Khác biệt giữa các bản “Mã Hy Sùng”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
Mã Hy Sùng không ứng phó được, đến ngày Tân Dậu (3) tháng 11, tức 4 tháng 12, Mã Hy Sùng cùng tông tộc và tướng tá tổng cộng hơn một nghìn người đau buồn xuống tàu, tiếng khóc vang vọng núi sông. Mã Hy Ngạc sau đó cũng bị triệu đến Kim Lăng. Hoàng đế Nam Đường cho Mã Hy Sùng làm Vĩnh Thái <ref group="c">永泰, trị sở nay thuộc [[An Khánh, An Huy|An Khánh]], [[An Huy]]</ref> tiết độ sứ, kiêm Thị trung, trấn thủ Thư châu (舒州).<ref name=TTTG290/>
 
Sau đó, Mã Hy Sùng và gia đình được cho đến cư trú tại Dương châu<ref group="c">揚州, nay thuộc [[Dương Châu]], [[Giang Tô]]</ref>.<ref name=SGCQ69/> Năm 956, [[Hậu Chu]] tấn công Nam Đường, Dương châu thất thủ trước quân Hậu Chu. Hoàng đế [[Quách Vinh]] của Hậu Chu ra chiếu an ủi vỗ về Mã Hy Sùng (cùng với Vương Kế Nghi-con của cựu hoàng nước Mân là [[Vương Diên Chính]]). Mã Hy Sùng dâng thiếp là Dương thị cho tướng Hậu Chu là Hàn Lệnh Khôn (韓令坤).<ref name=TTTG293/> Đến khi quân Hậu Chu rút đi, Mã Hy Sùng đem 17 huynh đệ đến thủ đô [[Khai Phong|Đại Lương]] của Hậu Chu, được phong chức là Hữu vũ lâm thống quân.<ref name=NHFD66>''[[Tân Ngũ Đại sử]]'', [[:zh:s:新五代史/卷66|quyển 66]].</ref>
 
== Chú thích ==