Khác biệt giữa các bản “Hán Minh Đế”

Nguyên tên ông là '''Lưu Dương''' (劉陽), sinh vào ngày [[15 tháng 6]] năm [[28]], là con thứ tư của [[Hán Quang Vũ Đế]] Lưu Tú, mẹ là [[Âm Lệ Hoa|Quang Liệt hoàng hậu]] Âm Lệ Hoa. Ông ra đời khi Quang Vũ đế đã lên ngôi và đang hoàn thành việc đánh dẹp các chư hầu, thống nhất thiên hạ loạn lạc từ cuối thời [[nhà Tân]]. Khi đó, mẹ ông Âm hoàng hậu vẫn đang là phong vị [[Quý nhân]].
 
Năm Kiến Vũ thứ 13 ([[37]]), Lưu Dương được 10 tuổi, Quang Vũ Đế khen ngợi gọi là '''Ngô Quý Tử''' (吴季子), điều này càng làm triều đình chấn động. Ngô Quý Tử, cũng gọi [[Ngô Quý Trát]], là con trai thứ 4 của Ngô vương [[Ngô Thọ Mộng]], vốn dĩ không có tư cách kế thừa Vương vị, nhưng Thọ Mộng lại hi vọng đứa con này kế thừa, cho nên con cả của Thọ Mộng là [[Ngô Chư Phàn]] quyết liệt xin nhường Trữ vị cho Quý Tử, nhưng Quý Tử kiên quyết từ chối<ref>《史记·五帝本纪》季札贤,而寿梦欲立之,季札让不可,于是乃立长子诸樊,摄行事当国。</ref>. Nhìn đây có thể suy ra, Quang Vũ Đế thực sự mong Lưu Dương kế vị, nhưng lại sợ gia tộc họ Âm sẽ là điều liên lụy Lưu Dương, khiến Lưu Dương không thể kế vị. Thế nhưng, Lưu Dương khi nghe xong lại nói:''"Ngu dốt vô cùng!"'', cho thấy thái độ không chịu nhường ai của Lưu Dương<ref>《东观汉记》年十岁通春秋,上循其头曰“吴季子”。阳对曰:“愚戆无比。”阳对曰:“愚戆无比。”及阿乳母以问师傅,曰:“少推诚对。”师傅无以易其辞。</ref>.
Ban đầu ông được phong làm ''Đông Hải công'' (东海公) vào năm [[39]], sau được phong ''Đông Hải vương'' (东海王) năm [[41]]. Bấy giờ Quang Vũ đế đã lập con lớn là [[Lưu Cương]] (劉疆), con của [[Quách Thánh Thông|Quách hoàng hậu]], làm [[Hoàng thái tử]] năm 26.
 
Năm Kiến Vũ thứ 15 ([[39]]), ông được phong làm '''Đông Hải công''' (东海公). Năm thứ 17 ([[41]]), được phong '''Đông Hải vương''' (东海王).
Tuy vậy, Quang Vũ đế rất sủng ái Âm quý nhân mẹ ông. Cộng thêm hoàng tử Lưu Dương từ nhỏ đã thông minh, lanh lợi, nên rất được Quang Vũ đế yêu quý. Từ đó, Quang Vũ đế có ý định phế ngôi vị Thái tử của Lưu Cương để dành cho Lưu Dương. Quang Vũ đế Lưu Tú là người đề cao [[Nho giáo|Nho học]], coi trọng danh phận. Do vậy, việc thay đổi danh vị thái tử không phải là việc dễ dàng. Nhưng chính sự thiển cận của Quách hoàng hậu đã giúp ông. Quách hoàng hậu vốn là người hẹp hòi, thấy Lưu Tú sủng ái Âm quý nhân thì ghen ghét, thường xuyên chửi [[chó]] mắng [[mèo]], kiếm cớ gây sự. Lưu Tú dựa vào cớ đó, phế bỏ Quách hoàng hậu vào năm [[41]] và lập Âm quý nhân làm hoàng hậu. Lưu Cương cảm thấy ngôi thái tử của mình khó giữ nên chủ động đề nghị được nhường ngôi vị. Lưu Tú nhân cơ hội đó lập Lưu Dương làm Thái tử năm [[43]], cải tên thành Lưu Trang (劉莊). Lưu Cương bị giáng phong làm Đông Hải Cung vương.
 
Bấy giờ, Hán Quang Vũ đế đã lập con lớn của [[Quách Thánh Thông|Quách hoàng hậu]] là [[Lưu Cương]] làm [[Hoàng thái tử]]. Tuy vậy, Hán Quang Vũ đế rất sủng ái Âm quý nhân mẹ ông. Cộng thêm hoàng tử Lưu Dương từ nhỏ đã thông minh, lanh lợi, nên rất được Quang Vũ đế yêu quý. Từ đó, Quang Vũ đế có ý định phế ngôi vị Thái tử của Lưu Cương để dành cho Lưu Dương. Quang Vũ đế Lưu Tú là người đề cao [[Nho giáo|Nho học]], coi trọng danh phận. Do vậy, việc thay đổi danh vị thái tử không phải là việc dễ dàng. Nhưng chính sự thiển cận của Quách hoàng hậu đã giúp ông. Quách hoàng hậu vốn là người hẹp hòi, thấy Lưu Tú sủng ái Âm quý nhân thì ghen ghét, thường xuyên chửi [[chó]] mắng [[mèo]], kiếm cớ gây sự. Lưu Tú dựa vào cớ đó, phế bỏ Quách hoàng hậu vào năm Kiến Vũ thứ 17 ([[41]]) và lập Âm quýQuý nhân làm hoàng hậu. Lưu Cương cảm thấy ngôi thái tử của mình khó giữ nên chủ động đề nghị được nhường ngôi vị. Lưu Tú nhân cơ hội đó lập Lưu Dương làm Thái tử năm [[43]], cải tên thành Lưu Trang (劉莊). Lưu Cương bị giáng phong làm Đông Hải Cung vương.
Năm [[57]], ngày [[29 tháng 3]], Quang Vũ đế qua đời, Thái tử Lưu Trang lên nối ngôi, tức là '''Hán Minh đế'''. Khi đó ông đã 29 tuổi.
 
Năm Kiến Vũ thứ 19 ([[43]]), Quang Vũ Đế lập Lưu Dương làm Thái tử, cải tên thành '''Lưu Trang''' (劉莊). Lưu Cương bị giáng phong làm Đông Hải vương.
 
Năm Kiến Vũ trung nguyên thứ 2 ([[57]]), ngày [[29 tháng 3]], Hán Quang Vũ đế qua đời, Thái tử Lưu Trang lên nối ngôi, tức là '''Hán Minh đế'''. Khi đó ông đã 29 tuổi.
 
==Cai trị==