Mở trình đơn chính

Bãi Quế Đường hay bãi cạn Quế Đường, bãi ngầm Quế Đường (tiếng Anh: Grainger Bank; tiếng Trung: 李准滩; bính âm: Lǐzhǔn tān, Hán-Việt: Lý Chuẩn than) là một rạn san hô ở phía nam Biển Đông. Việt Nam cho xây dựng tại đây cấu trúc thép có tên là nhà giàn DK1 và Tiểu đoàn DK1 trực thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân kiểm soát, đồng thời duy trì một hải đăng.

Bãi Quế Đường

Grainger Bank.jpg
Ảnh vệ tinh chụp bãi Quế Đường
Địa lý
Vị tríBiển Đông
Tọa độ7°49′10″B 110°30′3″Đ / 7,81944°B 110,50083°Đ / 7.81944; 110.50083 (bãi Quế Đường)Tọa độ: 7°49′10″B 110°30′3″Đ / 7,81944°B 110,50083°Đ / 7.81944; 110.50083 (bãi Quế Đường)
Diện tích27.6 km2 (10,66 mi2)
Dài10 km (6 mi)
Rộng4.5 km (2,8 mi)
Hành chính
TỉnhBà Rịa - Vũng Tàu
Hải đăng Quế Đường
Hải đăng Quế Đường trên bản đồ biển Đông
Hải đăng Quế Đường
Hải đăng Quế Đường
Tọa độ 7°49′10″B 110°30′3″Đ / 7,81944°B 110,50083°Đ / 7.81944; 110.50083 (Hải đăng Quế Đường)
Năm khởi xây Trước 1994 (1994)
Chiều cao công trình (tính đến đế) 23,4m
Nguồn sáng Đèn chính: VMS-S ML400
Tầm chiếu sáng Ngày: 10 hải lý
Đêm: 12 hải lý
Đặc tính ánh sáng Fl(3) W 10s
Số Admiralty F2825.194[1]
Số NGA 20291.2[1]
Số ARLHS SPR-003[1]

Việt Nam tuyên bố bãi Quế Đường nằm trên thềm lục địa phía nam, không thuộc quần đảo Trường Sa và bác bỏ sự gán ghép bãi này vào quần đảo Trường Sa. Đài LoanTrung Quốc quan niệm bãi này thuộc quần đảo Nam Sa.

Địa lýSửa đổi

Bãi Quế Đường là rạn san hô nằm cách đất liền Việt Nam 225 hải lý. Vị trí so với các bãi ngầm xung quanh như sau: cách bãi Huyền Trân 13 hải lý về phía tây nam, cách bãi Phúc Tần 15 hải lý về phía nam, cách bãi Phúc Nguyên 26 hải lý về phía đông và cách bãi Tư Chính 35 hải lý về phía đông đông bắc.[2][3] Phần mặt bằng rạn quan sát được dài 10 km theo trục đông bắc-tây nam và rộng 4,5 km theo trục tây-đông; tổng diện tích 27,6 km².[2] Bãi sâu vào khoảng 11-14,6 m,[3] nông nhất là ở đông bắc bộ và dọc theo mặt đông nam bộ.[2]

Hoạt động của con ngườiSửa đổi

Nhà giàn

Về mặt hành chính, bãi Quế Đường thuộc phạm vi quản hạt của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.[4] Tại một địa điểm ở phần đông bắc của bãi, người ta dựng lên những cấu trúc thép gọi là nhà giàn DK1 kể từ năm 1991. Về sau, mẫu nhà giàn được thiết kế lại, rộng rãi và vững chắc hơn, có kết cấu liên hoàn theo mẫu giàn khoan nước sâu.[5] Hiện nay, có hai nhà giàn đang hoạt động:

  • Nhà giàn DK1/8 hoàn thành lần đầu ngày 4 tháng 11 năm 1991, là nơi đặt hải đăng Quế Đường.
  • Nhà giàn DK1/19: hoàn thành lần đầu ngày 10 tháng 4 năm 1997.

Binh sĩ đồn trú thuộc biên chế Tiểu đoàn DK1, lúc đầu thuộc Lữ đoàn 171 Hải quân Nhân dân Việt Nam, về sau trực thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân.[6] Họ trồng được rau xanh và nuôi được gia súc, gia cầm để đáp ứng nhu cầu thực phẩm.[5]

Hải đăng

Hải đăng Quế Đường được đặt trên nhà giàn DK1/8, chiều cao tháp đèn 23,4m, có tầm hiệu lực ban ngày là 10 hải lý, ban đêm là 12 hải lý. Ánh sáng trắng, chớp nhóm 3, chu kỳ 10 giây.[7]

