Khác biệt giữa các bản “Đinh Cơ”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
n
|chồng = Hán Cung hoàng [[Lưu Khang]]
|con cái = [[Hán Ai Đế]] Lưu Hân
|tước hiệu = [Sơn Dương vương cơ;<br>山陽王姬]<br>[Định Đào vương cơ;<br>定陶王姬]<br>[Cung Hoàng hậu; 恭皇后]<br>[Đế thái hậu; 帝太后]
|cha = Thái thú Đinh công
|sinh = ?
'''Đinh Cơ''' ([[chữ Hán]]: 丁姬), là một người [[thiếp]] của Định Đào Cung vương [[Lưu Khang]], và là mẹ đẻ của [[Hán Ai Đế]] Lưu Hân.
 
== CuộcTiểu đờisử ==
=== Xuất thân ===
Đinh thị người [[Hà Khâu]], quận [[Sơn Dương]] (nay là [[Duyện Châu]], tỉnh [[Sơn Đông]]), huyền tôn nữ của Đại tổ sư [[Kinh Dịch]] là [[Đinh Khoan]] (丁宽), con gái của [[Thái thú]] [[quận Lư Giang]]<ref>《汉书·卷九十七下·外戚传第六十七下》:定陶丁姬,哀帝母也,《易》祖师丁将军之玄孙。家在山阳瑕丘,父至庐江太守。</ref>. Bà làm [[thiếp]] của Lưu Khang khi còn là Sơn Dương vương. Lúc đó, chính thất của Lưu Khang là [[Vương hậu Trương thị]] do là thân thích của [[Phó chiêu nghi (Hán Nguyên Đế)|Phó Thái hậu]] (mẹ của thị là Trịnh thị, em gái cùng mẹ khác cha của Phó Thái hậu) nhưng mãi không có con, nên Đinh Cơ được nạp vào làm thiếp. Khoảng năm Hà Bình thứ 4 ([[25 TCN]]), bà sinh ra Thế tử của Lưu Khang là Lưu Hân<ref>《汉书·卷九十七下·外戚传第六十七下》:始,定陶恭王先为山阳王,而丁氏内其女为姬。王后姓张氏,其母郑礼,即傅太后同母弟也。太后以亲戚故,欲其有子,然终无有。唯丁姬河平四年生哀帝。</ref>.
 
Năm Tuy Hòa nguyên niên ([[8 TCN]]), bác của Lưu Hân là [[Hán Thành Đế]] không con, nên chọn Lưu Hân lập làm [[Hoàng thái tử]].
 
=== Đế mẫu ===
Năm thứ 2 ([[7 TCN]]), ngày [[4 tháng 4]] (âm lịch), Thái tử Lưu Hân tức vị, sử gọi [[Hán Ai Đế]]<ref>《汉书·卷十一·哀帝纪第十一》:绥和二年三月,成帝崩。四月丙午,太子即皇帝位,谒高庙。</ref>.
 
Hán Ai Đế Lưu Hân kế vị với tư cách làm con của Hán Thành Đế, nên xem Thái hậu [[Vương Chính Quân]] là [[Thái hoàng thái hậu]], Triệu hoàng hậu là mẫu hậu nên tôn làm [[Hoàng thái hậu]], còn mẹ ruột Đinh Cơ cùng tổ mẫu ruột là [[Phó chiêu nghi (Hán Nguyên Đế)|Phó Thái hậu]] không được đề cập.
 
Khoảng 10 ngày sau khi đăng cơ, Hán Ai Đế đón tổ mẫu cùng thân mẫu đến [[Vị Ương cung]]. Nhưng do đích-thứ khác biệt, Phó Thái hậu cùng mẹ ruột Ai Đế là Đinh Cơ ngoài đãi ngộ ra thì vẫn chỉ giữ vị hiệu khi còn ở Định Đào, do Hoàng thái hậu và Thái hoàng thái hậu chỉ có một mà không thể thêm người khác, chính điều này đã dấy lên nỗi bính bình của Hán Ai Đế, cũng như là đề tài tranh luận trong triều đình. Khi đó Cao Xương hầu [[Đổng Hoành]] (董宏) tấu lên, lấy ''"Mẫu dĩ Tử quý"'' (母以子贵) làm lý lẽ, cẩn tôn Đinh Cơ làm Đế Thái hậu. Dưới áp lực của Đại tư mã [[Vương Mãng]], cùng [[Khổng Quang]] và [[Sử Đan]], Đổng Hoành bị cắt chức lưu đày, nhưng Hán Ai Đế sau đó liền đến Trường Tín cung, xin dâng thụy hiệu cho Lưu Khang làm '''Cung Hoàng'''. Rồi cuối cùng, vào ngày [[19 tháng 5]] (âm lịch) cùng năm đó, Hán Ai Đế Lưu Hân dựa vào đó mà ra chỉ phong cho Phó Thái hậu tước hiệu '''Cung hoàng thái hậu''' (恭皇太后), còn Đinh Cơ mẹ của Ai Đế được phong làm '''Cung hoàng hậu''' (恭皇后), đều lấy thụy hiệu của Định Đào Cung vương Lưu Khang làm hiệu, để tỏ rõ phân biệt. Trong chiếu có viết:''"[[Kinh Xuân Thu]] nói 'Mẫu dĩ tử quý', ứng nên tôn kính Phó Thái hậu làm Cung Hoàng thái hậu, Đinh Cơ làm Cung Hoàng hậu, lấy tả hữu Chiêm sự, phong ấp và bày biện đều án theo Trường Tín cung cùng Trung cung đãi ngộ"''. Ngoài ra, Hán Ai Đế còn truy tôn cha của Phó Thái hậu làm ''Sùng Tổ hầu'' (崇祖侯), cha của Đinh Cơ làm ''Bao Đức hầu'' (褒德侯)<ref>《汉书·卷九十七下·外戚传第六十七下》:成帝崩,哀帝即位。王太后诏令傅太后、丁姬十日一至未央宫。高昌侯董宏希指,上书言宜立丁姬为帝太后。师丹劾奏:“宏怀邪误朝,不道。”上初即位,谦让,从师丹言止。后乃白令王太后下诏,尊定陶恭王为恭皇。哀帝因是曰:“《春秋》‘母以子贵’,尊傅太后为恭皇太后,丁姬为恭皇后,各置左右詹事,食邑如长信宫、中宫。追尊恭皇太后父为崇祖侯,恭皇后父为褒德侯。”</ref>.
 
