Emotion: Side B (viết cách điệu: E•MO•TION: Side B) là đĩa mở rộng thứ ba của nữ ca sĩ người Canada Carly Rae Jepsen. Sản phẩm được phát hành vào ngày 26 tháng 8 năm 2016 tại thị trường Canada bởi hãng đĩa 604 Records và tại thị trường Hoa Kỳ bởi hai hãng đĩa School Boy RecordsInterscope Records. Jepsen đã phát triển Emotion: Side B dưới dạng một sản phẩm đồng hành cùng album phòng thu thứ ba Emotion (2015) của cô nhằm đáp ứng nhu cầu của người hâm mộ. Emotion: Side B bao gồm các bài hát chưa phát hành vốn đã bị cắt bỏ khỏi album gốc.

Emotion: Side B
Carly Rae Jepsen Emotion Side B.jpg
EP của Carly Rae Jepsen
Phát hành26 tháng 8 năm 2016 (2016-08-26)
Thu âm2014–15
Thể loại
Thời lượng27:38
Hãng đĩa
Sản xuất
Thứ tự album của Carly Rae Jepsen
Emotion Remixed +
(2016)
Emotion: Side B
(2016)
Dedicated
(2019)
Bìa đĩa khác
Tập tin:Carly Rae Jepsen Emotion Side B+.jpg
Bìa EP Emotion: Side B+, được phát hành độc quyền tại thị trường Nhật Bản
Đĩa đơn từ Emotion: Side B
  1. "Cut to the Feeling"
    Phát hành: 26 tháng 5 năm 2017

Giống như album mẹ, Emotion: Side B mang nặng ảnh hưởng từ dòng nhạc pop thập niên 1980, với phần lời nhạc xoay quanh tình yêu và nỗi đau khi tình cảm tan vỡ. Một số người viết lời và nhà sản xuất âm nhạc của dự án Emotion gốc – trong đó có Greg Kurstin, Dev HynesRami Yacoub – đã tiếp tục đảm nhiệm vai trò cũ của mình trong Emotion: Side B.[2] EP nhận về nhiều lời tán dương sau khi phát hành, đồng thời được một số nhà phê bình đưa vào danh sách các sản phẩm âm nhạc hay nhất năm 2016. EP được tái phát hành độc quyền tại thị trường Nhật Bản dưới tiêu đề Emotion: Side B+; phiên bản này được bổ sung thêm bài hát "Cut to the Feeling" – một đĩa đơn mà Jepsen thực hiện cho phim điện ảnh Vũ điệu thần tiên (2016) của Canada và Pháp.

Phát triểnSửa đổi

Jepsen đã thực hiện album phòng thu thứ ba của cô – Emotion (2015) – trong gần ba năm và đã sáng tác tổng cộng hơn 250 bài hát trong suốt quá trình này.[3] Kể từ khi khởi động dự án tại Los Angeles, Jepsen bắt đầu rời xa những buổi sáng tác "đại trà" mà cô gần như không thể đóng góp vai trò chính.[4] Sau khi hoàn thành ca khúc chủ đề mang tên "Emotion", các bài hát mà Jepsen phát triển sau đó đã trở thành yếu tố "cần thiết" để có thể neo giữ album thay vì trở thành phần tài liệu bị vứt bỏ. Khi đến thời điểm cần phải sắp xếp lại danh sách bài hát cho Emotion, hãng đĩa của Jepsen đã đưa ra con số giới hạn là 17 bài, điều này gây ra rất nhiều khó khăn cho cô.[4] Nữ ca sĩ sau đó chia sẻ:

"Danh sách bài hát mà tôi đã thiết kế cho Emotion có lẽ đã thay đổi tới sáu lần. Tôi có một cái bảng nhỏ giống kiểu giá vẽ [...] và khi trở về nhà sau mỗi buổi thu âm tôi sẽ viết lên đó một bài hát mà tôi thích – thay vì phải tự quyết định bài hát nào sẽ được đưa vào. Tôi đã đập đi xây lại và chỉnh sửa nó gần như mỗi tuần."[5]

