Khác biệt giữa các bản “Thích Quảng Đức”

không có tóm lược sửa đổi
{{Hộp thôngThông tin Tutu Phật giáo
| background = orange
| tiền tố = [[Hòa thượng]] [[Bồ tát]]
| alt =
| chú thích hình = Chân dung Hòa thượng Thích Quảng Đức dựa trên một bức ảnh chụp trong chùa ông trụ trì.
| pháp danh = ThíchThị QuảngThủy Đức(是水)
 
| pháp tự = Hạnh Pháp (行法)
| pháp hiệu = Quảng Đức (廣德)
|<!-- môn phái -->
| tôn giáo = [[Phật giáo]]
|<!-- nơi đang tu tập -->
| đền =
| chùa = Quan Thế Âm
| học viện =
 
 
|<!-- cá nhân -->
| tên khác = * Nguyễn Văn Khiết <br>
* Lâm Văn Tuất
| pháp danh = Thích Quảng Đức
| bút danh =
| thụy hiệu =
| quốc tịch =
| quê hương =
| tên khai sinh = Lâm Văn Tuất
| ngày sinh = [[1897]]
| nơi sinh = làng Hội Khánh, xã [[Vạn Khánh]], huyện [[Vạn Ninh]], [[Khánh Hòa]], [[Liên bang Đông Dương]]
| nơi an nghỉ =
| tọa độ nơi an nghỉ =
| bốcha = Lâm Hữu Ứng
| đối tác = <!-- sống với nhau như vợ chồng -->
| vợ chồng =
| con cái =
| bố = Lâm Hữu Ứng
| mẹ = Nguyễn Thị Nương
| quan hệ =
| vị trí =
| chức vụ =Trưởng ban Nghi lễ của<br> Giáo hội Tăng già Việt Nam<br>Trụ trì chùa Phước Hòa
| vị trí 2= [[Quận 3]], [[thành phố Hồ Chí Minh]].
 
| chức vụ 2= Trụ trì chùa Phước Hòa
| vị trí 3= [[Phú Nhuận]], [[thành phố Hồ Chí Minh]].
| chức vụ 3= Trụ trì chùa Quan Thế Âm
|<!-- sự nghiệp tôn giáo -->
| xuất gia = [[1904]]
Những bản báo cáo về cuộc đời của Hòa thượng Thích Quảng Đức được lấy từ những thông tin lưu truyền bởi các tổ chức Phật giáo. Theo đó thì ông sinh năm [[1897]] tại làng Hội Khánh, xã [[Vạn Khánh]], [[huyện Vạn Ninh]], [[khánh Hòa|tỉnh Khánh Hòa]], thuộc [[miền Trung (Việt Nam)|miền Trung Việt Nam]], trong một gia đình có bảy anh chị em, cha là Lâm Hữu Ứng và mẹ là Nguyễn Thị Nương. Năm lên bảy tuổi, cậu bé Lâm Văn Tuất xuất gia tu học với [[hòa thượng]] Thích Hoằng Thâm, vừa là thầy bản sư, vừa là cậu ruột. Cậu được hòa thượng Hoằng Thâm nhận làm con chính thức, nên lấy tên là Nguyễn Văn Khiết. Năm mười lăm tuổi Lâm Văn Tuất thọ giới Sa Di, năm hai mươi tuổi thụ Tỳ Kheo giới pháp danh '''Thị Thủy''' (是水), pháp tự '''Hạnh Pháp''' (行法), pháp hiệu '''Quảng Đức''' (廣德) nối pháp đời thứ 42 [[Lâm Tế tông|thiền tông Lâm Tế]] thế hệ thứ 9 của phái [[Chúc Thánh]]. Thọ giới xong hòa thượng vào một ngọn núi tên là Hòn núi Đất thị xã Ninh Hòa - Khánh Hòa phát nguyện tịnh tu ba năm, về sau ông đã trở lại ngọn núi này để thành lập một ngôi chùa lấy hiệu là Thiên Lộc.<ref name="qd">{{harvnb|Nhị Tường|2005}}.</ref>
 
Sau quãng thời gian sống biệt lập, ông bắt đầu du hành khắp [[Miền Trung (Việt Nam)|miền Trung]] để giảng pháp. Sau 2 năm ông trở lại nhập thất tại [[chùa Sắc Tứ Thiên|chùa Sắc Tứ Thiên Tứ]] tại xã Ninh Lộc, thị xã Ninh Hòa, gần [[thành phố]] [[Nha Trang]]. Năm [[1932]], ông được bổ nhiệm làm chức kiểm tăng tại chi hội [[Phật giáo]] [[Ninh Hòa]], sau đó nhận nhiệm vụ kiểm tăng trong tỉnh Khánh Hòa. Trong suốt thời gian ở miền Trung [[Việt Nam]], ông đã tiến hành kiến tạo và trùng tu 14 ngôi chùa. Năm [[1934]], rời Khánh Hòa vào miền Nam để giáo hóa, ông cũng từng đến [[Campuchia]] hai năm để học hỏi và nghiên cứu kinh điển theo truyền thống [[Thượng tọa bộ|Theravada]]. Cũng như ở miền Trung, hai mươi năm hành đạo ở miền Nam, ông đã khai sơn và trùng tu 17 ngôi chùa. Như vậy, ông đã có công xây dựng hoặc trùng tu tất cả 31 ngôi chùa. Ngôi chùa cuối cungcùng là nơi ông trụ trì là [[chùa Quan Thế Âm]] ở [[phú Nhuận|quận Phú Nhuận]], [[Gia Định]], nay con đường này đã đổi thành chính tên của ông là Thích Quảng Đức. Ông đã từng giữ chức vụ Phó trị sự và Trưởng ban nghi lễ của [[Giáo hội Tăng già Nam Việt]] trong một thời gian khá lâu. Trước đó, ông có lúc đã nhận nhiệm vụ trụ trì chùa Phước Hòa, trụ sở đầu tiên của [[Hội Phật học Nam Việt]]. Khi trụ sở này dời về [[chùa Xá Lợi]], ông xin thôi việc để có đủ thời gian an tâm tu niệm.<ref name="qd"/>
 
== Bối cảnh tôn giáo ==