Khác biệt giữa các bản “Khiết Đan”

 
===Suy tàn và diệt vong===
Đầu thế kỷ thứ 12, nước Liêu bước vào giai đoạn suy tàn. Năm 1114, một thủ lĩnh của tộc người Nữ Chân là Hoàn Nhan A Cốt Đả (Wanyan Aguda) mang đại quân cướp đất Đại Liêu, một năm sau dựng nên nhà [[Kim]]. Triều Kim đã hạ lệnh giết sạch những người Khiết Đan phản kháng, trong đó có một cuộc chém giết kéo dài hơn 1 tháng. Một bộ phận dân tộc Khiết Đan ở lại lãnh thổ của họ, hòa huyết với người [[Nữ Chân]]. Một bộ phận người Khiết Đan khác theo hoàng thân Gia Luật Đại Thạch di tản về phía Tây, dựng nên nước Ha Lạt Khiết Đan tức triều [[Tây Liêu]] ở giữa Trung Á và [[Tân Cương]]. Nước này cũng có một thời cường thịnh nhưng cuối cùng bị đại quân [[Mông Cổ]] của [[Thành Cát Tư Hãn]] tiêu diệt. Những tàn dân Khiết Đan lại chạy về miền Nam của Iran ngày nay lập nên vương triều Khởi Nhi Man (Qierman). Không lâu sau, vương triều này cũng chịu chung số phận của vương triều Khiếttàn Đanlụi. Dưới sự cai trị của Mông Cổ, các cuộc chinh chiến liên miên khiến cho tộc người thiện chiến Khiết Đan phần lớn bỏ thây nơi chiến địa, số còn lại phân tán khắp nơi và nhanh chóng bị dân cư địa phương đồng hóa.
 
==Hậu duệ của dân tộc Khiết Đan==
12.554

lần sửa đổi