Charles-Théodore Millot, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1829 ở Montigny-sur-Aube và mất vào ngày 17 tháng 5 năm 1889 tại Angouleme, là một vị tướng người Pháp và đồng thời là chỉ huy của lực lượng viễn chinh Pháp tại Bắc Kỳ.

Tiểu sửSửa đổi

Millot vào học Trường quân sự đặc biệt Saint-Cyr năm 1847 với mảng bộ binh cho chính quyền Napoleon III. Vào thời Đế chế, Millot tham gia chỉ huy quân Pháp bên chiến trường Trung Quốc. Sau thất bại ở trận Metz năm 1870, ông đầu hàng quân Phổ và sau đó nhanh chóng gia nhập quân đội Pháp với cấp bậc là sĩ quan chỉ huy của Trung đoàn Bộ binh số 57. Millot được thăng đại tá năm 1874 và làm tướng quân năm 1880

Năm 1882, ông được bổ nhiệm làm chỉ huy của Place de Paris và quân đoàn sông Seine

Chiến dịch Việt NamSửa đổi

Ngày 12/12/1883, tướng Millot được chính phủ Ferry cử ngay là Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương thay thế Amédée Courbet. Trước khi sang Đông Dương, Millot được chính phủ Pháp cấp thêm khoản kinh phí từ Nghị viện là trên 30 triệu franc[1] với số quân viễn chinh lên tới 6.500 người kéo sang. Đến Việt Nam, viện binh này họp với quân Pháp ở Bắc Kỳ (quân bộ: 9.300 người, thủy quân lục chiến: 1.000 người), 1.500 quân Nam triều (triều đình Huế), 488 sĩ quan, nâng tổng số lên 17.554 người[2]. Tập hợp đầy đủ lực lượng, Millot bắt đầu tấn công trung tâm đề kháng mạnh nhất của quân ta ở Bắc Ninh

Trận Bắc NinhSửa đổi

Việc tấn công Bắc Ninh vốn là ý đồ của Courbet. Nay Millot thực hiện kế hoạch của người tiền nhiệm bằng cách chia thành 2 đại đoàn: 1 do Louis Alexandre Esprit Gaston Brière de l'Isle chỉ huy đóng ở Hà Nội, 1 do De Negrier chỉ huy đóng tại Hải Dương. Để chuẩn bị đánh Bắc Ninh, quân Pháp bất ngờ đánh chiếm trước ngã ba sông Lục Nam - sông Đuống - sông Cầu và sông Kinh Thầy, một điểm chốt mà sau này gọi là Phả Lại. Quân Thanh vội phản công nhưng bất thành. Đoàn quân De Negrier tiến chiếm để mở đường tiến vào Bắc Ninh.

Millot huy động 10.000 quân và 55 đại bác, nhiều tàu chiến vào trận đánh Bắc Ninh. Ngày 7/3/1884, Millot cho tàu chiến chạy dọc sông Đuống để do thám và nghi binh. Ngày 8/3/1884, một đạo quân Pháp từ Phả Lai tiến đánh Yên Định, đồng thời cánh quân ở Hà Nội vượt Gia Lâm hợp quân ở làng Chi, sau đó cùng tiến đến làng Xuân Hòa gần Đáp Cầu. Theo chính sử nhà Nguyễn, đạo quân Pháp "cướp được 7 đồn ở Mẫn Tuyên, Phú Lương, Thuận Lương của đảng Trần Đắc Quý. Ngày 13 (tức ngày 11/3/1884 dương lịch) Đề đốc Tam tuyên Lưu Vĩnh Phúc dắt quân từ Hưng Hóa đến Bắc Ninh, đồn đóng chưa định, đến sáng ngày 15 (tức 13/3/1884 dương lịch), quân Pháp cùng quân Thanh đánh nhau ở địa hạt Quế Dương chưa chịu thua được. Đến trưa hôm ấy, quân Pháp tới dinh quân Thanh, thả khí cầu, (quân Thanh) bèn thu quân lại. Buổi chiều, quân Pháp chợt đưa quân trở lại vây đánh. Quân ở doanh Thanh triều nhiều người bị thương, chết, chống địch không nổi đều vỡ (...) lùi về Thái Nguyên, đoàn quân của Lưu cũng lui về Hưng Hóa (Đoàn ấy lần này lại cùng với quân Thanh chẳng hợp, chẳng từng có đánh viện trợ trận nào). Quân Pháp bèn chỉnh đội sấn vào tỉnh thành, Bố chánh sứ Nguyễn Tu, Án sát sứ Nguyễn Ngọc Chấn và viên biền lại dịch đều tản ra ngoài thành"[3]. Cũng theo chính sử, Đốc thần Trương Quang Đản vào trở lại thành nhưng bị quân Thanh ngăn lại. Còn đạo quân Thanh sau khi rút chạy về Thái Nguyên và Lạng Sơn thì hai tướng Thanh là Triệu Ốc và Hoàng Quế Lan bị vua Thanh xuống chiều nã hỏi. Ngày 13/3/1884, Hoàng Quế Lan tự sát[4].

