Khác biệt giữa các bản “Đảo nhân tạo”

n
clean up, replaced: {{cite web → {{chú thích web (2)
n
n (clean up, replaced: {{cite web → {{chú thích web (2))
__NOTOC__
[[Hình:Dubai_SPOT_1255Dubai SPOT 1255.jpg|nhỏ|phải|250px|[[Quần đảo Cây Cọ]], [[Dubai]]]]
'''Đảo nhân tạo''' là một phần đất bồi do [[loài người|con người]] tạo lập thông qua việc đổ đất và/hoặc đá xuống biển<ref>{{harv|Papadakis|1977|p=[http://books.google.com.vn/books?id=j2jyejXTjSIC&pg=PA6&dq=%22artificial+island+is+a%22&hl=en&sa=X&ei=Our8UOiZGIqNrgfj3YCQCg&redir_esc=y#v=onepage&q=%22artificial%20island%20is%20a%22&f=false 6]}}</ref> hay nói chung là một vùng nước. Từ lâu con người đã xây dựng đảo nhân tạo vì những mục đích khác nhau thông qua việc kiến thiết đảo mới, mở rộng đảo tự nhiên hiện hữu hoặc hợp nhất các đảo nhỏ thành đảo lớn hơn.
 
 
[[Hình:Kansai closeup.jpg|nhỏ|phải|250px|[[Sân bay quốc tế Kansai]] nằm trên một đảo nhân tạo.]]
Về sau, nhiều đảo nhân tạo được tạo lập để làm nơi xây dựng [[sân bay]]. Nhật Bản là nước tiên phong kiến thiết một đảo trong [[vịnh Osaka]] với diện tích 10 &nbsp;km² để tạo chỗ cho [[sân bay quốc tế Kansai]] (hoàn thành năm 1994).<ref>{{harv|Walker|Bellingham|2011|p=34}}</ref> Tại [[Hồng Kông]], người ta lấn biển để mở rộng diện tích đảo [[Xích Liệp Giác]] lên gấp bốn lần, sau đó tiến hành xây dựng [[sân bay quốc tế Hồng Kông]] trên đảo. Tại [[Hàn Quốc]], phần biển nông giữa hai đảo [[Yeongjong]] và [[Yongyu]] được bồi lấp để làm nơi xây dựng [[sân bay quốc tế Incheon]] (2001).<ref>{{harv|Stive|2006|p=56}}</ref>
 
[[Hình:Peberholm.JPG|nhỏ|phải|250px|Đảo nhân tạo [[Peberholm]] là một bộ phận trong công trình cầu Øresundsbron.]]
 
[[Hình:Northstar_Offshore_Island_Beaufort_SeaNorthstar Offshore Island Beaufort Sea.jpg|nhỏ|phải|250px|Đảo nhân tạo [[đảo Northstar|Northstar]], nơi đặt thiết bị khoan dầu, trong [[biển Beaufort]].]]
Đảo nhân tạo còn được sử dụng để hỗ trợ các công trình lớn. Đảo nhân tạo trong [[vịnh Chesapeake]], [[Mỹ]] chính là chỗ nối giữa cầu vịnh mà đường hầm. Ở [[châu Âu]], đảo [[Peberholm]] đóng vai trò quan trọng trong tổng thể công trình [[cầu Øresund|Øresundsbron]] nối [[Đan Mạch]] và [[Thụy Điển]]. Ngoài ra, con người xây dựng đảo nhân tạo để hỗ trợ hoạt động khoan và khai thác dầu khí. Một ví dụ là vào năm 1958, người ta xây [[đảo Rincon]] ngoài khơi [[quận Ventura, California]], Mỹ để phục vụ cho mục đích này.<ref>{{citechú thích web |title= ARCO 1991 Filing with State Lands Commission |url=http://archives.slc.ca.gov/Meeting_Summaries/1991_Documents/07-15-91/Items/071591R28-1.pdf |accessdate=2012/1/21 |language=tiếng Anh}}</ref>
 
Tại [[Dubai]] thuộc [[Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất]], hàng loạt đảo nhân tạo được xây dựng để đẩy mạnh ngành du lịch cũng như phát triển kinh tế như [[quần đảo Cây Cọ]], [[quần đảo Thế giới|quần đảo Thế Giới]] và khách sạn [[Burj al-Arab]]. Chỉ riêng quần đảo Thế Giới đã bao gồm đến ba trăm hòn đảo nhân tạo.<ref>{{citechú thích web |title=The World is sinking: Dubai islands 'falling into the sea' |url=http://www.telegraph.co.uk/news/worldnews/middleeast/dubai/8271643/The-World-is-sinking-Dubai-islands-falling-into-the-sea.html |last=Spencer |first=Richard |date=2011/1/20 |accessdate=2012/1/21 |publisher=Telegraph |language=tiếng Anh}}</ref>
 
Ngoài ra, một số quốc gia xây đảo nhân tạo vì mục đích củng cố tuyên bố chủ quyền hay tạo lập căn cứ quân sự. Năm 1972, trước việc một tổ chức tư nhân tuyên bố thành lập một [[vi quốc gia]] mang tên ''[[Cộng hòa Minerva]]'' tại [[Các rạn san hô Minerva]] thuộc [[Thái Bình Dương]], nhà nước [[Tonga]] lên tiếng đòi hỏi các [[rạn san hô vòng]] này, đồng thời nhà vua Tonga đích thân giám sát việc xây dựng các đảo nhân tạo và đèn hiệu tại đây.<ref>{{harv|Johnston|Saunders|1988|p=299}}</ref> Tại [[quần đảo Trường Sa]] trong [[biển Đông]], các quốc gia tham gia tranh chấp cũng xây dựng nhiều đảo nhân tạo để làm căn cứ đồn trú cho binh lính.
* {{citation |title=Island Environments in a Changing World |last1=Walker |first1=Lawrence R. |last2=Bellingham |first2=Peter |year=2011 |isbn=978-0521519601 |publisher=Cambridge University Press |ref=CITEREFWalkerBellingham2011}}
* {{citation |title=Ocean Boundary Making: Regional Issues and Developments |last1=Johnston |first1=Douglas M. |last2=Saunders |first2=Phillip M. |year=1988 |isbn=978-0709914952 |publisher=Taylor & Francis |ref=CITEREFJohnstonSaunders1988}}
 
 
 
{{refend}}
 
 
[[Thể loại:Đảo nhân tạo| ]]