 9, 2006|issn=1085-6706}}</ref> [[Nicki Minaj]],<ref>{{citechú thích web|author=Jessica Herndon|title=Nicki Minaj's Top 5 Style Idols|newspaper=People|volume=74|issue=21|date=December 6, 2010|page=58|issn=0093-7673}}</ref> [[Keri Hilson]],<ref>{{citechú thích web|title=Keri Hilson&nbsp; — Keri Hilson Respects Tlc's Image|url=http://www.contactmusic.com/news.nsf/story/keri-hilson-respects-tlcs-image_1224124|publisher=[[Contactmusic.com]]|date=June 6, 2011|accessdate=June 6, 2011}}</ref> và DJ [[Havana Brown (DJ)|Havana Brown]],<ref>{{citechú thích web|author=Lauren Alpe|title=Interview&nbsp; — Havana Brown|url=http://www.mtv.com.au/news/575712f9-havana-brown-interview/|publisher=MTV News|date=June 13, 2011|accessdate=June 13, 2011}}</ref> cũng lên tiếng về sự ảnh hưởng của bà. Elysa Gardner của ''USA Today'' gọi "vũ đạo nhạy bén, náo nhiệt, nữ tính nhưng cũng mang tính dữ dội của [[chủ nghĩa nữ giới]] hiện đại, là dấu ấn từ lâu trong phong cách trình diễn của bà" đã ảnh hưởng tới nhiều lớp ca sĩ ngày nay.<ref>{{citechú thích web|author=Elysa Gardner|title=Luscious Jackson|newspaper=USA Today|date=July 28, 2000|page=1.E|issn=0734-7456}}</ref> Adrienne Trier-Bieniek khẳng định "nhiều học giả tìm thấy nguồn gốc của chủ nghĩa nữ giới da màu trong văn hóa đại chúng ở Janet Jackson", để lại dấu ấn tới nhiều ngôi sao nhạc pop khác.<ref>{{harvnb|Trier-Bieniek|2016|p=181}}</ref> Những người tiếp nối bà thường được nhắc tới bằng cụm từ "Janet-come-lately's."<ref>{{citechú thích web|author=Gemma Tarlach|title=Janet Jackson takes her place as Queen of Pop|newspaper=[[Milwaukee Journal Sentinel]]|date=October 17, 2001|page=12.B}}</ref><ref>{{citechú thích web|author=Sarah Rodman|title=MonsterJam Lacks Star Power|newspaper=Boston Globe|date=October 31, 2006|page=E.7|issn=0743-1791}}</ref> Những nghệ sĩ khác thường được so sánh với bà bao gồm [[Mýa]],<ref>{{citechú thích web|author=Chuck Taylor|title=Mya: For Free|newspaper=Billboard|volume=112|issue=47|date=November 18, 2000|page=1|issn=0006-2510}}</ref> [[Brandy Norwood|Brandy]],<ref>{{citechú thích web| title = Afrodisiac > Overview | publisher=Allmusic | year = 2006 | url = {{Allmusic|class=album|id=r693848|pure_url=yes}}| accessdate = February 22, 2009}}</ref> [[Tatyana Ali]],<ref>{{citechú thích web| title = Kiss the Sky > Overview | publisher=Allmusic | year = 2006 | url = {{Allmusic|class=album|id=r374155|pure_url=yes}}| accessdate = February 22, 2009}}</ref> [[Christina Milian]],<ref>{{citechú thích web|author=Barry Walters|title=It's About Time|newspaper=Rolling Stone|date=July 2004|page=120|issn=0035-791X}}</ref> [[Lady Gaga]],<ref>{{citechú thích web|author=Kyle Anderson|url=http://newsroom.mtv.com/2010/09/10/lady-gaga-madonna-janet-jackson-vma-video/|title=Lady Gaga Just Like 'Madonna And Janet Jackson,' Says Mark Ronson|publisher=MTV|date=September 10, 2010|accessdate=June 8, 2011}}</ref> [[Namie Amuro]]<ref>{{citechú thích web|author=Kishin Shinoyama|title=Tokyo glamorama|newspaper=Harper's Bazaar|page=312|date=Oct 2000}}</ref> và [[BoA]].<ref>{{citechú thích web|title=Korean Pop Star BoA Prepares U.S. Takeover|url=http://www.rap-up.com/2008/09/23/korean-pop-star-boa-prepares-us-takeover/|newspaper=[[Rap-Up]]|accessdate=April 19, 2011}}</ref> Nhà xã hội học Shayne Lee bình luận "khi Janet bước tới điểm xế chiều của triều đại Nữ hoàng nhạc Pop gợi cảm, [[Beyoncé Knowles]] nổi lên như người kế nhiệm."<ref name="ER" /> Joan Morgan của tạp chí ''Essence'' có viết: " ''Control'', ''Rhythm Nation 1814'' và ''janet.'' cho thấy nữ ca sĩ kiêm vũ công thiết lập lại tiêu chuẩn văn hóa đại chúng mà ta thấy hiện nay."<ref>{{citechú thích web|author=Joan Morgan|title=Before Sunset|newspaper=Essence|date=August 2010|page=106}}</ref>
 