Sau trận Bắc Ninh, Millot cho các thuộc tướng tiến đánh chiếm Thái Nguyên và Hưng Hóa.

Thành lập Hội đồng cai quản Bắc KỳSửa đổi

Sau khi đánh chiếm được Hưng Hóa, ngày 26/4/1884, tướng Millot đề nghị và được Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa là Charles Peyron (1883 - 1885) chuẩn y thành lập Hội đồng cai quản Bắc Kỳ gồm 2 quan võ, 2 quan văn và Millot làm Chủ tịch Hội đồng này. Hội đồng đã theo lệnh của Paris để thực hiện chính sách dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh[5]. Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng ngày 28/4, Chủ tịch Millot đã thông qua quyết định kế hoạch tiếp tục đánh chiếm nhiều nơi trên đất Bắc[6]. Cũng theo kế hoạch của Millot, Pháp dự định tổ chức một đạo quân Nam triều (tức triều đình Huế) gồm 12.000 người; hắn cũng tính rằng với số quân này, chỉ có thể chiếm giữ xa nhất là tới Nam Định, Bắc Ninh và Hưng Hóa[7]. Ngày 12/5/1884, Millot ra nghị định thành lập 2 trung đoàn quân Nam triều đầu tiên ở Bắc Kỳ theo mô hình trung đoàn Nam triều đầu tiên được thiết lập ở Nam Kỳ năm 1879. Nghị định này bắt buộc mỗi xã phải nộp một số tráng đinh đi lính và giao cho các tổng lý, cường hào ở làng xã bắt tráng lính (kể cả giáo dân tự nguyện tham gia cầm súng chống lại Tổ quốc[7]. Ngày 28/6, Millot ra tiếp nghị định tổ chức tới 3 trung đoàn Nam triều quân, sau đó là 4 trung đoàn, đều do sĩ quan Pháp chỉ huy[8].

Trận Tuyên QuangSửa đổi

Sau khi củng cố xong lực lượng, Millot bèn cho quân tiến đánh thành Tuyên Quang. Ở thành Tuyên Quang, tuần phủ thành là Hoàng Tường Hiệp bị quân của Lưu Vĩnh Phúc bắt đi an trí ở phủ Yên Bình. Thông phán Nguyễn Trung Hội bị quân của Lưu đoàn (tức quân của Lưu Vĩnh Phúc) bắn chết, Án sát Nghiêm Niệm cáo bệnh về và Bố chánh Lê Văn Duyên lẻn trốn về Hà Nội. Đại tá Pháp là quan năm Dugenne đưa Duyên vào Tuyên Quang đóng giữ vì quân Lưu đoàn rút lui hết. Thế nhưng khi Pháp vừa rút bớt sang Hưng Hóa thì quân Lưu đoàn do Hoàng Thủ Trung chỉ huy 1 vạn quân tiến đánh, vây chặt tiểu đoàn Domine tới 8 tháng trong thành Tuyên, cắt đứt đường bộ ở phủ Đoan Hùng và đường sông Lô. Quân Pháp bị mắt kẹt trong thành nhưng chúng cố gắng tìm cách giải vây liên tục: từ tháng 6 đến tháng 12/1884, mỗi tháng hoặc 4, 5 lần đều xảy ra các trận đánh chặn như thế[9]. Lúc này, quản lý thành Tuyên là người cũ do Pháp kiểm soát: Án sát Nghiêm Niệm, Bố chánh Lê Văn Duyên.

