Khác biệt giữa các bản “Cầu Thuận Phước”

- chép
(- chép)
 
'''Cầu thuận Phước''' là cây cầu bắc qua 2 bờ [[sông Hàn]] đổ ra Vịnh Đà Nẵng, nối đường [[Nguyễn Tất Thành]] với [[cầu Mân Quang]], giữa 2 Quận Hải Châu và Sơn Trà thuộc [[thành phố Đà Nẵng]].
Và đã trở thành 1 trong những cây Cầu đẹp nhất Việt Nam.[[Cầu Thuận Phước]] còn là cây cầu dây văng lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á, qua mặt cầu Cần Thơ.
Cầu dây võng Thuận Phước bắc qua đôi bờ sông Hàn, nơi đầu biển cuối sông như biểu tượng của ước mơ và niềm khao khát về chinh phục mọi thử thách, trong quá trình vươn ra biển lớn của một thành phố trẻ. Cầu còn làm nhiệm vụ thông nối liên vùng tuyến đường ven biển Nguyễn Tất Thành và Sơn Trà-Điện Ngọc, là đòn bẩy đánh thức tiềm năng kinh tế và du lịch biển của Đà Nẵng. Cầu Thuận Phước được thiết kế theo mô hình cầu treo dây võng 3 nhịp liên tục, rộng 18m, 4 làn xe; có 2 trụ tháp cao 92m, cách nhau 405m; độ tĩnh không thông thuyền 27m, kết cấu với dầm hộp thép hợp kim suốt toàn bộ nhịp treo dài 655m, chế tạo bằng công nghệ dầm tăng cứng theo tiêu chuẩn quốc tế. Với tổng chiều dài 1.850m (hơn cầu Mỹ Thuận 300m), được đánh giá là cầu treo dài nhất Việt Nam hiện nay.
Thời gian thi công cầu kéo dài 7 năm, tổng vốn đầu tư dự toán là 598 tỷ đồng, sau tăng lên 650 tỷ, 836 tỷ đồng và đến khi hoàn thành gần 1.000 tỷ đồng.
 
== Xây dựng ==
 
== '''Khó Khăn''' ==
-Cầu Thuận Phước là công trình có tầm vóc quy mô lớn với kết cấu cầu dây võng hiện đại. Tuy nhiên, quá trình triển khai thi công gặp nhiều khó khăn trong khâu kỹ thuật và giải pháp. Trong quá trình thiết kế, thi công cây cầu này, đã áp dụng rất nhiều công nghệ mới ở tất cả các hạng mục công trình. Đội ngũ các chuyên gia, kỹ sư, công nhân đã từng bước tiếp cận với công nghệ mới trong nước và thế giới như: công nghệ thi công (CNTC) cọc nhồi đường kính lớn, sản xuất dầm hộp thép, thi công giếng chìm, đổ bê-tông bịt đáy khối lớn, CNTC cầu treo dây võng, công nghệ lớp phủ trên mặt cầu thép... Sự hiển hiện của cây cầu minh chứng cho quyết tâm, tinh thần lao động sáng tạo, sự tập trung trí tuệ của những người con Đà Nẵng để biến cái không thể thành hiện thực.
 
-Trong quá trình xây dựng tại cửa Sông Hàn, nơi sông Hàn đỗ ra Vịnh Đà nẵng, mặt đất dưới đáy sông rất khó khăn cho việc chống 2 trụ cầu. Cầu được xây rất cao nên ảnh hưởng của gió làm cho tiến độ thi công bị giảm nhưng với sự nỗ lực của các kỹ sư và công nhân, cây cầu cũng đã hoàn thành.
 
- dự định sẽ khành thành vào ngày [[30 tháng 4]] năm [[2009]] để mừng kỷ niệm giải phóng miền nam thống nhất đất nước nhưng tiến độ bị giảm vì những khó khăn từ lớp đất bên dưới lòng cửa sông nên cầu khánh thành vào ngày [[19 tháng 7]] năm [[2009]].
 