==Thành tựu==
Với hơn 100 triệu đĩa nhạc được tiêu thụ, Jackson là một trong [[Danh sách nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa nhạc chạy nhất|những nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất]] lịch sử âm nhạc đương đại.<ref>{{chú thích web|title=Janet Jackson's Greatest Hits Celebrated on NUMBER ONES|url=http://www.prnewswire.com/news-releases/janet-jacksons-greatest-hits-celebrated-on-number-ones-64079852.html|accessdate=20 July 2016|publisher=[[PR Newswire]]|date=13 October 2009}}</ref><ref>{{chú thích web|title=Janet Jackson Blames Dr. Conrad Murray for Michael's Death|url=http://abcnews.go.com/Entertainment/InTheSpotlight/janet-jackson-blames-dr-conrad-murray-michaels-death/story?id=9069859|accessdate=20 July 2016|publisher=[[ABC News]]|date=16 November 2009}}</ref><ref>{{chú thích web|title=Janet Jackson talks about life after Michael|url=http://www.mirror.co.uk/3am/celebrity-news/janet-jackson-talks-about-life-after-245151|accessdate=20 July 2016|publisher=[[Daily Mirror]]|date=27 January 2012}}</ref> Tạp chí ''[[Billboard]]'' bình chọn Jackson là nghệ sĩ thành công thứ 9 trong lịch sử Rock n Roll và nữ nghệ sĩ thành công thứ hai trong lịch sử nhạc pop.<ref>{{Citechú thích web|title=UOMO Producer Helps Propel Janet Jackson to #1 in the US| publisher=[[Business Wire]] |url=http://www.businesswire.com/portal/site/google?ndmViewId=news_view&newsId=20080310005488&newsLang=en| date=March 10, 2008}}</ref> Bà xếp thứ 77 trong danh sách "100 người phụ nữ vĩ đại nhất dòng nhạc Rock and Roll", vị trí thứ 134 trong "200 biểu tượng văn hóa pop vĩ đại nhất",<ref>{{Citechú thích web|title=200 Greatest Pop Culture Icons of All Time|url=http://www.vh1.com/shows/the_greatest/episode.jhtml?episodeID=68034|publisher=[[VH1]]|accessdate=February 28, 2011}}</ref> vị trí thứ 7 trong "100 người phụ nữ vĩ đại nhất trong âm nhạc"<ref>{{Citechú thích web|title=VH1's 100 Greatest Women In Music|url=http://www.vh1.com/music/tuner/2012-02-13/vh1s-100-greatest-women-in-music-complete-list/|publisher=VH1|date=February 13, 2012|accessdate=February 22, 2012}}</ref> và vị trí Á quân trong "50 người phụ nữ vĩ đại nhất kỷ nguyên video" do [[VH1]] bình chọn.<ref>{{Citechú thích web|title=50 Greatest Women of the Video Era|url=http://www.vh1.com/shows/the_greatest/episode.jhtml?episodeID=66355|publisher=[[VH1]]|accessdate=February 28, 2011}}</ref>
 
Bà là nữ nghệ sĩ duy nhất trong lịch sử ''Billboard'' Hot 100 sở hữu 18 đĩa đơn top 10 liên tiếp, từ "Miss You Much" (1989) đến "I Get Lonely" (1998).<ref name="all 4 janet">{{Citechú thích web|author=Melinda Newman|title=Achievement Award is 'All' for Jackson|newspaper=billboard|volume=113|issue=49|date=December 8, 2001|page=28|issn=0006-2510}}</ref> Tạp chí này xếp bà ở vị trí thứ 7 trong danh sách "''Billboard'' Hot 100 All-Time Top Artists", giúp bà là nữ nghệ sĩ đơn ca thành công thứ ba lịch sử bảng xếp hạng đĩa đơn Hoa Kỳ, đứng sau Madonna và [[Mariah Carey]].<ref>{{Citechú thích web|url=http://www.billboard.com/bbcom/specials/hot100/charts/top100-artists-20.shtml | title=Billboard Hot 100 Chart 50th Anniversary |newspaper=Billboard|accessdate=October 1, 2009}}</ref> Bà đứng hàng thứ 5 trong danh sách "Top 50 R&B / Hip-Hop Artists of the Past 25 Years" do tạp chí này tổng hợp vào tháng 11 năm 2010; dựa vào 15 đĩa đơn quán quân trong 25 năm, 27 đĩa đơn top 10 từ năm 1985 tới 2001 và 33 bài hát top 40 từ năm 1985 tới 2004.