Trận cầu Quan ÂmSửa đổi

Sau khi Quy ước Thiên Tân ký giữa Fournier (Pháp) với Lý Hồng Chương (Trung Quốc) hoàn tất với thắng lợi thuộc về bên Pháp, cả bọn thực dân Pháp ở Hà Nội nhảy nhót vui mừng và Ferry rút bớt một tiểu đoàn ở Bắc Kỳ để đưa vào cuộc chinh phục đảo Madagascar. Lúc này, Tổng chỉ huy Millot ở Bắc Kỳ chuẩn bị gấp rút kế hoạch đánh chiếm Lạng Sơn, Thất Khê và Cao Bằng. Hắn ngay lập tức chuẩn bị một binh đoàn do đại tá Dugenne chỉ huy đóng tại Phủ Lạng Thương gồm trên 1.000 người có hơn 1.000 phu khuân vác, với dự định xuất phát từ ngày 13/6/1884.

Trong khi đó tại Lạng Sơn, quân Thanh kéo qua ngày càng nhiều với các tướng lĩnh mới thay thế các tướng lĩnh cũ đang bị vua Thanh chờ xử phạt: thự Đề đốc Quảng Tây Tô Nguyên Chương, Tuần phủ Quảng Tây Phan Đình Tấn, Bố chánh Vương Đức Bảng, Tổng đốc Vân Quý Sầm Dục Anh, Phương Hữu Thăng, Hoàng Nguyên Xuân, cầm đầu 17 doanh chia ra đóng từ ải Nam Quan đến cầu Quan Âm (trên sông Thương). Cùng lúc đó, quan tuần phủ Lạng Sơn là Lã Xuân Oai xin cử Tán tương quân thứ tỉnh Đông (Hải Dương) là Nguyễn Thiện Thuật làm thương biện, Đề đốc Tạ Hiện, Ngự sử Phạm Huy Quang, nghĩa dân Hải Dương Phạm Hữu Bằng và 10 người khác cùng làm việc[10] và tất cả đều nhờ cậy quân Thanh[11]. Sau khi Bắc Kinh ký kết Quy ước Thiên Tân, quân Thanh ở Bắc Kỳ tất cả vẫn nhận lệnh không được tấn công trước.

Binh đoàn Dugenne rầm rộ và hống hách kéo đến Lạng Sơn. Vừa mới ra đi từ một số người ái quốc trong đoàn phu khuân vác đã phủ dụ dân phu trốn vào rừng không chịu khuân vác. Trời mưa, nước dâng cao và quân Pháp tiến rất chậm, qua sông suối càng khó khăn và liên tục bị quân ta bắn tỉa nên binh lính Pháp chết và bị thương rất nhiều, buộc lòng Đại tá Pháp phải điện báo để xin tiếp viện. Trong một tuần dài, chúng chỉ tiến được 40 cây số. Ngày 22/6/1884, quân Pháp đến bờ sông Quan Hóa (nhánh sông Thương) cách cầu Quan Âm (hay Bắc Lệ) 8 - 9 dặm đường[12]. Bên kia sông thì tập trung quân của Nguyễn Thiện Thuật, Đề đốc Tạ Hiện, Ngự sử Phạm Huy Quang. Thấy lòng sông Thương không sâu lắm (nước ngang thắt lưng[13]), quân Pháp ung dung vượt sông trong khi quân Việt bất ngờ nã đạn làm chúng thiệt hại một số. Khi quân Pháp qua đến giữa sông, tướng Thanh sai quân đem thư ra cho Dugenne, nói rằng tuy biết có Quy ước Thiên Tân nhưng chưa có lệnh rút quân, Đại tá Pháp nên chờ đợi và điện cho Bắc Kinh ra lệnh mới. Vừa nhận và đọc thư của tướng Thanh, Dugenne lo sợ vì hắn đang trong tình thế nguy hiểm: trước mặt có quân đối phương và sau lưng là sông Thương. Nhưng với bản tính hống hách, Dugenne không thèm trả lời thư của tướng Thanh mà gửi tối hậu thư yêu cầu quân Việt - Thanh phải rút ngay trong 1 giờ để quân Pháp tiếp tục tiến.