Năm Thái Sơ Nguyên Tương ([[5 TCN]]), Đinh Cơ được cải hiệu thành '''Đế Thái hậu''' (帝太后), chỗ ở tôn gọi là [[Trung An cung]] (中安宮). Hai người anh trai; [[Đinh Trung]] (丁忠) mất sớm nên truy tặng làm ''Bình Chu Hoài hầu'' (平周怀侯), lấy con trai là [[Đinh Mãn]] (丁满) tập tước; [[Đinh Minh]] (丁明) phong tước ''Dương An hầu'' (阳安侯), làm quan đến [[Đại tư mã]] kiêm ''Phiêu Kị tướng quân'' (票骑将军). Hai người chú của bà là [[Đinh Vọng]] (丁望) làm đến ''Tả tướng quân'' (左将军), [[Đinh Hiến]] (丁宪) nhậm ''Thái bộc'' (太仆)<ref>《汉书·卷十一·哀帝纪第十一》:五月丙戌,立皇后傅氏。诏曰:“《春秋》‘母以子贵’,奠定陶太后曰恭皇太后,丁姬曰恭皇后,各置左右詹事,食邑如长信宫、中宫。”追尊傅父为崇祖侯、丁父为褒德侯。封舅丁明为阳安侯,舅丁满为平周侯。追谥满父忠为平周怀侯,皇后父晏为孔乡侯,皇太后弟侍中光禄大夫赵钦为新成侯。</ref>.<ref>《汉书·卷九十七下·外戚传第六十七下》:丁姬为帝太后,两兄忠、明。明以帝舅封阳安侯。忠蚤死,封忠子满为平周侯。太后叔父宪、望,望为左将军,宪为太仆。明为大司马票骑将军,辅政。丁氏侯者凡二人,大司马一人,将军、九卿、二千石六人,侍中、诸曹亦十余人。丁、傅以一二年间暴兴尤盛。然哀帝不甚假以权势,权势不如王氏在成帝世也。</ref>.
Năm Kiến Bình thứ 2 ([[5 TCN]]), ngày [[5 tháng 6]], Đế Thái hậu Đinh thị qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi. Hán Ai Đế ra chỉ:''"Trẫm nghe phu thê là một thể. [[Kinh Thi]] viết:"Cốc tắc dị thất, Tử tắc đồng huyệt". [[Quý tôn Túc|Quý Vũ tử]] [[nước Lỗ]] ngày xưa táng ở tẩm lăng, nhưng mộ của chính thê Đỗ thị lại ở bậc dưới, nên con cháu cẩn xin hợp táng. Lễ phụ táng, từ thời Chu triều đã có. [[Khổng Tử]] nói:"Chu triều điển nghi đã rất hoàn bị! Ta chỉ cần nên tuân theo". Là con có hiếu, thì đối đãi người chết và người khi sống là như nhau. Nay Đế Thái hậu nên cùng một lăng với Cung Hoàng."''<ref>《汉书·卷九十七下·外戚传第六十七下》:建平二年,丁太后崩。上曰:“《诗》云‘谷则异室,死则同穴’。昔季武子成寝,杜氏之墓在西阶下,请合葬而许之。附葬之礼,自周兴焉。孝子事亡如事存,帝太后宜起陵恭皇之园。”遣大司马票骑将军明,东送葬于定陶,贵震山东。</ref>. Do đó, Ai Đế làm lễ hợp táng rất long trọng cho Đinh Thái hậu, phái cữu cữ Đinh Minh lo liệu tất cả.
 
=== Truy phế ===
Năm Nguyên Thọ thứ 2 ([[1 TCN]]), Hán Ai Đế qua đời, [[Vương Mãng]] lấy danh nghĩa Thái hậu Vương Chính Quân trừ bỏ toàn bộ quan tước của họ Đinh và họ Phó, tiếm hết tôn hiệu của Phó Thái hậu và Đinh Thái hậu. Phó Thái hậu được gọi là '''Cung vương mẫu''', còn Đinh Thái hậu được gọi '''Đinh Cơ'''<ref>《汉书·卷九十七下·外戚传第六十七下》:哀帝崩,王莽秉政,使有司举奏丁、傅罪恶。莽以太皇太后诏皆免官爵,丁氏徙归故郡。莽奏贬傅太后号为定陶共王母,丁太后号曰丁姬。</ref>.