Khác biệt giữa các bản “Cuộc tấn công Ba Lan (1939)”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
n
Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
===Quan hệ Liên Xô - Ba Lan===
[[Tập tin:Map of Poland (1945).png|nhỏ|trái|250px|Các lãnh thổ mà Ba Lan chiếm của Nga năm 1921 được tô màu hồng. Đường màu xanh lá là [[đường Curzon]], đường biên giới trước đó giữa Nga và Ba Lan]]
Quan hệ giữa Ba Lan và Nga vô cùng xấu kể từ khi Ba Lan giành độc lập. Với sự sụp đổ của [[Đế chế Nga]][[Đế chế Đức]] trong [[Thế chiến 1]], hầu như tất cả các nước nhỏ ở Đông Âu đã phát động chiến tranh để tranh giành nhau lãnh thổ: Romania đánh nhau với Hungary để giành [[Transylvania]], [[Nam Tư]] đánh nhau với [[Ý]] để giành [[Rijeka]], [[Ba Lan]] đánh nhau với Tiệp Khắc để giành [[Cieszyn Silesia]], đánh với Đức để chiếm [[Poznań]] và Đông [[Galicia]]. Không chỉ đánh nhau với Tiệp Khắc và Đức để giành lãnh thổ, [[Ba Lan]] còn muốn đánh nhau với nước Nga. Chính phủ Ba Lan muốn tái lập lãnh thổ mà [[Đế chế Ba Lan]] thời cực thịnh từng có vào thế kỷ 16, khi đó Ba Lan đã đánh chiếm và đô hộ các vùng đất [[Bạch Nga]] và [[Tiểu Nga]] (nay là [[Belarus]] và [[Ukraina]]). Được sự hậu thuẫn của [[Anh]], [[Pháp]], [[Hoa Kỳ]] (về sau có cả Đức) trong mục đích tiêu diệt nước Nga Xô viết, Chính quyền Ba Lan сho rằng thời gian lộn xộn do nội chiến ở Nga là cơ hội lý tưởng để đánh chiếm Belarus và Ukraina. Trong khi đó, Lenin có mong muốn truyền bá [[chủ nghĩa cộng sản]] tới Tây Âu, và Ba Lan là một chướng ngại mà nước Nga Xô viết sẽ phải vượt qua để cung cấp hỗ trợ cho phong trào cộng sản ở Tây Âu. Lenin cũng muốn giành lại quyền kiểm soát các vùng lãnh thổ mà Nga bị mất vào tay Đức trong Hiệp ước Brest-Litovsk tháng 3 năm 1918.
 
Tháng 3/ năm 1919, quân [[Ba Lan]] phát động tấn công vào lãnh thổ Nga trong [[Trận Bereza Kartuska (1919)]] và vượt sông Neman. Sau 1 năm chiến tranh, [[Hồng Quân|Hồng quân]] phản công và áp sát thành phố [[Warszawa|Warsawa]]. Trong [[Trận Warszawa (1920)|trận Warsawa]], quân đội Ba Lan dưới sự chỉ huy của [[Józef Piłsudski]] đã phản công và giành được thắng lợi. Chiến thắng của Ba Lan trong cuộc chiến này đã ngăn chặn phong trào cộng sản lan rộng ở các nước Tây Âu, còn trận chiến Warsawa được nhà ngoại giao Anh Edgar Vincent cho là một trong những trận chiến có tầm quan trọng lớn nhất trong lịch sử<ref>Edgar Vincent D'Abernon, The Eighteenth Decisive Battle of the World: Warsaw, 1920, Hyperion Press, 1977, ISBN 0-88355-429-1</ref> Sau trận Warsawa, quân Ba Lan đã tiến hành truy kích, đẩy lùi quân Nga ra khỏi lãnh thổ và chiếm được một vùng đất rộng lớn ở phía đông của [[Đường Curzon]] (biên giới giữa 2 nước trước chiến tranh), bao gồm thành phố [[Vilnius]], Đông [[Galicia]] (1919) bao gồm thành phố [[Lwów]], cũng như hầu hết khu vực [[Volhynia]]. Tổng cộng, Ba Lan đã chiếm được gần 135.000 km2 lãnh thổ, lấn sâu khoảng 250 km về phía đông của đường Curzon<ref name="FryGoldstein2004">{{cite book|author1=Michael Graham Fry|author2=Erik Goldstein|author3=Richard Langhorne|title=Guide to International Relations and Diplomacy|url=https://books.google.com/books?id=Z5ndamBABdIC&pg=PA203|accessdate=3 February 2011|date=30 March 2004|publisher=Continuum International Publishing Group|isbn=978-0-8264-7301-1|pages=203}}</ref><ref name="Tucker2010">{{cite book|author=Spencer Tucker|title=Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict|url=https://books.google.com/books?id=SWBkx0UlgMAC&pg=PA448|accessdate=3 February 2011|date=11 November 2010|publisher=ABC-CLIO|isbn=978-1-59884-429-0|pages=448}}</ref>.