Đúng giờ hẹn, quân Pháp tiếp tục tiến lên. Trong khi viên sứ giả Pháp đưa thư sang tướng Thanh, Pháp cố kéo đến nơi gần khe núi. Sử gia Phạm Văn Sơn lượt thuật chi tiết: "Vì vậy, trong khi chờ gặp viên Tư lệnh quân Thanh, tiền đạo của Pháp kéo đến một nơi gần khe núi. Quân Thanh bắn ra từ các lùm cây rậm rạp. Đám lính tập bỏ chạy. Vào khoảng 5 giờ rưỡi, đạn của quân Thanh lại bắn ra như mưa rào, gây khủng hoảng dữ dội trong đám lao công. Đêm tối, súng im bặt, lính Pháp phải đào hố và đặt trạm cứu thương. Vào 11 giờ đêm, mưa to lại đổ.Ngày sau (26 tháng 6), tình trạng của Pháp quân bi đát hơn. Tám ngàn quân Thanh vây kín quân Pháp"[14]. Sách "Đại Nam thực lục chính biên" tường thuật thêm: "Đến canh tư sáng mùng 2 tháng ấy, quân Pháp hơn 7, 8 trăm người sang qua sông Hóa (cách cầu Quan Âm 7, 8 dặm) bắt đầu nổ súng, quân dinh bèn đua sức đánh đến giờ Thân, thắng trận bắt được 1 tên quan tư, 2 tên quan hai, 20 người lính, hơn 100 lính mã tà và bắt được áo, mũ, lừa, ngựa rất nhiều và chết đuổi ở sông Hóa, không biết đâu mà kể"[15]. Trước tình thế nguy cấp vì bị liên quân Việt - Thanh bao vây 3 mặt và còn bị đe dọa cắt đứt đường rút lui về Hà Nội. Dugenne thất thế, liên vội cho quân lính rút lui. Số phu còn lại chạy tán loạn. Dọc đường rút, quân Thanh nấp trên các hang, các khe, các bụi rậm cứ chĩa súng bắn xuống đoàn quân đang cố tháo chạy. Đến 5 giờ chiều, quân Pháp mới vượt sông về tới Bắc Lệ[16]. Khi tới được Bắc Lệ, số quân Pháp trên lại bị nghĩa quân Việt do Tán tương Hoàng Đình Kinh chỉ huy, tổ chức tấn công, bắt được một quan hai và một quan một, 6 - 7 đầu người lính[12]. Rồi ông còn phái nghĩa dũng tiến mau ngăn quân Pháp ở núi Thiên Cầu, giết và bắt được hơn 50 tên Pháp rồi giải về doanh của quân Thanh. Trung tá Dugenne và số quân còn lại lui riết về Đáp Cầu (một số tài liệu ghi là Bắc Cần[17], Bắc Cầu[18]) 10 dặm[19].