== '''Công Nghệ''' ==
- Cầu bê-tông cốt thép dự ứng lực (DƯL) Thuận Phước có tổng chiều dài 1.200m. Cầu được thiết kế 12 trụ, gồm 2 dầm hộp bê-tông cốt thép DƯL M500 song song, mỗi dầm hộp có bề rộng mặt 9m, chiều cao dầm 2,5m. Điểm qua các CNTC để chúng ta hiểu hơn ngoài các nguyên nhân khách quan khiến thời gian thi công kéo dài 7 năm, thì việc áp dụng một công nghệ xây cầu hiện đại, phù hợp với địa hình và khí hậu là một nỗ lực rất lớn của đội ngũ kỹ sư, công nhân xây cầu.
CNTC phải kể đến đầu tiên là đổ bê-tông dầm hộp bê-tông cốt thép DƯL khối lớn: Cầu dầm hộp bê-tông cốt thép DƯL Thuận Phước có khối lượng bê-tông mỗi lần đổ từ 250m3 (đối với đoạn 40m) đến 350m3 (đối với đoạn 60m). Công nghệ đổ bê-tông trên đà giáo được áp dụng giống công nghệ cầu Cần Thơ nhưng cầu Thuận Phước có chiều dài nhịp lớn hơn. Trong từng đợt bê-tông được bơm đổ theo phương pháp cuốn chiếu cho toàn bộ chiều dài 60m. Bê-tông được phân thành từng lớp dày từ 20 - 30cm, chiều dài đoạn đổ phân lớp từ 15 - 20m.
Một vấn đề thi công gặp rất nhiều khó khăn cần nhắc đến ở cầu Thuận Phước là công nghệ khoan cọc nhồi đường kính lớn đến 2,5m; thi công giếng chìm và bịt đáy giếng chìm khiến thời gian kéo dài. Cầu có 22 cọc chia cho 2 trụ tháp với đường kính cọc 2,5m, với chiều sâu từ 50 – 60m, âm trong đá gốc 2,5 – 5,0m. Quá trình thi công ở tầng địa chất phức tạp, nước sâu và chảy xiết nên công ty thi công phải sử dụng sà lan, xe cẩu lớn, khung vây và hệ sàn đạo ổn định. Thiết bị khoan rất hiện đại nhưng không thể thực hiện được (do sập thành vách, phá mũi, gãy cần). Sau một thời gian tìm kiếm thiết bị của nhà thầu, cuối cùng máy khoan RCD (ANY) cùng đội ngũ chuyên gia từ Hàn Quốc qua Việt Nam để tham gia khắc phục khó khăn này.
Ngày 14-9-2004, cọc khoan nhồi đầu tiên đã được đổ bê-tông. Theo các kỹ sư thi công, đây là khu vực có địa chất phức tạp, tầng đá cứng nứt nẻ đã gây không ít khó khăn trong việc vệ sinh và bơm vữa mũi cọc, khi thổi vữa cát và đá cuội nhỏ cứ theo nhau đi lên; có cọc công tác thổi rửa vệ sinh mũi cọc tới 10 ngày và khối lượng vữa bơm vào cũng gấp 3-4 lần khối lượng tính toán. Cuối cùng toàn bộ hệ cọc khoan nhồi cũng hoàn thành ngày 31-8-2005.
Giếng chìm là một dạng CNTC mới của ngành Cầu đường Việt Nam. Nhưng giếng chìm cầu Thuận Phước phức tạp hơn nhiều do các bước lắp ghép vỏ thép có kích thước lớn phải dùng cẩu lớn, tay nghề cơ khí cao. Việc hạ giếng chìm ở các đốt từ 1 đến 4 (khoảng 23m) diễn ra suôn sẻ. Nhưng đến đốt thứ 5, mỗi ngày chỉ thi công được khoảng 10cm, và đến đốt 6 giếng chìm hoàn toàn đứng yên, bởi vì đáy giếng chìm đã vào tầng sét.
Vậy là phải dừng lại để nghiên cứu phương án mới. Mẫu địa chất ở đây là lớp đất sét có tính chất rất đặc biệt (liên kết rất chặt, khi lấy ra ngoài cứng và rắn chắc giống như đá phong hóa). Nhà thầu đã cử 30 thợ lặn sử dụng máy cắt sét áp lực cao để bắn phá, ngày đêm lặn hụp dưới đáy giếng di chuyển từng mảng sét lên bờ. Phương án thi công này mất gần một năm trời.
Khi giếng chìm đã ổn định, phương án bịt đáy bắt đầu tiến hành thi công. Phương án đổ bê-tông bịt đáy được chia ra làm 8 lần đổ theo phân ô của giếng chìm, khối lượng cho một lần đổ khoảng 800m3. Phải lắp đặt ván khuôn vách ngăn ở độ sâu -37,5m dưới nước để ngăn ra thành ô. Việc lắp đặt vách ngăn sau khi quan trắc đã chính xác và đạt được độ ổn định khi áp lực bê-tông đạt đến bề dày 4,5m cho ô giếng.
Ở Việt Nam, cầu Thuận Phước là cây cầu dây võng đầu tiên với dầm hộp thép được cấu tạo dạng bản trực hướng, tổng cộng 69 đốt dầm, tổng chiều dài 655m. Theo dự kiến thiết kế ban đầu, lớp phủ mặt thép sẽ dày 7cm bằng bê-tông nhựa thông thường. Nhưng trong quá trình kiểm tra thử nghiệm, phương án này không phù hợp với đặc điểm công trình.
Do kết cấu cầu Thuận Phước là cầu có dầm thép hộp, vào mùa hè, hơi nóng tích lại bên trong dầm hộp kín, làm nhiệt độ của lớp mặt gia tăng. Lớp vật liệu bê-tông nhựa có thể bị mềm, giảm tính năng dính bám cũng như sức chống cắt, dễ dẫn đến hiện tượng trượt tách mặt đường, xô dồn nhựa và biến dạng lún vệt bánh xe. Yêu cầu kỹ thuật là lớp phủ phải có hệ số biến dạng cùng loại thép. Sau một thời gian tiến hành đo nhiệt độ thực tế, chọn mẫu thử đưa đến các phòng thí nghiệm ở Singapore, nhà thầu đã lựa chọn vật liệu là hỗn hợp SMA (sợi khoáng cenlulo, hàm lượng nhựa cao 6,5-7%) và vật liệu bê-tông nhựa Epoxy; bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật cho bản mặt cầu thép...
 
