Khác biệt giữa các bản “Marder III”

Không thay đổi kích thước ,  4 năm trước
n
→‎Bối cảnh: replaced: lí → lý using AWB
n (→‎Marder III Ausf.M, Sd.Kfz. 138: chính tả, replaced: ỏ → ở using AWB)
n (→‎Bối cảnh: replaced: lí → lý using AWB)
Ngay trong những giai đoạn đầu của [[chiến dịch Barbarossa]], quân đội Đức đã cảm thấy cần những phương tiện chống tăng mạnh mẽ và linh động hơn pháo chống tăng kéo Pak 36 hay pháo tự hành chống tăng [[Panzerjäger I]].Điều này càng trở nên cần thiết khi vào tháng 6 năm 1941 đạn chống tăng không thể xuyên thủng giáp tăng T-34 và KV-1 của quân đội [[Liên Xô]].
 
Để giải quyết tạm thời tình hình, quân dội Đức quyết định lấy thân xe Lorraine (Marder I), Panzer II (Marder II) và Panzer 38(t) để làm khung tăng chế tạo các loại pháo tự hành chống tăng.Kết quả chính là dòng Marder-được trang bị pháo 76.2mm F-22 đời 1936 của quân đội Liên Xô hoặc pháo chống tăng [[75 mm PaK 40]] cho các phiên bản sau.Bởi vì trọng lượng và khoảng trống phân bố không hợp của thân tăng nhỏ này nên Marder không được bọc giáp đầy đủ.Chỉ có phần trước và sườn là được bọc giáp mỏng.Tất cả các mẫu Marder đều có phần tháp pháo mở.Một vài chiếc được gắn vải bạt nhằm bảo vệ kíp lái khỏi thời tiết khắc nghiệt.
 
== Lịch sử phát triển ==