Khác biệt giữa các bản “Chim lội”

Không thay đổi kích thước ,  3 năm trước
n
→‎top: replaced: lí do → lý do using AWB
n (AlphamaEditor, Executed time: 00:00:02.0140053)
n (→‎top: replaced: lí do → lý do using AWB)
Nhiều loài chim lội kích thước nhỏ sống ở vùng ven biển. ''[[Calidris minutilla]]'' là loài nhỏ nhất trong số này; chim trưởng thành chỉ có khối lượng 15,5 g và chỉ dài 13 cm. Người ta cho rằng loài lớn nhất là loài [[rẽ mỏ cong hông nâu]] (''Numenius madagascariensis'') với chiều dài 63 cm và khối lượng 860 g. Tuy nhiên, loài ''[[Esacus magnirostris]]'' mới là loài có khối lượng cơ thể lớn nhất, đạt 1 kg.
 
Theo [[phân loại Sibley-Ahlquist]], chim lội và nhiều nhóm chim khác được nhập làm một bộ lớn là [[bộ Hạc]]. Tuy nhiên, cách phân loại bộ Charadriiformes là một trong những điểm hạn chế nhất của phân loại Sibley-Ahlquist bởi do [[lai phân tử|lai phân tử ADN]] không thể giải đáp thoả đáng mối quan hệ qua lại trong nhóm. Trước đây, người ta xếp các loài chim lội vào chung một phân bộ là '''Charadrii''' nhưng việc làm này có vẻ mang tính "[[phân loại kiểu sọt rác]]" (tức là dồn chung các loài vào một chỗ do không biết phải xếp chúng ở nơi nào khác) bởi có không dưới bốn nòi charadrii trong [[cận ngành]] được gộp vào đây. Căn cứ vào các nghiên cứu về sau (Ericson & ctg, 2003; Paton & ctg, 2003; Thomas & ctg, 2004a, b; van Tuinen & ctg, 2004; Paton & Baker, 2006), có thể chia chim lội thành:
[[Hình:Roosting waders Roebuck Bay.jpg|nhỏ|Chim lội đậu tại bãi biển lúc thuỷ triều cao]]
[[Hình:Waders in flight Roebuck Bay.jpg|nhỏ|Những con chim lội đang bay.]]