Mở trình đơn chính

Apollo 5

Chuyến bay thử nghiệm không người lái đầu tiên của Chương trình Apollo với Module Mặt Trăng

Apollo 5 (còn gọi là AS-204), là chuyến bay không người lái đầu tiên có mô-đun Mặt Trăng (LM), mà sau này sẽ đưa các phi hành gia lên bề mặt Mặt Trăng. Nó cất cánh vào ngày 22 tháng 1 năm 1968, với một tên lửa Saturn IB trên một chuyến bay trên quỹ đạo vòng quanh Trái Đất.

Apollo 5
Lm1 ground.jpg
Lunar Module 1 đang được kết nối với Spacecraft Lunar Module Adapter (SLA) để chuẩn bị phóng lên
Dạng nhiệm vụChuyến bay kiểm tra mô đun Mặt Trăng
Nhà đầu tưNASA
COSPAR IDAscent stage: 1968-007A
Descent stage: 1968-007B
SATCAT №3106
Thời gian nhiệm vụ11 hours, 10 minutes
Quỹ đạo đã hoàn thành7
Các thuộc tính thiết bị vũ trụ
Thiết bị vũ trụApollo LM-1
Nhà sản xuấtGrumman
Trọng lượng phóng14.360 kilôgam (31.660 lb)[1]
Bắt đầu nhiệm vụ
Ngày phóng22:48:09 22/1/1968
Tên lửaSaturn IB SA-204
Địa điểm phóngTrạm không quân Mũi Canaveral LC-37B
Kết thúc nhiệm vụ
Cách loại bỏBay vào khí quyển trong tình trạng không điều khiển
Dừng hoạt độngngày 23 tháng 1 năm 1968 9:58 (ngày 23 tháng 1 năm 1968 9:58) UTC
Ngày kết thúcGiai đoạn phóng lên: ngày 24 tháng 1 năm 1968 (ngày 24 tháng 1 năm 1968)
Giai đoạn hạ cánh: ngày 12 tháng 2 năm 1968 (ngày 12 tháng 2 năm 1968)
Các tham số quỹ đạo
Hệ quy chiếuGeocentric
Chế độLow Earth orbit
Củng điểm quỹ đạo162 kilômét (87 nmi)[2]
Củng điểm quỹ đạo214 kilômét (116 nmi)[2]
Độ nghiêng quỹ đạo31.6 độ[2]
Chu kỳ quỹ đạo89.5 phút[2]
Kỷ nguyênngày 22 tháng 1 năm 1968 (ascent stage)[3]
LM1 embr original.jpg
Chương trình Apollo
← Apollo 4 Apollo 6

Mục tiêuSửa đổi

Nhiệm vụ của Apollo 5 là thử nghiệm mô-đun Mặt Trăng trong một môi trường không gian, đặc biệt là hệ thống động cơ hạ cánh và phóng lên của nó, và khả năng tách rời các giai đoạn phóng lên và hạ cánh. Động cơ hạ cánh sẽ trở thành động cơ tên lửa có thể phóng tiếp đầu tiên được đưa vào không gian.

Nhiệm vụ cũng thực hiện một mô phỏng của một lần hủy bỏ việc hạ cánh, trong đó động cơ giai đoạn phóng lên sẽ được bắn trong khi vẫn còn gắn liền với giai đoạn hạ cánh. Điều này, được các kỹ sư gọi là thử nghiệm "lửa trong lỗ", được mô tả trong bản vá phù hiệu của nhiệm vụ này.

Chậm trễSửa đổi

Như với Apollo 4, chuyến bay này trải qua sự chậm trễ lâu dài. Nguyên nhân chính của điều này là mô-đun Mặt Trăng, mà rất chậm trễ so với lịch biểu. Một số chậm trễ có thể là do thiếu kinh nghiệm trong việc xây dựng một phi thuyền có người lái để đáp xuống Mặt trăng.

Việc ra mắt không người lái đầu tiên ban đầu được lên kế hoạch vào tháng 4 năm 1967, yêu cầu phải sẵn sàng tại Cape vào khoảng tháng 9 năm 1966. Nhưng sự chậm trễ tiếp tục xảy ra. Mặc dù mô-đun Mặt Trăng được thiết kế đầy đủ, đã có vấn đề chế tạo các bộ phận tùy chỉnh. Động cơ cũng gặp vấn đề. Động cơ hạ cánh không được khởi động trơn tru, và động cơ phóng lên gặp khó khăn trong chế tạo và hàn.

Cuối cùng, những vấn đề này đã được khắc phục, nhưng phải mất vài tháng và cho đến ngày 23 tháng 6 năm 1967, LM-1 mới đến Cape trên tàu Super Spppy của Aero Spacelines. Sau bốn tháng thử nghiệm và sửa chữa LM đã được kết hợp với tàu và ra mắt vào ngày 19 tháng 11.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Apollo 5”. NASA Space Science Data Coordinated Archive. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016. 
  2. ^ a ă â b “Apollo 5”. NASA Space Science Data Coordinated Archive. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016. 
  3. ^ McDowell, Jonathan. “SATCAT”. Jonathan's Space Pages. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2014.