Khác biệt giữa các bản “Lữ Mộng Lan”

không có tóm lược sửa đổi
|kế nhiệm= Sau cùng
|địa hạt= Biệt khu Thủ đô
|phó chức vụ= Chỉ huy phó<br>Phụ tá
|phó viên chức= -Chuẩn tướng [[Lê Trung Trực]]<br>-Đại tá Vũ Quang<br>''(kiêm Trưởng khối Giảng huấn)
 
|chức vụ 2= [[Hình: QD II VNCH.jpg|22px]]<br>Tư lệnh Quân đoàn II<br>kiêm Chỉ huy trưởng Cao đẳng Quốc phòng<br>đến tháng 8 năm 1969
Ngày 15 tháng 6 năm 1966, bàn giao Su đoàn 10 lại cho Đại tá [[Đỗ Kế Giai]], chuyển lên Cao nguyên Trung phần, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Chỉ huy và Tham mưu ở Đà Lạt thay thế Thiếu tướng [[Tôn Thất Xứng]], kiêm Đại diện Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Quân huấn, giám sát trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Đầu tháng 12 cùng năm, chuyển về Bộ Tổng Tham mưu giữ chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn sau khi bàn giao trường Chỉ huy Tham mưu lại cho Đề đốc [[Chung Tấn Cang]]. Ngày 12 tháng 10 năm 1967, ông kiêm nhiệm luôn chức vụ Chỉ huy trưởng trường Cao đẳng Quốc phòng.
 
Đầu tháng 3 năm 1968, hoán đổi nhiệm vụ với Trung tướng [[Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc|Vĩnh Lộc]] đảm trách chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II ''(vẫn kiêm nhiệm Chỉ huy trưởng trường Cao đẳng Quốc Phòng đến tháng 8 năm 1969)''. Ngày 1 tháng 3 năm 1969, ông được thăng cấp [[Trung tướng]] tại nhiệm. Cuối tháng 8 năm 1970, bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II lại cho Thiếu tướng [[Ngô Du]], ông được về lại Trung ương tái nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng trườngTrường Cao đẳng Quốc phòng và ở chức vụ này cho đến tháng cuối tháng 4 năm 1975.
*''PhụBan Tham chomưu Trường Cao đẳng Quốc phòng còn có các sĩ quan hữu trách như sau:''<br>-Chỉ huy trưởngphó trường- CaoChuẩn đẳngtướng Quốc[[Lê phòngTrung Trực]]<br>-Phụ tá CHT kiêm Trưởng khối Giảng huấn - Đại tá [[Vũ Quang (Đại tá, Quân lực VNCH)|Vũ Quang]]<ref>Đại tá Vũ Quang sinh năm 1929 tại Hà Đông, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Liên quân Đà Lạt</ref> kiêm Trưởng khối Giảng huấn.
 
==1975==