Trận chiến ở cầu Quan Âm là một thất bại nặng nề của quân Pháp, một thắng lợi to lớn của liên quân Việt - Thanh. Ở Paris, chính phủ và bọn tướng lãnh Pháp nghĩ rằng trận đánh đã xong rồi và không còn gì quan trọng nữa và triều đình Huế đã bó tay, nhà Thanh đã ký quy ước rút quân. Giữa tháng 4, trong một bữa tiệc, rượu ngà ngà, thủ tướng Pháp Ferry đã vội nói: "Còn về phần Bắc Kỳ thì tôi có quyền tuyên bố rằng giai đoạn quân sự đã qua rồi". Sau thắng lợi ở Hưng Hóa, Millot huênh hoang báo cáo: "Bây giờ kẻ địch không thể không biết rằng ta có thể chiếm đóng Lạng Sơn, cũng như Thái Nguyên, với cái thì giờ cần thiết để đi đến nơi ấy". Nào dè !

Tin đại bại ở Quan Âm lan về Hà Nội. Negrier kéo quân tiếp viện thì quân ta đã lấy lại Bắc Lệ. Millot điện về Pháp. Ferry hô hào "trả thù" và hấp tấp nghĩ rằng trận Quan Âm là một mưu sâu của nhà Thanh không muốn Quy ước Thiên Tân được ký kết, ra mật lệnh cho Đô đốc Courbet rồi điện cho Lý Hồng Chương rất khiêu khích: "Hai sư đoàn hải quân của Courbet đương nhằm hướng Bắc mà tiến phát". Hưởng ứng theo lời của Ferry, Đô đốc Pháp Lespes điện từ Thượng Hải về Pháp báo rằng: "Ở Bắc Kỳ, tốt nhất là phải đánh chiếm Lạng Sơn". Courbet xin "phải dùng cái tiếng nói có hiệu lực nhất là tiếng nói của đại bác". Và sau đó, đã hai lần (12 tháng 7 & 19 tháng 8) Jules Ferry gửi tối hậu thư đòi quân Thanh phải rút ngay khỏi Bắc Kỳ và phải đòi thường "thiệt hại" cho Pháp 250 triệu francs. Thế là cuộc thương thuyết diễn ra trong thời gian khá dài. Trong thời gian Pháp đang nhùng nhằng thương thuyết với Trung Quốc, Mỹ lập tức xen vào. Ngày 23/7/1884, Ngoại trưởng Mỹ F. Frelinghuysen gửi cho đại sứ Pháp tại Mỹ Mortou một bức điện đề nghị Thủ tướng Pháp Ferry cho mình được làm trung gian giữa hai bên[20]. Chớp ngay cơ hội này, Lý Hồng Chương chỉ muốn được bồi thường 3,5 triệu quan. Theo nghiên cứu của GS Trần Văn Giàu, cuộc thương thuyết Pháp - Thanh diễn ra căng thẳng hơn bao giờ hết. Cánh mại bản đứng đầu là Lý Hồng Chương có ý yêu cầu Tổng thống Mỹ Chester Arthur xét xử hộ, bản thân Lý thì muốn nhượng bộ để đỡ mất danh dự. Cò kè bớt một thêm hai, Pháp đòi 50 triệu và dặn viên công sứ Pháp tại Trung Quốc là Pathenotre là Trung Quốc muốn trả lúc nào cũng được 50 triệu franc và đe đọa: "50 triệu hay là chiến tranh" (bức điện của Ferry ngày 3/8/1884). Lý lẽ của kẻ cướp đường ! Lý Hồng Chương nhận sẽ trả hơn 3,5 triệu với điều kiện Việt Nam tiếp tục triều cống Thiên triều - đây cũng chỉ là vấn đề "danh dự", "mặt mày" của Lý mà thôi. Lẽ tất nhiên là Pháp không đồng ý và một mực đòi đúng 50 triệu franc. Thương thuyết kéo dài không đi đến đâu, Chính phủ Pháp quyết định đánh lấy mỏ than ở Đài Loan để buộc Lý chấp nhận Quy ước. Cuộc bỏ phiếu của Nghị viện Pháp ngày 15/8 có 173 phiếu tán thành, 50 phiếu chống và có đến 250 phiếu trắng - Pháp quyết định thêm kinh phí và chuẩn bị chiến tranh với Trung Quốc. Sở dĩ Pháp muốn chiến tranh ngay với Trung Quốc vì hải quân của nó ở Viễn Đông đã mạnh hơn hải quân của Trung Quốc, vì nhà Thanh đang suy yếu và Pháp cũng nhận thấy các đế quốc khác vì muốn làm lợi cho mình mà buộc Trung Quốc suy nhược hơn chút nữa. Trước yêu sách quá đáng của Pháp, vua Thanh quyết định khởi sự chiến tranh Trung - Pháp