 
== Các Nhà Thầu ==
-Các nhà thầu tham gia dự án:
 
- Tư vấn thiết kế: Cty CP Tư vấn xây dựng 533 + Viện Thiết kế cầu đường số 2 Trung Quốc.
 
- Tư vấn giám sát: Phân viện KHCN GTVT miền Trung + Tổng Cty TVTK GTVT + Cty NCKH Cầu đường Vũ Hán- Trung Quốc.
 
- Nhà thầu thi công: Liên danh Cty Công trình giao thông Đà Nẵng + Cty Cơ khí và xây dựng Thăng Long; Cty Cơ khí xây dựng công trình 623 (MECO 623) + Tập đoàn hợp tác kinh tế kỹ thuật đối ngoại Thượng Hải-SFECO + Tổng Cty xây dựng quốc gia Trung Quốc (CSCEC) + Cty xây dựng nền móng phía Nam Trung Quốc (SFCC) + Cty TNHH xây dựng cầu quốc tế Viễn Đông Thượng Hải (Trung Quốc) + Liên danh MBA gồm 4 công ty ở Đà Nẵng gồm Công ty CP Tư vấn và Đầu tư xây dựng ECC, Công ty CP Tư vấn-Kiểm định-Xây dựng Bách khoa, CT TNHH Thương mại-Xây dựng Quốc Thắng và Xí nghiệp Thi công cơ giới 630-Cienco 6 + Công ty Công trình Đô thị Đà Nẵng.
 
==Thông số==