<ref name="top rnb artists">{{Citechú thích web|url=http://www.billboard.com/#/column/the-juice/the-top-50-r-b-hip-hop-artists-of-the-past-1004127916.story | title=The Top 50 R&B / Hip-Hop Artists of the Past 25 Years&nbsp; — Billboard Underground |author1=Trust, Gary |author2=Caulfield, Keith |author3=Ramirez, Rauly |newspaper=Billboard |date=November 18, 2010 |accessdate=November 18, 2010 }}</ref> Giành chiến thắng 33 [[Billboard Music Award|giải thưởng Âm nhạc ''Billboard'']], bà nằm trong số những nghệ sĩ hiếm hoi như Madonna, [[Aerosmith]], [[Garth Brooks]] và [[Eric Clapton]], được tạp chí này ghi công "định hình nên phạm vi âm nhạc đại chúng."<ref name="all 4 janet" /><ref name="BMA1">{{Citechú thích web|author=Nick Goumond|title=Rihanna, Eminem, Lady Gaga score double digit Billboard Music Awards noms|url=http://www.goldderby.com/music/news/1397/rihanna-eminem-lady-gaga-score-double-digit-billboard-music-awards-noms.html|publisher=goldderby.com|date=April 14, 2011|accessdate=April 16, 2011}}</ref> Tháng 10 năm 2015, Jackson nhận đề cử bổ nhiệm vào [[Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll]].<ref name=RRHF>{{citechú thích news|author=Lisa Respers France|title=Janet Jackson, N.W.A., Los Lobos among Rock and Roll Hall of Fame nominees|url=http://www.cnn.com/2015/10/08/entertainment/rock-roll-hall-of-fame-nominees-feat/|publisher=CNN|date=October 8, 2015|accessdate=October 8, 2015}}</ref>
 
==Danh sách đĩa nhạc==
===Thư mục===
{{Refbegin|30em}}
*{{citechú thích book|last=Andriessen|first=Louis|author2=Maja Trochimczyk|title=The music of Louis Andriessen|publisher=Routledge|year=2002|isbn=978-0-8153-3789-8|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last1=Brackett|first1=Nathan|last2=Hoard|first2=Christian David|title=The New Rolling Stone Album Guide|publisher=[[Simon & Schuster]]|year=2004|isbn=0-7432-0169-8|ref = harv}}
*{{citechú thích book |first=Smith-Shomade|last=Beretta E.|title=Shaded Lives: African-American Women and Television|publisher=Rutgers University Press|year=2002|isbn= 9780813531052|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Cornwell|first=Jane|title=Janet Jackson|publisher=[[Carlton Books]]|year=2002|isbn=1-84222-464-6|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Cullen|first=Jim|title=Popular Culture in American History|publisher=[[Blackwell Publishing]]|year=2001|isbn=0-631-21958-7|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Cutcher|first=Jenai|title=Feel the Beat: Dancing in Music Videos|publisher=The Rosen Publishing Group|year=2003|isbn= 0-8239-4558-8|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Dean|first=Maury|title=Rock-N-Roll Gold Rush|publisher=Algora Publishing|year=2003|isbn=0-87586-207-1|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=DeCurtis|first=Anthony|title=Present tense: rock & roll and culture|publisher=[[Duke University Press]]|year=1992|isbn=978-0-8223-1265-9|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Gaar|first=Gillian G|title=She's a rebel: the history of women in rock & roll|publisher=Seal Press|year=2002|isbn=1-58005-078-6|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last1=Gates|first1=Henry Louis|last2=Appiah|first2=Anthony|title=Africana: The Encyclopedia of the African and African