Kháng chiến của nhân dân và Millot bị rút về PhápSửa đổi

Sau trận cầu Quan Âm, kháng chiến của nhân dân ở trung du miền núi Bắc Bộ lên cao hơn trước. Theo Thomazi, "những toán địch (nghĩa quân) tới hoạt động ngay giữa các xã dưới họng đại bác của thành quách của chúng ta, và các đồn binh phải luôn luôn xuất trận với sự cộng tác của các pháo thuyền (...), những toán này được sự ủng hộ của triều đình Huế, làm cho chúng ta phải luôn luôn lo lắng"[21]. Đầu tháng 7/1884, quân Pháp tiến danh phủ Quốc Oai khiến viên tri phủ phải bỏ chạy, nhưng nhân dân Quốc Oai rào làng lại và đánh nhau với quân Pháp ở các trận Phương Cách, Vĩnh Cước (bắc Quốc Oai), đánh mạnh nhất ở Hoàng Xá. Lên Sơn Tây, quân Pháp đánh bại nghĩa quân và bắt thủ lĩnh Lê Quán Chi.

Ở Bắc Ninh, nghĩa quân nổi lên đánh mạnh quân Pháp ở xã Ngọc Trì suốt từ ngày 12/7/1884. Thấy quân Pháp đang yếu thế, Pháp cử hỏa thuyền sang giải vây. Vài ngày sau, quan hai Pháp là Mencheron đem thuyền tới đánh mạnh vào một đạo của nghĩa quân đóng trên sông Cà Lồ, nhưng chúng chỉ nã đạn vào mà không dám lên bờ. Các pháo thuyền Hache, Musqueton, Arkebuy luôn đi trấn áp trên sông Hồng, sông Thương, sông Lục Nam... Ở sông Cầu, quân Pháp tiến lên đàn áp nghĩa quân ở Vạn Cót và Trương Đồng, sau đó đốt trịu hai làng này (3/8/1884).

Ở Hà Nam và Nam Định, kháng chiến của nhân dân không kém phần sôi nổi. Được tin nghĩa quân từ sông Đáy tiến đánh Nam Định, quan năm Brionval cho quân đốt phá các làng Yên Phụ, Yên Bộ, Đô Xá... thuộc tỉnh Hà Nam và đồng thời xin đại bác ở Ninh Bình rồi dẫn quân tiến vào căn cứ chính của nghĩa quân ở Lai Thông ở Nam Định. Bị nghĩa quân đánh mạnh, Brionval không tiến vào được và hắn phải xin viện binh. Khi viện binh đến thì nghĩa quân đã rút đi hết vào rừng núi, thất bại phải lui binh. Ngay lập tức, nghĩa quân trở lại Lai Thông và đánh một trận lớn với đạo quân Pháp do quan năm Dujardin cầm đầu...

Trước phong trào kháng chiến của nhân dân ta, tướng Millot đã chủ trương: "trước hết phải tiêu diệt phong trào ấy thì sao mới có thể đem toàn lực lên đánh quân chính quy của nhà Thanh". Mặc dù chủ trương mạnh bạo là thế, nhưng ông ta đã phải chua chát thú nhận: "Vào đầu tháng 9, tình hình của chúng ta thật khó khăn ở Bắc Kỳ tuy không phải là nghiêm trọng, nhưng cũng thật khó khăn"[22].

