Mở trình đơn chính

AK-630 là một loại pháo cao tốc tự động của hải quân do Liên Xô nghiên cứu phát triển từ những năm 1960, thuộc dạng CIWS tức hệ thống vũ khí tầm gần (Close-in weapon system). Đây là loại pháo nòng xoay mang 6 nòng, cỡ nòng 30 mm. Trong tên gọi của nó thì AK thường là ký hiệu của Liên Xô cũ (nay là Nga) cho các loại pháo Hải quân (đừng nhầm lẫn với dòng súng trường tấn công nổi tiếng AK-47 của nhà thiết kế Mikhail Timofeyevich Kalashnikov người Nga), 6 tức số nòng là 6, 30 tức cỡ nòng là 30 mm. AK-630 là một loại pháo tự động, được điều khiển bởi 1 hệ thống điều khiển hỏa lực radar hoặc vô tuyến. Tuy nó được thiết kế với nhiệm vụ chủ yếu là phòng không nhưng với tốc độ bắn 5000 viên/phút cùng khả năng quay 360 độ thì AK-630 có thể tiêu diệt các mục tiêu như tàu thuyền, máy bay hay trực thăng và các mục tiêu rất phức tạp khác chẳng hạn như tên lửa chống hạm có quỹ đạo bay thay đổi liên tục. AK-630 gần giống với các loại vũ khí thuộc dạng CIWS khác như Phalanx CIWS của Mỹ, Goalkeeper CIWS của Hà LanDARDO của Ý. Trước đây, trung bình mỗi tàu khu trục cỡ lớn của Liên Xô được đóng mới thì cần đến 5 pháo AK-630 và 1 tàu sân bay cần đến 10 khẩu AK-630, tính đến nay đã có hơn 100 khẩu AK-630 được sản xuất.

AK-630
AK-630 30 mm naval CIWS gun.JPEG
LoạiPháo hải quân, Pháo phòng không
Quốc gia chế tạo Liên Xô
 Nga
Lược sử hoạt động
Phục vụ1976-nay
Sử dụng bởiXem phần các nước sử dụng
Lược sử chế tạo
Người thiết kếKBP. Thiết kế trưởng của dự án là VI Bakaleva.
Năm thiết kế1963
Nhà sản xuấtKBP
Giai đoạn sản xuất1976-nay
Các biến thểAK-630M,AK-306,AK-630M1/M2,Kashtan CIWS
Thông số
Khối lượng9.114 kg

Đạn pháo30x165 mm
Cỡ đạn30 mm
Cỡ nòng6
Cơ cấu hoạt độngsúng máy nòng xoay
Độ giậtkhông
Cao độ-180° tới +180°
Xoay súng±360°
Tốc độ bắn5000 phát/phút
Vận tốc mũi875 m/s
Tầm bắn hiệu quả5 km
Tầm bắn xa nhất5 km
Chế độ nạp2000 viên sẵn sàng

Miêu tảSửa đổi

 
Đạn 30 mm của súng pháo AK-630

Thành phần chính của AK-630 bao gồm 1 hoặc 2 pháo AO-18 30 mm được đặt trên 1 tháp pháo. Hệ thống kiểm soát hỏa lực cho AK-630 là A-213-Vympel (định danh của NATO: Bass Tilt) gồm radar chỉ hướng MR-123-02 hay MP-123 và hệ thống truy lùng mục tiêu bằng quang học SP-521. Radar đơn MP-123/MR-123 có thể điều khiển đồng thời 2 pháo cùng 1 lúc, có thể là 2 pháo 30 mm, 2 pháo 57 mm hay 1 pháo 30 mm và 1 pháo 57 mm. Radar có thể xác định mục tiêu ở khoảng cách 4–5 km. Hệ thống quang học có thể phát hiện mục tiêu trên không cách mặt đất 7.000 m có kích cỡ bằng 1 chiếc MiG-21 trở lên trong khi có thể phát hiện 1 mục tiêu có kích cỡ như tàu phóng lôi cách xa tới 70 km. Các hệ thống điện tử này còn bao gồm các khả năng giám sát các chế độ theo dõi, miễn dịch trong tình trạng gây nhiễu cao, phạm vi phát hiện mục tiêu bằng công cụ laser hay thiết bị vô tuyến quang học. Đa số các tàu chiến của Nga hiện nay đều được trang bị AK-630. Trên các chiến hạm của Việt Nam, AK-630 cũng được sử dụng rộng rãi.