Emotion sau đó được phát hành vào tháng 6 năm 2015 và không nhận được sự thành công về mặt thương mại – dù cho sản phẩm nhận được rất nhiều đánh giá tích cực từ giới chuyên môn. Tự album đã tạo ra một lượng người hâm mộ trung thành riêng biệt và Jepsen đã trở thành một "nhà phê bình" hay "nàng thơ indie".[6][7] Jepsen bắt đầu chuyến lưu diễn Gimmie Love Tour để quảng bá cho album vào cuối năm 2015 và đã để ý tới nhiều yêu cầu phát hành "Emotion 2.0" đến từ phía người hâm mộ một cách lặp đi lặp lại xuyên suốt chuyến lưu diễn – điều này là một trong những nguồn cảm hứng để cô cho ra mắt Emotion: Side B.[8] Trong lúc trò chuyện với đài phát thanh WMSC vào tháng 3 năm 2016, Jepsen đã bày tỏ mong muốn được phát hành những bài hát này và tiết lộ mình đang dự tính cho ra mắt một sản phẩm theo kiểu Emotion 2.0. [9] Một album phối lại mang tên Emotion Remixed + được phát hành độc quyền tại thị trường Nhật Bản vào ngày 2 tháng 3 năm 2016, với sự xuất hiện của hai bài hát "First Time" và "Fever" vốn chưa từng được phát hành trước đó. Hai bài hát này bắt đầu được nữ ca sĩ biểu diễn kể từ đợt lưu diễn thứ hai tại Mỹ, thuộc khuôn khổ của Gimmie Love Tour. [10]

Biên soạnSửa đổi

 
Jepsen trong chuyến lưu diễn Gimmie Love Tour ở San Francisco vào ngày 27 tháng 2 năm 2016.

EP mở đầu bằng đoạn băng ghi âm bị bóp méo của đoạn điệp khúc bài hát "First Time"[11] – đồng sáng tác bởi cùng một đội ngũ đã thực hiện đĩa đơn "Your Type" của Jepsen. Đây là một bài hát synth-funk[12] mang chút hơi thở của "Crush on You" do ban nhạc The Jets trình bày,[13] với phần nhạc nền đậm chất bubblegum pop tương phản hoàn toàn với những lời cầu xin hàn gắn lại một mối quan hệ mà Jepsen đã thể hiện.[14] Trong "Higher" – bài hát thứ hai của EP – Jepsen hát về một mối quan hệ mà cô như bị cuốn theo hoàn toàn.[15][16] Cây bút Brad Nelson của Pitchfork gọi ca khúc này là "bài hát 'tình cảm' rõ nét nhất" trong tất cả những bài hát mà Emotion đã đem đến.[15] "Higher" được xây dựng dựa trên âm synth "sủi bọt ga" và trống New Wave.[16] Nelson mô tả phần sản xuất của ca khúc với "kết cấu sắc nét, rối rắm tựa một bài hát của Scritti Politti", trong khi Esther Zuckerman của The A.V. Club thì ví bài hát như một tác phẩm của Robyn.[17]

"The One" được mô tả là một bài hát với "âm synthwave nhẹ bật nảy" mà trong đó Jepsen hát về việc lảng tránh những lời thề thốt. "Fever" được đặt ở khoảng thời gian "kỳ lạ và không ổn định" trước thời khắc chia tay, khi Jepsen thú nhận đã lấy trộm chiếc xe đạp của bạn trai và tự đạp đến ngôi nhà bỏ không của anh ta.[15] Nelson nhìn nhận rằng bài hát như bị "hút vào nhịp đập của trống bass", ám chỉ đến sự vắng mặt của bạn trai Jepsen. Jessica Goodman từ Entertainment Weekly thì cho rằng "Fever" là một ca khúc nổi bật và bản thân bài hát cũng rất khó để hát karaoke theo.[18] "Body Language" được nhấn nhá bằng 808 nhịp trống đập và vỗ tay.[18] "Cry" là một bản ballad có nhịp độ trung bình kể về một người bạn trai vô cảm; bản thân bài hát cũng khiến người nghe gợi nhớ lại về thể loại nhạc Italo disco của Ý.[19] Bài hát sử dụng âm synth bass "vừa đủ câm để đảo ngược hiệu ứng thông thường của nó, tạo ra một cảm giác nhẹ bẫng". [15]