 
Do sống trong vùng lãnh thổ bị Ba Lan đánh chiếm, đã có khoảng 6 triệu người dân [[Belarus|Belarusia]][[Ukraina]] (thuộc dân tộc Nga) phải chịu sự chiếm đóng của Ba Lan. Việc chính phủ Ba Lan thi hành chính sách đồng hóa người Belarusia và Ukraina đã thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức dân tộc chủ nghĩa Ucraina chuyên đấu tranh chống lại sự chiếm đóng của Ba Lan<ref name="Prybyla2010">{{cite book|author=Jan S. Prybyla|title=When Angels Wept: The Rebirth and Dismemberment of Poland and Her People in the Early Decades of the Twentieth Century|url=https://books.google.com/books?id=SYDpK1cH76oC&pg=PA46|accessdate=16 February 2011|year=2010|publisher=Wheatmark, Inc.|isbn=978-1-60494-325-2|pages=46–}}</ref><ref name="Roshwald2001">{{cite book|author=Aviel Roshwald|title=Ethnic nationalism and the fall of empires: central Europe, Russia, and the Middle East, 1914-1923|url=https://books.google.com/books?id=Ba97xyhIZDcC&pg=PA168|accessdate=16 February 2011|year=2001|publisher=Routledge|isbn=978-0-415-17893-8|pages=168–}}</ref>
 
Khi [[Hitler]] nắm quyền lực ở Đức vào năm 1933, chính Thủ tướng Ba Lan Pilsudski đã chủ trương liên minh với Pháp để chống lại Đức, thế nhưng Pháp lại tỏ ra thờ ơ<ref name="cienciala11">[[#Bibliografía|Cienciala (1967)]], p. 11</ref>. Sự từ chối hợp tác của Pháp có thể coi là một trong những lí do khiến Ba Lan quyết định đàm phán với người Đức<ref name="TT_NGP">[[Tomasz Torbus]], ''Nelles Guide Poland'', Hunter Publishing, Inc, 1999, {{ISBN|3-88618-088-3}} [https://books.google.com/books?vid=ISBN3886180883&id=xH6iEYILvuYC&pg=PA25&lpg=PA25&dq=Pilsudski+France+1933&sig=hV7b1WHEJzrnGCt0vGkG_Bp_OtM Google Books, p.25]</ref><ref name="GQH">[[George H. Quester]], ''Nuclear Monopoly'', Transaction Publishers, 2000, {{ISBN|0-7658-0022-5}}, [https://books.google.com/books?id=h5ApNEq4L0IC&vid=ISBN0765800225&dq=Pilsudski+France+1933&pg=PA27&lpg=PA27&sig=fM9iFIR5xh2lOBxSNayasiih6uc&q=14 Google Books, p.27]. Note that author gives a source: [[Richard M. Watt]], ''Bitter Glory'', Simon and Schuster, 1979</ref><ref name="Urb 539-540">Urbanowski, op.cit., Pages 539-540</ref><ref name=rothwell>Victor Rothwell, ''Origins of the Second World War'', Manchester University Press, 2001, {{ISBN|0-7190-5958-5}}, [https://books.google.com/books?ie=UTF-8&hl=en&vid=ISBN0719059585&id=JLlaN3e4IcsC&pg=PA92&lpg=PA92&dq=pilsudski+germany+war&prev=https://books.google.com/books%3Fq%3Dpilsudski%2Bgermany%2Bwar&sig=7uR4Bt61X9-ru0vXdgwDGeBJMrM