Sự hoạt động của súng hoàn toàn tự động, có thể được điều khiển từ xa bởi một hệ thống kiểm soát hỏa lực trên tháp chỉ huy của tàu chiến hoặc điều khiển bằng tay bởi 1 tầm nhắm có sẵn trên súng . Nó có tốc độ bắn cao hơn cả các loại vũ khí CIWS khác trong đó có cả Phalanx (Block 1 trở lên) hệ thống CIWS. AK-630 thường được gắn theo cặp, một chiếc tàu thường có 2 hoặc 4 súng nhằm tạo lưới lửa phòng không bảo vệ chiếc tàu.[1]

So sánh AK-630 với các loại vũ khí CIWS khácSửa đổi

So sánh một số phiên bản CIWS
  AK-630[2]   AK-630M1-2   Phalanx CIWS [3]   Goalkeeper CIWS   DARDO[4]
Khối lượng 9.114 kg (20.093 lb) 11.819 kg (26.056 lb) 6.200 kg (13.700 lb) 9.902 kg (21.830 lb) 5.500 kg (12.100 lb)
Vũ khí chính 30 mm (1,2 in) 6 nòng AO-18 hoặc GSh-6-30 Súng Gatling 2 x 30 mm (1,2 in) 6 nòng AO-18 hoặc GSh-6-30 Súng Gatling 20 mm (0,79 in) 6 nòng M61 Vulcan Súng Gatling 30 mm (1,2 in) 7 nòng GAU-8 Avenger Súng Gatling 40 mm (1,6 in) 2 nòng Bofors 40 mm
Tốc độ bắn 5.000 viên/phút 10.000 viên/phút 4.500 viên/phút 4.200 viên/phút 600-900 viên/phút
Tầm bắn hiệu quả 4.000 m (13.000 ft) 4.000 m (13.000 ft) 3.600 m (11.800 ft) 2.000 m (6.600 ft) 4.000 m (13.000 ft)
Số lượng đạn 2.000 viên 4.000 viên 1.550 viên 1.190 viên 736 viên
Sơ tốc 900 m (3.000 ft) /giây 900 m (3.000 ft) /giây 1.100 m (3.600 ft) /giây 1.109 m (3.638 ft) /giây 1.000 m (3.300 ft) /giây
Góc ngẩng của nòng (đơn vị đo:độ°) -12 đến +88 -12 đến +88 -25 đến +85 -25 đếm +85 -13 đến +85
Quay ngang (đơn vị đo:độ°) 360 360 -150 đến +150 360 360

Một điều cần lưu ý là độ chính xác của hệ thống Goalkepper (Hà Lan) vượt gấp 3,5 lần hệ thống pháo phòng không AK-630M của Nga.[5] Trong khi hệ thống radar của Goalkeeper chỉ cách khẩu pháo vẻn vẹn 10 cm thì tổ hợp pháo AK-630M và hệ thống radar Vympel nằm cách nhau 10-15m khiến cho độ chính xác của hệ thống điều khiển tổ hợp bị ảnh hưởng.[5] Độ chính xác của AK-630M theo đánh giá cứ 1.000 viên đạn bắn ra thì chỉ có không quá 4 viên bắn trúng tên lửa chống hạm với diện tích bề mặt cắt ngang chỉ vỏn vẹn 0,1m2.[5]

Biến thểSửa đổi

Pháo AK-630 CIWS có thể được lắp đặt 1 mình hoặc được tích hợp trong các hệ thống khác như Kashtan CIWS.

AK-630Sửa đổi

Phiên bản đầu tiên, được thiết kế năm 1963 và chính thức được sử dụng năm 1976. Được thử nghiệm năm 1964 và sau này được tích hợp thêm hệ thống kiểm soát radar.

AK-630MSửa đổi

Phiên bản hiện đại hóa của AK-630, đây là phiên bản được sử dụng rộng rãi hiện nay. Được nghiên cứu từ năm 1979 và sử dụng sau vài năm. AK-630M được lắp đặt trên nhiều loại tàu chiến ví dụ như Lớp tàu hộ vệ Gepard hay Tàu tên lửa lớp Molniya...

AK-306Sửa đổi

Một phiên bản khác của AK-630M đã được phát triển cho việc tấn công các mục tiêu nhỏ nhẹ và hệ thống này đã được đặt tên AK-306. Bên ngoài, nó làm mát bằng không khí. AK-306 có thể được phân biệt với AK-630 bởi AK-630 được làm mát bằng nước (một chiếc khung hình trụ bao quanh cụm nòng AK-630). Bên trong, AK-306 (A-219) sử dụng điện tự động, thay vì sử dụng ống xả. Phiên bản đầu cũng thiếu radar kiểm soát, chỉ có quang học dẫn đường, sau này nó điều khiển bởi hệ thống kiểm sáot hỏa lực A-213-Vympel-A A-219. AK-306 thường được lắp đặt trên Tàu tuần tra cao tốc Mirage.

AK-630M1-2Sửa đổi

xxxxnhỏ|160px|AK-630M-2 Duet]] Là phiên bản nâng cấp cao hơn của AK-630M với việc lắp đặt 2 pháo 6 nòng vào 1 tháp pháo giúp tăng gấp đôi tốc độ bắn (10.000 viên/phút), được nghiên cứu vào năm 1983 với biệt danh "Roy". Tháng 3 năm 1984, phiên bản thử nghiệm đầu tiên được sản xuất. Việc lắp đặt nó trên tàu chiến có vẻ khó khăn và đến năm 1987 mới hoàn thành. Tàu tên lửa P-44 lớp 2066 của Hạm đội Biển Đen đã được lựa chọn để lắp đặt hệ thống pháo đôi nhiều nòng AK-630M1-2 "Roy". Trên P-44, AK-630M1-2 đã được thử nghiệm đầu tiên vào mùa hè năm 1989. Từ đó, AK-630M1-2 chính thức được sử dụng. Cũng từ đây mà người ta dựa trên AK-630M1-2 để phát triển ra tổ hợp Kashtan CIWS có khả năng phòng vệ còn tốt hơn khi được tích hợp tên lửa.

