Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Độ cay của ớt”

→‎Định nghĩa: sai chính tả: ớt, ở
n (replaced: → using AWB)
(→‎Định nghĩa: sai chính tả: ớt, ở)
Để xác lập thang đo, ban đầu Wilbur Scoville pha tinh chất ớt tươi với [[nước]] [[đường (chất)|đường]]. Hợp chất này do một nhóm (thường là năm người) thử, nếu vẫn còn cảm thấy cay thì tiếp tục pha loãng. Khi gần như không còn cảm giác cay nữa thì mức độ pha loãng sẽ được dùng để xác định độ cay của ớt.
 
Chẳng hạn, một loại ớt không có chất capxaixin thì có độ cay bằng không, có nghĩa là ngay cả khi không pha loãng thì cũng vẫn thấy không cay. Đối với các loại ớt cay thì một độ cay 300.000 có nghĩa là tinh chất từ ớt này phải được pha loãng 300.000 lần thì mới không còn cảm nhận được có chất capxaixin.
 
Phương pháp này có điểm yếu là dựa vào cảm nhận chủ quan của người thử vì không phải ai cũng cảm nhận giống nhau (ví dụ người Thái và người châu Âu sẽ cảm nhận độ cay khác nhau).
Người dùng vô danh