Khác biệt giữa các bản “Tiếng Phạn”

n
Đã lùi lại sửa đổi của 2A02:1811:527E:2000:99E9:16EA:80AF:B3AA (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Bonthefox3
(V)
Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
n (Đã lùi lại sửa đổi của 2A02:1811:527E:2000:99E9:16EA:80AF:B3AA (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Bonthefox3)
Thẻ: Lùi tất cả
== Ảnh hưởng ==
 
=== Ấn Độ ngày nay ===
Ảnh hưởng lớn nhất của tiếng Phạn có lẽ là những gì nó đã mang đến những ngôn ngữ lấy cơ sở văn phạm và từ vị từ nó ra. Đặc biệt trong giới tri thức Ấn Độ, tiếng Phạn được ca ngợi là một kho báu kinh điển và những bài tụng niệm của [[Ấn Độ giáo]]. Như [[latinh|tiếng Latinh]] đã ảnh hưởng đến những ngôn ngữ châu Âu, tiếng Phạn đã ảnh hưởng lớn đến hầu hết những ngôn ngữ của Ấn Độ. Trong khi những bài tụng niệm thường được ghi dưới dạng ngôn ngữ bình dân thì những [[chân ngôn]] tiếng Phạn được trì tụng bởi hàng triệu người theo Ấn giáo và trong hầu hết những đền thờ, các nghi thức tế lễ đều được thực hiện với tiếng Phạn, thường dưới dạng Phệ-đà phạn ngữ. Những dạng ngôn ngữ cao cấp của phương ngôn (''vernacular'') Ấn Độ như [[tiếng Bengali]], [[tiếng Gujarati]], [[tiếng Marathi]], [[tiếng Telugu]] và [[tiếng Hindi]] - thường được gọi là "thanh tịnh" (sa. ''śuddha''), "cao quý" - đều có độ Phạn hoá rất cao. Trong các ngôn ngữ hiện đại, trong khi tiếng Hindi dạng nói có khuynh hướng chịu ảnh hưởng nặng của [[tiếng Ả Rập]] và [[tiếng Ba Tư]] thì Bengali và Marathi vẫn lưu giữ một cơ sở từ vị to lớn. Bài quốc ca [[Jana Gana Mana]] được viết dưới dạng Bengali cao cấp, được Phạn hoá nặng nên có vẻ cổ xưa. Bài quốc ca tiền thân của Jana Gana Mana là [[Vande Mataram]], một trước tác của Bankim Chandra Chattopadhyay được trích từ quyển ''Ānandmath'' của ông ta, là một bài thơ tiếng Phạn thuần tuý. [[Tiếng Malayalam]], một ngôn ngữ được dùng tại bang [[Kerala]], cũng phối hợp một số lượng từ vị tiếtiếng Phạn đáng kể với cấu trúc ngữ pháp [[tiếng Tamil]]. [[Tiếng Kannada]], một ngôn ngữ Nam Ấn khác cũng hàm dung từ vị tiếng Phạn. Được xem là phương tiện truyền dạy những khái niệm tâm linh, tiếng Phạn vẫn còn được ca ngợi và phổ biến tại Ấn Độ.
 
Tiếng Phạn được nói như tiếng mẹ đẻ tại Mattur gần Shimoga, một thôn làng nằm ở trung tâm Karnataka. Dân ở đây, bất cứ giai cấp nào, đều học và đàm thoại bằng tiếng Phạn từ nhỏ. Ngay những người bản xứ theo [[Hồi giáo]] cũng nói tiếng Phạn. Nhìn theo khía cạnh lịch sử thì làng Mattur được vua Kṛṣṇadevarāja của vương quốc Vijayanagara phó uỷ cho các học giả Phệ-đà và thân quyến của họ.
 
Từ ngữ tiếng Phạn được tìm thấy ở nhiều ngôn ngữ ngoài Ấn Độ. Ví dụ như [[tiếng Thái]] bao gồm nhiều từ mượn từ tiếng Phạn, như tên Rāvaṇa - hoàng đế Tích Lan - được người Thái gọi là ''Thoskonth'', một từ rõ ràng xuất phát từ biệt danh tiếng Phạn khác là ''Daśakaṇṭha'', "Người có mười cổ". Ngay người Philippines cũng dùng chữ ''guro'', vốn là từ ''Guru'' của tiếng Phạn đùng để chỉ bậc đạo sư. Một số từ đã đi vào từ vị của các ngôn ngữ châu Âu như: Yoga, Dharma, Nirvana (sa. ''nirvāṇa''), Ashram (sa. ''āśrama''), Mandala (sa. ''maṇḍala''), Aryan (sa. ''ārya''), Guru, Bhagavan (sa. ''bhagavat''), Avatar (sa. ''avatāra'') v.v...
 
=== Tương quan giữa tiếng Phạn và các ngôn ngữ hệ Hán-Tạng ===
16.534

lần sửa đổi