Các yêu sáchSửa đổi

Nội dung yêu sáchSửa đổi

Việt Nam

Việt Nam cho rằng, căn cứ Điều 60 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982) quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế và Điều 80 quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình ở thềm lục địa, Việt Nam có đặc quyền tiến hành xây dựng, cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình dùng vào mục đích được trù định ở Điều 56 của UNCLOS 1982 hoặc các mục đích kinh tế khác trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việt Nam tuyên bố không cố ý biến các bãi ngầm ở thềm lục địa phía nam nước này [trong đó có bãi Quế Đường] thành đảo nổi và không gán ghép chúng vào quần đảo Trường Sa, đồng thời bác bỏ sự gán ghép này.[8]

Trung Quốc

Năm 1935, Trung Hoa Dân quốc xuất bản "Biểu đối chiếu tên gọi Hoa-Anh các đảo thuộc Nam Hải Trung Quốc", trong đó phiên âm tên tiếng Anh Grainger Bank sang tiếng Trung là 格稷澤灘 (bãi Cách Tắc Trạch). Năm 1947, Bộ Nội vụ Trung Hoa Dân quốc đổi tên tiếng Trung của bãi này thành 李準灘 (bãi Lý Chuẩn). Tên gọi Lý Chuẩn được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) tiếp tục công nhận và sử dụng từ năm 1983. Trung Quốc xem bãi Quế Đường là một phần của quần đảo Nam Sa, đồng thời xem quần đảo Nam Sa là bộ phận lãnh thổ bất khả phân của Trung Quốc.[9][10]

Công pháp quốc tếSửa đổi

  • Khác với đảo, thực thể chìm ngập dưới biển không phải là đối tượng để các quốc gia tuyên bố chủ quyền một cách riêng rẽ, trừ khi chứng minh được chúng nằm trong vùng nước lịch sử hoặc nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của thực thể khác.[11][12][13]
  • Thềm lục địa không phải là bộ phận của lãnh thổ quốc gia, nói cách khác quốc gia ven biển không có chủ quyền đối với thềm lục địa.[14] Theo Điều 77 UNCLOS 1982, quốc gia ven biển chỉ thực hiện các quyền thuộc chủ quyền về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình. Việc quốc gia ven biển thực thi quyền chủ quyền không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của các quốc gia khác đã được UNCLOS thừa nhận. Theo Điều 79 UNCLOS 1982, các quốc gia khác có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa nhưng cần được sự thỏa thuận của quốc gia ven biển.[15]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â Rowlett, Russ. “Lighthouses of the Spratly Islands” (bằng tiếng Anh). The Public's Library and Digital Archive. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018. 
  2. ^ a ă â “Grainger Bank” (PDF) (bằng tiếng Anh). Trung tâm Luật quốc tế, Đại học Quốc gia Singapore. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2018. 
  3. ^ a ă Pub. 93 Sailing Directions for Western Shores of South China Sea: Singapore Strait to Hong Kong - Part 1 (bằng tiếng Anh) (ấn bản 5). Department of Defense, Defense Mapping Agency, Hydrograhic Center. 1976. tr. 85. 
  4. ^ TTXVN (ngày 2 tháng 5 năm 2011). “Bà Rịa - Vũng Tàu: Bầu cử sớm tại Nhà trạm GK1/2”. Đại biểu Nhân dân. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018. 
  5. ^ a ă Việt Hòa (5 tháng 5 năm 2018). “Hiên ngang Nhà giàn DK1 giữa trùng khơi”. Giao thông. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018. 
  6. ^ Tuấn Cường (4 tháng 7 năm 2014). “Chuyện những cột mốc chủ quyền trên biển”. Tiền Phong Online. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018. 
  7. ^ “Hải đăng Quế Đường”. Trang thông tin điện tử Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Nam [Việt Nam]. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018. 
  8. ^ Ban Tuyên giáo Trung ương [Việt Nam] (2013). 100 câu hỏi-đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông. tr. 141–43. ISBN 978-6048001506. 
  9. ^ “南海诸岛中外地名对照表” (bằng tiếng Trung). 海南史志网. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018. 
  10. ^ “第二节西、南、中沙群岛岛礁” (bằng tiếng Trung). 海南史志网. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018. 
  11. ^ Hong, Seoung-Yong; Van Dyke, Jon M. (2009). Maritime Boundary Disputes, Settlement Processes, and the Law of the Sea (Publications on Ocean Development) (bằng tiếng Anh). Brill. tr. 149. ISBN 978-9004173439. 
  12. ^ Poling, Gregory (5 tháng 7 năm 2012). “Time to End Strategic Ambiguity in the South China Sea” (bằng tiếng Anh). Center for Strategic and International Studies. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2018. 
  13. ^ Zou, Keyuan (2013). Law of the Sea in East Asia: Issues and Prospects. Routledge Studies in International Law (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 51. ISBN 978-1134267651. 
  14. ^ Roy, Dennis (2012). “The Legal Continental Shelf: The Surprising Canadian Practice Regarding Oil and Gas Development in the Atlantic Coast Continental Shelf”. Alberta Law Review (bằng tiếng Anh) 50 (1): 65–93. 
  15. ^ “Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (bản dịch tiếng Việt)” (PDF). Cổng thông tin điện tử Tổng cục Môi trường [Việt Nam]. 1 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2018.