Khác biệt giữa các bản “Tiếng Bắc Triều Tiên chuẩn”

n
Đã lùi lại sửa đổi 57509087 của TuanminhBot (thảo luận)
n (replaced: hưỡng → hưởng (7) using AWB)
n (Đã lùi lại sửa đổi 57509087 của TuanminhBot (thảo luận))
Thẻ: Lùi sửa
{{Hộp thông tin tên Đông Á|koreanname=Tên Triều Tiên|hangul=문화어|hanja=文化語|context=north|rr=Munhwaeo|mr=Munhwaŏ|koreanname2=Tên Hàn Quốc|hangul2=북한어|hanja2=北韓語|rr2=Bukhaneo|mr2=Puk'anŏ}}'''Tiếng Bắc Triều Tiên chuẩn''' hoặc '''Munhwaŏ''' ({{Ko-hhrm|hangul=문화어|hanja={{lang|ko|文化語}}|hanviet=Văn hoá ngữ}}) là [[phương ngữ]] [[tiếng Triều Tiên]] [[Ngôn ngữ tiêu chuẩn|chuẩn]] [[Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên|Bắc Triều Tiên]]. Văn hoá ngữ đã được thông qua như là tiêu chuẩn vào năm 1966. Tuyên bố thông qua nêu rõ rằng [[Phương ngữ Bình An|phương ngữ Bình An (Pyongan)]] được nói ở thủ đô [[Bình NhưởngNhưỡng]] của Bắc Triều Tiên và khu vực xung quanh là cơ sở cho Văn hoá ngữ; tuy nhiên, trên thực tế, [[Iksop Lee]] và [[S. Robert Ramsey]] ghi nhận rằng Văn hoá ngữ vẫn "bám rễ" vào [[phương ngữ Seoul]] vốn là tiêu chuẩn quốc gia trong nhiều thế kỷ. Do đó, hầu hết [[Sự khác biệt của hai miền Nam - Bắc trong tiếng Triều Tiên|sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn của Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc]] là do thay thế [[Từ Hán-Triều|từ vựng Hán-Triều]] và các [[từ mượn]] khác bằng các từ tiếng Triều Tiên thuần túy, hoặc tham khảo ý thức hệ miền Bắc cho "tiếng nói của giai cấp công nhân" bao gồm một số từ được coi là phi chuẩn tại [[Nam Hàn]].<ref name="LeeRamsey2000">{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=NN-yIdLOkCoC&pg=PA309|title=The Korean Language|last=Iksop Lee|last2=S. Robert Ramsey|publisher=SUNY Press|year=2000|isbn=978-0-7914-4831-1|page=309}}</ref>
 
== Lịch sử ==
 
== Đặc điểm ==
Văn hóa ngữ được cho là dựa trên [[phương ngữ Bình NhưởngNhưỡng]] nhưng thật khó để thấy điều đó trên thực tế như hiện tại. Ngôn ngữ tiêu cIhuẩn dựa trên phương ngữ Seoul đã được sửa đổi theo cách do [[Hiệp hội Ngôn ngữ học Chosun]] đặt ra hoặc sửa đổi bằng cách sử dụng chút ít yếu tố phương ngữ Bình NhưởngNhưỡng, tạo ra thứ được gọi là Văn hóa ngữ. Các phương ngữ Bình NhưởngNhưỡng và Seoul ban đầu khá giống nhau, nhưng trọng âm đã thay đổi rất nhiều kể từ khi phân chia Bắc và Nam.
 
Ngôn ngữ văn hóa không phản ánh các đặc điểm âm vị học điển hình của phương ngữ Bình NhưởngNhưỡng, nhưng về nguyên tắc phản ánh tính đặc thù âm vị học giống như ngôn ngữ tiêu chuẩn do [[Hiệp hội Ngôn ngữ Hàn Quốc]] đặt ra.
 
Về mặt ngữ pháp, các đặc điểm của phương ngữ Bình NhưởngNhưỡng gần như không có trong Văn hóa ngữ.
 
Có một số dạng ngữ pháp mà Văn hóa ngữ khác biệt với ngôn ngữ tiêu chuẩn của [[Hàn Quốc]], mặc dù nó được cho là bắt nguồn từ phương ngữ miền Trung. Đại khái, ngôn ngữ tiêu chuẩn Hàn Quốc là '-to-do' thì ngôn ngữ văn hóa -to-be '.
 
Từ vựng rất khác so với tiếng Hàn Quốc chuẩn. Hai nguyên nhân chính là: (1) sự khác biệt về thể chế xã hội gây ra các thuật ngữ xã hội khác nhau và (2) sự khác biệt về từ vựng do hai phương ngữ khác nhau. Nhìn vào sự khác biệt trong phương ngữ, chúng ta có thể thấy rằng một số từ vựng Văn hoá ngữ được coi là mang tính Bình NhưởngNhưỡng.
 
== Tham khảo ==