Tướng Millot bị thất trận ở cầu Quan Âm, xung đột với cấp dưới và không trị nổi nghĩa quân ở đồng bằng nền đã cáo ốm và xin rút về nước vào tháng 9/1884. Người lên thay làLouis Alexandre Esprit Gaston Brière de l'Isle

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Số liệu được ghi lại từ Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim. Trích lại theo Vũ Huy Phúc và những người khác, Lịch sử Việt Nam 1858 - 1896, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 2003, tr. 567
  2. ^ Số liệu này trích dẫn từ Vũ Huy Phúc, Sách đã dẫn, tr. 568. Một phần số liệu về số lượng quân đội được Vũ Huy Phúc trích lại một đoạn từ GS Trần Văn Giàu (2017), Chống xâm lăng, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr. 516
  3. ^ Đại Nam thực lục chính biên, tập 35, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 91 - 92
  4. ^ Theo Trung Pháp chiến tranh do Trung Quốc sử học hội chủ biên, Tân tri thức xuất bản xã, Bắc Kinh 1955, Bản dịch đánh máy của Viện Sử học, tr. 88
  5. ^ Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2017, tr. 528
  6. ^ Vũ Huy Phúc và những người khác, Lịch sử Việt Nam 1858 - 1896, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003, tr. 576
  7. ^ a ă Trần Văn Giàu, Sách đã dẫn, tr. 528
  8. ^ Tổng hơp từ sách đã dẫn của Trần Văn Giàu, tr. 528 và sách của Vũ Huy Phúc, tr. 576
  9. ^ Đại Nam thực lục chính biên, Sách đã dẫn, tập 36, tr. 112. Tuần phủ Tuyên Quang là Tiến sĩ Hoàng Tường Hiệp, người Hà Nội; bị Hoàng Thủ Trung ép đi sang Long Châu (Trung Quốc) rồi chết
  10. ^ Đại Nam thực lục chính biên, tập 36, tr. 119. Các quan lại ở Hải Dương được cử sang Lạng Sơn gồm: bang biện huyện vụ Đường Hào là Phạm Hữu Bằng, Đốc binh Nguyễn Tấn Đạt, hào mục phủ Kiến Thụy là Đỗ Đình Trịch, Phạm Trung Trực, Trịnh Văn Ất, chánh tổng phủ Nam Sách là Phạm Duy Dự, Phạm Quý Ích, hào mục Nguyễn Danh Mẫn, Nguyễn Đức Kinh, sĩ nhân Nguyễn Y Trạc.
  11. ^ http://banquanlyditichcondao.vn/vn/tu-nhan-qua-cac-thoi-ky/tieu-su-truoc-nam-1930-7-139.htm
  12. ^ a ă Đại Nam thực lục chính biên, tập 36, Sách đã dẫn, tr. 129
  13. ^ Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên, quyển 5, tập thượng, tr. 439
  14. ^ Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên, quyển 5, tập thượng, Sài Gòn, 1962, tr. 439-440.
  15. ^ Đại Nam thực lực chính biên, Sách đã dẫn, tập 36, tr. 129
  16. ^ Phạm Văn Sơn, Sách đã dẫn, tr. 439
  17. ^ Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2017, tr. 536
  18. ^ Đại Nam thực lục chính biên, Sách đã dẫn, tập 36, tr. 129
  19. ^ Đại Nam thực lục chính biên, Sách đã dẫn, tập 36, tr. 129 và Trần Văn Giàu, Tổng tập (phần I), Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 391
  20. ^ Bức điện có đoạn: "Chính phủ Pháp chắc không thể không thấy rằng, thật là quan trọng chẳng những cho một mình nước Pháp, mà cho tất cả các cường quốc có giao thương lớn với Trung Quốc, tránh được chừng nào hay chừng nấy những kết quả của tình trạng chiến tranh, tình trạng này không thể không nguy hại đến quyền lợi buôn bán". Trích theo Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2017, tr. 542
  21. ^ A. Thomazi. La Conquête de l'Indochine, Reliure inconnue – 1934, p. 233.
  22. ^ Histoire Militaire De L'indochine Française, Des Débuts À Nos Jours (Juillet 1930). Tome Ii Seul, p.94