Khác biệt giữa các bản “Khiết Đan”

n
r2.5.2) (robot Thay: zh:契丹族; sửa cách trình bày
n (robot Thêm: bg:Хидани)
n (r2.5.2) (robot Thay: zh:契丹族; sửa cách trình bày)
'''Khiết Đan''' hay '''Khất Đan''' (chữ Hán: ''契丹'') là [[âm Hán-Việt]] tên gọi của một dân tộc du mục '''Khitan''' ({{lang-fa|ختن}}) (còn được phiên âm là '''Khitai''' hay '''Kidan'''), từng tồn tại ở [[Trung Á]] và Bắc Á. Dân tộc này từng phát triển thành tổ chức quốc gia [[Nhà Liêu|Liêu quốc]], tồn tại và kiểm soát phía bắc Trung Quốc giai đoạn 907-1125<ref>{{cite web|url=http://en.invest.china.cn/english/culture/67467.htm|title=Kingdom of Khitans: Sudden Rise, Sudden Fall | publisher=''[[China Daily]]''|date=2003-06-19|accessdate=2008-12-15}}</ref>. Sau khi bị người [[Nữ Chân]] đánh bại, họ chuyển sang phía tây và giữ được tổ chức nhà nước, được sử [[Trung Quốc]] gọi là [[Tây Liêu]], các tài liệu phương Tây gọi là [[Tây Liêu|Hãn quốc Kara Khitai]]. Vương quốc này tồn tại từ 1125 cho đến khi bị [[đế quốc Mông Cổ]] tiêu diệt vào năm 1218.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Các tài liệu sử của Trung Quốc cho rằng nguồn gốc của dân tộc Khiết Đan bắt nguồn từ một nhánh du mục [[rợ Hồ|Đông Hồ]] hoặc [[Hung Nô]]. Sách [[Ngụy thư]] lần đầu tiên ghi nhận, vào thời [[Bắc Ngụy]], người Khiết Đan là một dân tộc thượng võ, dũng mãnh, phát triển mạnh lên và di chuyển địa bàn sinh sống này dọc theo vùng thượng lưu sông Liêu.
 
Từ ''Китай'' trong [[tiếng Nga]], ''Cathay'' trong [[tiếng Anh]], ''Catai'' trong [[tiếng Bồ Đào Nha]], ''Catay'' trong [[tiếng Tây Ban Nha]] đều có nghĩa "Trung Quốc" và đều bắt nguồn từ tên gọi của dân tộc này.
 
== Lịch sử ==
=== Hình thành và phát triển ===
Từ các giả thuyết trên đã dẫn đến những giả thuyết khác biệt về sự hình thành của dân tộc Khiết Đan<ref>[http://www.hanmong.or.kr/Notice/download.asp?Key=72 Status of Research and Research Direction of Khitan Studies]</ref>. Phổ biến nhất là người Khiết Đan vốn xuất phát từ tộc [[Tiên Ti]], sau đó hình thành như một bộ lạc nhánh của tộc [[Khố Mặc Hề]] (''Kumo Xi''), sinh sống ở lưu vực sông Hoàng Thủy thuộc thượng du sông Liêu (ngày nay là sông Tây Thích Mục Luân của vùng Nội Mông). Đến năm [[388]], họ phát triển hùng mạnh và chinh phục các bộ lạc xung quanh. Cùng với sự phát triển của tộc [[Tiên Ti]] trở thành vương triều [[Bắc Ngụy]], kiểm soát miền Bắc Trung Quốc, tộc Khiết Đan cũng trở nên hùng mạnh và được ghi nhận lần đầu trong lịch sử. <ref>Xu Elina-Qian 2005, p.258</ref>
 