Tại triển lãm hàng hải quốc tế IMDS-2007 "Tulamashzavod", một phiên bản mới của AK-630M1-2 đã được ra mắt trước công chúng với tên gọi AK-630M2 "Duet". Nó có rất nhiều khác biệt về hình dáng so với "Roy". Đặc biệt là tháp pháo, có cấu tạo đầy góc cạnh thay vì tháp tròn của "Roy". Tháp pháo mới này cho phép nó biến mất trước sóng radar đối phương, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tấn công.

Năm 2012, Tàu đổ bộ lớp Ivan Gren - một lớp tàu mới của Nga cũng được lắp đặt pháo AK-630M-2.[6]

Lịch sửSửa đổi

Đầu năm 1976, AK-630 đã được đem vào sử dụng. Bộ phận chính của nó là tháp pháo, được trang bị một khẩu súng 6 nòng AO-18 30mm. Do có tốc độ bắn cực nhanh (lên đến 5000 phát/phút) nó có thể tiêu diệt tất cả các loại mục tiêu. Tuy nhiên, các mục tiêu không đơn giản chỉ là tàu thuyền, máy bay hay trực thăng mà chúng rất phức tạp, chẳng hạn như tên lửa chống tàu, có quỹ đạo thay đổi liên tục và do đó AK-630 cần phải được nâng cấp, cách mà các nhà thiết kế tại Phòng thiết kế chế tạo khí cụ thành phố Tula sử dụng là tăng số pháo.

Vào cuối năm 1983, Hải quân Liên Xô đã quyết định nâng cấp AK-630 với các yêu cầu kỹ chiến thuật mới và tên gọi của biến thể nâng cấp này được chỉ định là AK-630M1-2 "Roy". Cùng với việc này, người ta cũng đã tiến hành hàng loạt các công trình liên quan đến việc cải thiện độ tin cậy của pháo.

Việc phát triển biến thể mới này chỉ mất một vài tháng. Tháng 3 năm 1984, Nhà máy số 535 (thuộc Nhà máy chế tạo máy Tula) đã bắt đầu thử nghiệm sản xuất.

Công việc này kéo dài cho đến cuối tháng 11. Việc lắp đặt "Roy" trên tàu mất nhiều thời gian hơn – khi mà mãi đến năm 1987, người ta mới thực sự lắp đặt xong.

Tàu tên lửa P-44 lớp 2066 của Hạm đội Biển Đen đã được lựa chọn để lắp đặt hệ thống pháo đôi nhiều nòng AK-630M1-2 "Roy".

Trên P-44, AK-630M1-2 đã được thử nghiệm đầu tiên vào mùa hè năm 1989. AK-630M1-2 đã bắn trúng mục tiêu là một tên lửa mô phỏng ở độ cao 10m chỉ với 200 phát đạn, một hiệu suất đáng nể. Từ nay, AK-630M1-2 chính thức được sử dụng.

Tại triển lãm hàng hải quốc tế IMDS-2007 "Tulamashzavod", một phiên bản mới của AK-630M1-2 đã được ra mắt trước công chúng với tên gọi AK-630M2 "Duet". Nó có rất nhiều khác biệt về hình dáng so với "Roy".

Sau này, AK-630 còn được tích hợp trên hệ thống Palma-SU hay còn gọi là Kashtan CIWS. Hệ thống này tích hợp 2 pháo AO-18 (thành phần chính của pháo AK-630) nâng tốc độ bắn thành 10.000 viên/phút, 8 ống phóng tên lửa 9M114 mà NATO ký hiệu là SA-N-11 cùng ra đa dò tìm 3-D và hệ thống điều khiển kết hợp đa tần. Nó có thể tiêu diệt mục tiêu chỉ có chục vài mét cho đến 6.000 m

Thông số kỹ thuật cơ bảnSửa đổi

  • Loại đạn: 30x165 mm
  • Cỡ nòng: 30mm
  • Tầm bắn hiệu quả: 5 km
  • Tốc độ bắn: tới 5.000 phát/phút
  • Ngắm ngang: -180 độ đến 180 độ
  • Ngắm đứng: -12 độ đến 88 độ
  • Sơ tốc đầu nòng: 875 m/s
  • Hộp tiếp đạn: 2000 viên
  • Trong lượng tháp pháo (chưa nạp đạn): không quá 1 tấn.

Các quốc gia sử dụngSửa đổi

 
AK-630 đang bắn

Chú thíchSửa đổi