American|publisher=Basic Civitas Books|year=1999|isbn=0-465-00071-1|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Goren|first=Lilly|title=You've Come A Long Way, Baby: Women, Politics, and Popular Culture|publisher= University Press of Kentucky|year=2009|isbn=978-0-8131-2544-2|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last1=Halstead|first1=Craig|last2=Cadman|first2=Chris|title=Jacksons Number Ones|publisher=Authors On Line|year=2003|isbn=0-7552-0098-5|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Jaynes|first=Gerald David|title=Encyclopedia of African American Society|publisher=[[Sage Publications]]|year=2005|isbn=0-7619-2764-6|ref = harv}}
*{{citechú thích book |first1=Helmi|last1=Järviluoma |first2=Pirkko|last2=Moisala |first3=Anni|last3=Vilkko |title=Gender and Qualitative Methods|publisher=[[Sage Publications]]|year=2003|isbn=978-0-7619-6585-5|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last1=Kramarae|first1=Cheris|last2=Spender|first2=Dale|title=Routledge International Encyclopedia of Women: Global Women's Issues and Knowledge|publisher=Routledge|year=2000|isbn=0-415-92091-4|ref = harv}}
*{{Citechú thích book|last=Lee|first=Shayne|title=Erotic Revolutionaries: Black Women, Sexuality, and Popular Culture|publisher=Government Institutes|year=2010|isbn=978-0-7618-5228-5|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last1=Love|first= Roger|last2=Frazier|first2=Donna |title=Set Your Voice Free: How To Get The Singing Or Speaking Voice You Want|publisher=[[Little, Brown and Company]]|year=2009|isbn=978-0-316-09294-4|ref = harv}}
*{{Citechú thích book|last=Miller|first=Michael|title=The Complete Idiot's Guide to Music History|publisher=Penguin Group|year=2008|isbn=978-1-59257-751-4|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last1=Mitoma|first1=Judy|last2=Mitoma|first2=Judith|last3=Zimmer|first3=Elizabeth|last4=Stieber|first4=Dale Ann|last5=Heinonen|first5=Nelli|last6=Shaw|first6=Norah Zuniga|title=Envisioning dance on film and video|publisher=Routledge|year=2002|isbn=0-415-94171-7|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last1=Reynolds|first1=Simon|last2=Press|first2=Joy|title=The Sex Revolts: Gender, Rebellion, and Rock 'n' Roll|publisher=Harvard University Press|year=1996|isbn=978-0-674-80273-5|ref = harv}}
*{{Citechú thích book|last=Rischar|first=Richard |title=A Vision of Love: An Etiquette of Vocal Ornamentation in African-American Popular Ballads of the Early 1990s|journal=American Music|volume=22|publisher=[[University of Illinois Press]]|issue=3|year=2004|doi=10.2307/3592985|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Ripani|first=Richard J|title=The New Blue Music: Changes in Rhythm & Blues, 1950–1999|publisher=University Press of Mississippi|year=2006|isbn=1-57806-862-2|ref = harv}}
*{{citechú thích book |first=David |last=Ritz |year=2004 |title=The Naked Truth| publisher = Upscale|ref = harv}}
*{{Citechú thích book|last=Scheurer|first=Timothy E. | title = Born in the USA: The Myth of America in Popular Music from Colonial Times to the Present | publisher=[[University Press of Mississippi]] | year = 2007 | isbn =978-1-934110-56-0|ref = harv}}
*{{Citechú thích book|last=Smith|first=Jessie Carney |title=Encyclopedia of African American Popular Culture|publisher=ABC-CLIO|year=2010|isbn=978-0-313-35797-8|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Smith|first=Jessie Carney|title=Notable Black American Women, Volume 2|publisher=[[Gale (Cengage)|Gale]]|year=1996|isbn=978-0-8103-9177-2|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last1=Starr|first1=Larry|last2=Waterman|first2=Christopher Alan|title=American Popular Music: The Rock Years|publisher=Oxford University Press|year=2006|isbn=978-0-19-530052-9|ref = harv}}