=== Thời kỳ liên minh bộ lạc ===
Suốt từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 7, người Khiết Đan thường xuyên bị sự chèn ép từ phía Nam (các triều đình [[Nam-Bắc triều (Trung Quốc)|Bắc triều]], [[nhà Tùy]], [[nhà Đường]]). Thời vua [[Đường Thái Tông]], chính quyền nhà Đường đã thiết lập Tùng Mạc Đô đốc phủ ở đây, đồng thời ban cho thủ lĩnh của họ (một người họ Lý) đảm nhận chức Đô đốc. Vào thế kỷ thứ 8 và thứ 9, tộc Khiết Đan dần dần lớn mạnh nhưng vẫn bị các dân tộc hùng mạnh lân cận ở phía Tây ([[Đột Quyết]], [[Người Duy Ngô Nhĩ|Duy Ngô Nhĩ]], thậm chí từ vương quốc [[Cao Câu Ly]] ở phía Đông, khống chế và gây áp lực. Để chống lại, từ những bộ lạc du mục nhỏ, sinh sống bằng chăn nuôi và đánh bắt cá, họ đã liên kết với nhau thành một liên minh 8 bộ lạc lớn. Cuối đời Đường, khi mà vùng Trung Nguyên bắt đầu bị chiến tranh loạn lạc thì người Khiết Đan nhân cơ hội này vùng dậy, trở thành một thế lực rất hùng mạnh ở vùng đất hoang vu phía Bắc (vùng Nội Mông), thường xuyên xâm nhập vào miền Bắc Trung Quốc để bắt người Hán về làm ruộng và thu thuế. Người Khiết Đan cũng bắt đầu học hỏi bắt chước người Hán cách thức tổ chức chính quyền và sáng chế văn tự.
 
=== Lập quốc và cường thịnh ===
[[Tập tin:10 songmapxknine9.PNG|nhỏ|200px|Bản đồ vị trí giữa [[Nhà Liêu|Liêu]], [[Nhà Tống|Tống]] và [[Tây Hạ]].]]
Năm 907, một thủ lĩnh của bộ lạc Điệt Thích tên là [[Gia Luật A Bảo Cơ]] (Yelii Abaoji) được bầu là thủ lĩnh của liên minh 8 bộ lạc. Sau khi nắm quyền thủ lĩnh tối cao, A Bảo Cơ đã dùng vũ lực để thống nhất 8 bộ lạc Khiết Đan, đồng thời xâm chiếm đất Đột Quyết, tiêu diệt tộc Hề, thu phục các bộ lạc nhỏ xung quanh. Năm 916, A Bảo Cơ tự xưng đế kiến quốc, xây dựng một quốc gia chủ nô - nô lệ. Quốc gia Khiết Đan được thành lập, ban đầu có quốc hiệu là Khiết Đan (916-947), sau đấy đổi quốc hiệu là [[Đại Liêu]] (947-983), rồi trở lại thành Khiết Đan (983-1066), cuối cùng lại trở lại là Liêu 1066 cho đến khi diệt vong.
Do một quản lý một quốc gia rộng lớn với nhiều sắc tộc khác nhau, người Khiết Đan đã hình thành một chính sách nổi tiếng về sau: "Một quốc gia, hai chế độ". Chính sách này được tóm tắt bằng câu "Dĩ Quốc chế trị Khiết Đan, dĩ Hán chế đại Hán nhân" (''已國制治契丹,已漢制待漢人''). Quản lý người Khiết Đan thì dựa theo chế độ quý tộc bộ lạc Khiết Đan, quản lý người Hán thì dựa theo thể chế nhà Đường. Chính sách này đã đem lại hiệu quả to lớn, đặc biệt vào đầu thế kỷ 11, quốc gia Khiết Đan đã chuyển đổi hoàn toàn từ chế độ nô lệ sang chế độ phong kiến. Quân đội Khiết Đan hùng mạnh, liên tục uy hiếp [[Bắc Tống]] và [[Tây Hạ]], buộc 2 quốc gia này phải thần phục.
 