Google Print, p.92]</ref><ref name="Encyclopædia Britannica">{{Chú thích web | tác giả 1=[[Kazimierz Maciej Smogorzewski]] | tiêu đề=Józef Piłsudski | work=Encyclopædia Britannica | url=http://www.britannica.com/eb/article-5721 | ngày truy cập = 3 June 2006 }}</ref> Lo lắng về căng thẳng gia tăng giữa Đức quốc xã và Liên Xô cũng như lo sợ trở nên quá phụ thuộc vào các cường quốc châu Âu khác như Pháp, thủ tướng Ba Lan là Pilsudski đã quyết định cân bằng mối quan hệ với cả Liên Xô và Đức Quốc xã. Vào ngày 25 tháng 7 năm 1932, Ba Lan đã ký một hiệp ước không xâm phạm với Liên Xô. Đến ngày [[26 tháng 1]] năm [[1934]], Ba Lan và Đức đã ký [[Hiệp ước Ba Lan - Đức|Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau]] {{r|Urbank97_539–40}}<ref>Urbankowski, Bohdan (1997). ''Józef Piłsudski: Marzyciel i strateg [Józef Piłsudski: Dreamer and Strategist''] (Tiếng Ba Lan). 1–2. Warsaw: Wydawnictwo ALFA. ISBN 978-83-7001-914-3. Chương 1, trang 539-540.</ref> Vậy là Ba Lan đã trở thành quốc gia đầu tiên liên minh với [[Đức Quốc Xã|Đức Quốc xã]]<ref>https://www.thejc.com/on-this-day-the-german-polish-non-aggression-pact-1.20771</ref> Bản Hiệp ước Đức-Ba Lan năm 1934 được coi là một ví dụ về sự thiếu suy tính, kém nhạy bén do ảnh hưởng bởi bệnh tật (ung thư và xơ vữa động mạch) của Thủ tướng Ba Lan [[Józef Piłsudski]], đã góp phần mở đường cho những bước đi tiếp theo của [[Hitler]]<ref>https://academic.oup.com/qjmed/article/96/5/325/1551292</ref>
 
Quan hệ của Ba Lan với Đức và Liên Xô trong nhiệm kỳ của Pilsudski là khá trung lập <ref>Urbankowski, Bohdan (1997). ''Józef Piłsudski: Marzyciel i strateg [Józef Piłsudski: Dreamer and Strategist''] (Tiếng Ba Lan). 1–2. Warsaw: Wydawnictwo ALFA. ISBN 978-83-7001-914-3. Chương 1, trang 539-540.</ref>. Hitler đã liên tục đề nghị một liên minh Đức-Ba Lan chống lại Liên Xô, nhưng Piłsudski đã từ chối<ref>Hildebrand, Klaus (1973). The Foreign Policy of the Third Reich. Berkeley: University of California Press. ISBN 978-0-520-02528-8. trang 73</ref>. Ngay trước khi qua đời, Piłsudski đã căn dặn Józef Beck tiếp tục duy trì quan hệ trung lập với Đức<ref>Urbankowski, Bohdan (1997). ''Józef Piłsudski: Marzyciel i strateg [Józef Piłsudski: Dreamer and Strategist''] (Tiếng Ba Lan). 1–2. Warsaw: Wydawnictwo ALFA. ISBN 978-83-7001-914-3. Chương 1, trang 539-540.</ref>.