Khác biệt giữa các bản “Constantinopolis thất thủ”

không có tóm lược sửa đổi
Hoàng đế Byzantine [[Konstantinos XI Palaiologos|Constantinos XI]] kêu gọi Tây Âu giúp đỡ, nhưng yêu cầu của ông đã không được đáp ứng. Kể từ khi vạ tuyệt thông lẫn nhau của [[Chính thống giáo Đông phương|Giáo hội Chính Thống]] và [[Giáo hội Công giáo Rôma|Giáo hội Công giáo La Mã]] vào năm 1054, Công giáo La Mã phương Tây đã cố gắng để đạt được quyền hành trên giáo hội phía Đông, một sự cố gắng hợp nhất được tổ chức trước đây tại [[Lyon]] năm 1274 và quả thật là một số hoàng đế Paleologan đã được nhận vào Giáo hội Latinh. Hoàng đế [[Ioannes VIII Palaiologos|John VIII Palaiologos]] đã cố gắng đàm phán Liên minh với Đức [[Giáo hoàng Êugêniô IV]], và một Hội đồng được tổ chức trong 1439 dẫn đến việc công bố tại Florence, một hiệp ước Liên minh. Trong những năm sau, xuất hiện một xu hướng phản kháng lớn chống lại sự thống nhất bùng nổ ở Constantinopolis và một sự rạn nứt lớn xảy ra trong nhân dân và Giáo hội Byzantine. Mối thù tiềm tàng giữa người Hy Lạp và Latin bắt nguồn từ sự kiện bao vây Constantinopolis 1204 bởi quân thập tự Latin đóng một vai trò quan trọng. Cuối cùng Liên minh thất bại gây nhiều thất vọng cho [[Giáo hoàng Nicôla V]] và Giáo hội Công giáo La Mã.
 
Trong mùa hè năm 1452, khi pháo đài Rumeli Hisari được hoàn thành và đã trở thành mối đe dọa sắp xảy ra, Constantine viết cho Đức Giáo hoàng, hứa hẹn thực hiện sự Hiệp Nhất, vốn đã được tuyên bố hợp lệ bởi một hội đồng bị chia rẽ vào ngày 12 tháng 12 năm 1452. Mặc dù rất háo hức vì có được lợi thế, Giáo hoàng Nicôla V đã không có ảnh hưởng đối với các vị vua và ông hoàng ở phương Tây như Byzantine mong đợi, một số người đã cảnh giác với sự gia tăng kiểm soát của Giáo hoàng, và đã không đủ tiền để đóng góp vào nỗ lực này, đặc biệt là trong bối cảnh tình trạng suy yếu của Pháp và Anh kể từ [[Chiến tranh Trăm Năm]], Tây Ban Nha trong phần cuối cùng của giai đoạn ''[[Reconquista]]'' (tái chinh phục), nội chiến đánh giết lẩnlẫn nhau trong ở các thành bang Đức, và việc Hungary và Ba Lan thất bại trong [[trận Varna]] năm 1444. Mặc dù một số binh sĩ đã đến từ thành phố buôn ở phía bắc của Ý, sự đóng góp của phương Tây đã không đủ sức mạnh đối trọng với Ottoman. Một số cá nhân phương Tây, tuy nhiên, đến để giúp bảo vệ các thành phố trên lực lượng riêng của họ. Một trong số đó là một chỉ huy từ Genova, [[Giovanni Giustiniani]], người đến với 700 người đàn ông vũ trang trong tháng 1 năm 1453. Là một chuyên gia trong việc bảo vệ các thành phố có tường bao quanh, ông đã ngay lập tức đưa ra các mệnh lệnh tăng cường sự phòng thủ cho các bức tường của đế chế.<ref name="Runciman 1965, tr. 81">Runciman 1965, tr. 81</ref>
 
Cũng vào thời gian này, một đội các tàu Venezia tình cờ có mặt trong vịnh [[Sừng Vàng]] cũng được huy động để phục vụ hoàng đế. Giáo hoàng Nicôla cũng tiến hành gửi ba tàu chất đầy hàng tiếp tế, bỏ neo tại Venia vào gần cuối tháng Ba, trong khi đó, các cuộc thảo luận đã diễn ra liên quan đến các loại trợ giúp mà các nước Cộng hòa sẽ cho vay đến Constantinopolis. Thượng viện quyết định gửi một hạm đội, nhưng có sự chậm trễ, và khi nó cuối cùng được thông qua vào cuối tháng tư, thì đã quá trễ để có thể tham gia vào trận chiến. Cộng thêm vào việc suy giảm nhuệ khí của Byzantine là việc bảy tàu Ý với khoảng 700 người đàn ông lẻn ra khỏi thủ đô vào thời điểm khi Giustiniani đến, những người vốn đã tuyên thệ bảo vệ thủ đô. Đồng thời, nỗ lực của Constantinos để xoa dịu Sultan với những món quà đã kết thúc với việc trục xuất các đại sứ của Hoàng đế ̉- lúc này ngay cả hoạt động ngoại giao cũng không thể cứu thành phố.<ref name="Runciman 1965, tr. 81"/>