=== Suy tàn và diệt vong ===
Đầu thế kỷ thứ 12, nước Liêu bước vào giai đoạn suy tàn. Năm 1114, một thủ lĩnh của tộc người Nữ Chân là Hoàn Nhan A Cốt Đả (Wanyan Aguda), liên kết với [[Bắc Tống]], mang đại quân cướp đất Đại Liêu, một năm sau dựng nên nhà [[Nhà Kim|Kim]]. Nhà Kim đã hạ lệnh giết sạch những người Khiết Đan phản kháng, trong đó có một cuộc chém giết kéo dài hơn 1 tháng. Đến năm 1125 thì hầu hết lãnh thổ Khiết Đan đã bị người Nữ Chân chinh phục. Một bộ phận dân tộc Khiết Đan ở lại lãnh thổ của họ, hòa huyết với người [[Nữ Chân]]. Một bộ phận người Khiết Đan khác theo hoàng thân Gia Luật Đại Thạch di tản về phía Tây, dựng nên nước Ha Lạt Khiết Đan tức triều [[Tây Liêu]] ở giữa Trung Á và [[Tân Cương]]. Nước này cũng có một thời cường thịnh nhưng cuối cùng bị đại quân [[Mông Cổ]] của [[Thành Cát Tư Hãn]] tiêu diệt. Những tàn dân Khiết Đan lại chạy về miền Nam của Iran ngày nay lập nên vương triều Khởi Nhi Man (Qierman). Không lâu sau, vương triều này cũng tàn lụi. Dưới sự cai trị của Mông Cổ, các cuộc chinh chiến liên miên khiến cho tộc người thiện chiến Khiết Đan phần lớn bỏ thây nơi chiến địa, số còn lại phân tán khắp nơi và nhanh chóng bị dân cư địa phương đồng hóa.
 
== Hậu duệ của dân tộc Khiết Đan ==
Khiết Đan từng là một dân tộc lớn nhưng lại không có tên trong số 56 dân tộc Trung Quốc ngày nay. Tuy nhiên bằng phương pháp so sánh phương thức sản xuất, sinh hoạt, tập tục, tôn giáo, ngôn ngữ, lịch sử và dùng kỹ thuật ADN các học giả đã chứng minh tộc người Đạt Oát Nhĩ (Dawr) cư trú tại vùng tiếp giáp giữa Đại Hưng An, Nộn Giang và thảo nguyên Hô Luân Bối Nhĩ (Hulunbeier) chính là hậu duệ của dân tộc Khiết Đan.
 
== Văn hóa và chữ viết ==
Dân tộc Khiết Đan từng sáng tạo ra chữ viết của riêng mình. Khi triều Kim vừa kiến lập, do tộc Nữ Chân không có văn tự riêng nên phải dùng chữ Hán và chữ Khiết Đan. Sau khi văn tự Nữ Chân được tạo ra thì [[hoàng đế]] triều Kim hạ lệnh phế bỏ chữ Khiết Đan, chính vì thế mà văn tự Khiết Đan thất truyền.
 
Ngôn ngữ Khiết Đan (còn gọi là Liêu, Kitan [ISO 639-3]) ngày nay gần như tuyệt chủng giống như sự tồn tại của những người Khiết Đan.
 
== Xem thêm ==
* [[Nhà Liêu]]
* [[Tây Liêu]]
 
== Chú thích ==
{{reflist|2}}
 
 
'''Hậu Khiết Đan'''
* Biran, Michal. ''The Empire of the Qara Khitai in Eurasian History: Between China and the Islamic World'', ISBN 05218422630-521-84226-3
 
'''Các tài liệu sử học cùng thời kỳ'''
{{Sơ khai}}
{{Các tộc người Mông Cổ}}
 
[[thể loại:Lịch sử Mông Cổ]]
[[thểThể loại:Lịch sử TrungMông QuốcCổ]]
[[thểThể loại:Lịch sử MôngTrung CổQuốc]]
[[Thể loại:Các tộc người Mông Cổ]]
 
[[tr:Hitaylar]]
[[uk:Кидані]]
[[zh:契丹]]
164.782

lần sửa đổi