*{{citechú thích book |first1=Jordan|last1=Stephanie |first2=Dave|last2=Allen |title=Parallel Lines: Media Representations of Dance|publisher=Indiana University Press|isbn=9780861963713|year=1993|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Strong|first=Martin Charles|title=The Great Rock Discography: Complete Discographies Listing Every Track Recorded by More Than 1200 Artists|publisher=Canongate U.S.|year=2004|isbn=1-84195-615-5|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last1=Tannenbaum|first1=Rob|last2=Marks|first2=Craig|title=[[I Want My MTV: The Uncensored Story of the Music Video Revolution]]|publisher=[[Dutton Penguin]]|year=2011|isbn=978-1-101-52641-5}}
*{{citechú thích book|last1=Vincent|first1=Rickey|last2=Clinton|first2=George|title=Funk: The Music, The People, and The Rhythm of The One|publisher=Macmillan|year=1996|isbn=0-312-13499-1|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Warner|first=Jay|title=On this Day in Black Music History|publisher=[[Hal Leonard]]|year=2006|isbn=0-634-09926-4|ref = harv}}
*{{citechú thích book |first=Jean M.|last=Twenge|title=Generation Me: Why Today's Young Americans are More Confident, Assertive, Entitled—and More Miserable Than Ever Before|isbn=9781476755564|publisher=[[Simon & Schuster]]|year=2007|ref = harv}}
*{{citechú thích book |first=James Robert|last=Parish|title=Today's black Hollywood|publisher=Pinnacle Books|year=1995|isbn=978-0-8217-0104-1|ref = harv}}
*{{citechú thích book |last=Garofalo|first=Reebee|title=From Music Publishing to MP3: Music and Industry in the Twentieth Century|journal=American Music|volume=17|issue=3|year=1999|doi=10.2307/3052666|ref = harv}}
*{{citechú thích book |last=Mahon|first=Maureen|title=Right to Rock: The Black Rock Coalition and the Cultural Politics of Race|publisher=Duke University Press|year=2004|isbn=978-0-8223-3317-3|ref = harv}}
*{{citechú thích book |last=Reynolds|first=Simon |title=Bring the Noise: 20 Years of Writing About Hip Rock and Hip Hop|publisher=Soft Skull Press|year=2011|isbn=978-1-59376-401-2|ref = harv}}
*{{citechú thích book |last=Nickson|first=Chris |title=Usher: The Godson of Soul|publisher=Simon and Schuster|year=2005|isbn=978-1-4169-0922-4|ref = harv}}
*{{citechú thích book | last = Sutherland | first = William | title = Aaliyah Remembered | publisher=Trafford Publishing | year = 2005 |isbn = 978-1-4120-5062-3|ref = harv}}
*{{citechú thích book | last=Dominguez|first=Pier|title=Christina Aguilera: A Star is Made: The Unauthorized Biography|publisher=Amber Books Publishing|year=2003|isbn=978-0-9702224-5-9|ref = harv}}
*{{citechú thích book | last=Trier-Bieniek|first=Adrienne |title=The Beyonce Effect: Essays on Sexuality, Race and Feminism|publisher=McFarland|year=2016|isbn= 978-0-7864-9974-8|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Bronson|first=Fred|authorlink=Fred Bronson|title=The Billboard Book of Number One Hits|publisher=Billboard Books|year=2003|isbn=0-8230-7677-6|ref = harv}}
*{{citechú thích book|last=Hyatt|first=Wesley|title=The Billboard Book of Number One Adult Contemporary Hits|publisher=Billboard Books|year=1999|isbn=0-8230-7693-8|ref = harv}}
{{Refend}}
 
48.517

lần sửa đổi