Năm 2011, Jepsen tham gia vào một chiến dịch phản đối thuốc lá cho liên minh sức khoẻ BC Healthy Living Alliance của tỉnh bang quê nhà British Columbia, được gọi là "Quitters Unite"; chiến dịch này sử dụng một sáng tác chưa từng được phát hành trước đó của Jepsen mà sau này đã được sản xuất lại thành ca khúc "Store" trong Emotion: Side B.[13][20] Một số nhà phê bình đã ví tính chất "quái dị" của bài hát như một "cú lừa sai lầm"[21] về việc bước ra khỏi một mối quan hệ,[22] và phần lời hát được thể hiện một cách cẩn thận lại được đặt xen kẽ với một đoạn điệp khúc "đánh thức dữ dội".[15] Maura Johnston của Rolling Stone đã miêu tả bài hát như một lá thư Dear John mà bạn có thể nhảy theo.[16]

Phát hànhSửa đổi

Jepsen đã chúc Emotion có một "[ngày kỷ niệm] hạnh phúc" trên mạng xã hội vào ngày 21 tháng 8 năm 2016, đồng thời thông báo rằng có một "món quà" mà cô đang ấp ủ.[23] Nữ ca sĩ đã đăng tải ảnh bìa của EP trong cùng bài đăng đó.[24][25] Vào tuần trước khi phát hành EP, mỗi ngày Jepsen đều đăng một đoạn giới thiệu bài hát khác nhau trên một số nền tảng mạng xã hội.[26] Danh sách bài hát được tiết lộ vào ngày 24 tháng 8 năm 2016 thông qua nhà bán lẻ 7digital Canada.[27] Một ghi chú cá nhân từ Jepsen kèm theo bản phát hành của Emotion: Side B vào ngày 26 tháng 8 năm 2016 cho thấy cô muốn bày tỏ lòng biết ơn cùng mong muốn đáp lại sự ủng hộ của người hâm mộ.[28]

Emotion: Side B được phát hành giới hạn vào ngày 9 tháng 9 năm 2016, với các phiên bản đĩa vật lý kèm chữ ký,[29] đồng thời được mở bán dưới định dạng đĩa than vào ngày 16 tháng 12 năm 2016.[30] Mặc dù không có đĩa đơn nào được phát hành để quảng bá trực tiếp cho EP, nhưng "First Time" trước đó đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn quảng bá cho album phối khí Emotion Remixed + và đã đạt vị trí thứ 71 trên bảng xếp hạng Billboard Japan Hot 100.[31] Ngày 13 tháng 9 năm 2017, thị trường Nhật Bản phát hành phiên bản đĩa CD vật lý độc quyền mang tên Emotion: Side B+ với phần bìa đĩa được sửa đổi cùng danh sách bài hát được bổ sung thêm đĩa đơn "Cut to the Feeling" – một đĩa đơn mà Jepsen thực hiện cho phim điện ảnh Vũ điệu thần tiên (2016).[32] "Cut to the Feeling" sau đó đạt vị trí thứ 13 trên bảng xếp hạng Billboard Japan Hot 100 – đây vị trí cao nhất mà bài hát có được trên thị trường âm nhạc toàn cầu.[33]

Đánh giá chuyên mônSửa đổi

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
NguồnĐánh giá
Metacritic80/100[35]
Nguồn đánh giá
NguồnĐánh giá
AllMusic     [34]
Entertainment WeeklyA–[18]
Exclaim!8/10[36]
Pitchfork7,1/10[15]
Sputnikmusic4/5[37]
The 4055,5/10[38]

Trên Metacritic, một trang mạng tổng hợp điểm đánh giá trung bình của các nhà phê bình với thang điểm 100, Emotion: Side B nhận được điểm trung bình là 80 dựa trên 6 bài đánh giá, hầu hết là những đánh giá tích cực.[35] Pitchfork đã cho EP số điểm 7,1 – gần với điểm số 7,4 cho album gốc Emotion – và nhà phê bình Brad Nelson nhìn nhận EP này giống như một sự "tiếp nối" của album mẹ hơn là một bộ sưu tập những bài hát mặt B thông thường: "[đây] là những bài hát pop, đẹp đẽ và thẳng thắn, nhưng chúng cũng là những khoảng không cực kỳ đệ quy, những nén bạc của thời gian, những nỗi đau vô ngần nhỏ nhoi."[15] Nelson khen ngợi "tài năng" của Jepsen trong việc duy trì "sự gần gũi giữa người với người" trong những bài hát mang cảm giác "phi thường".[15] Jessica Goodman của Entertainment Weekly cũng đưa ra kết luận tương tự về phong cách nhạc pop cá nhân của Jepsen và khen ngợi việc phát hành EP vào cuối mùa hè: "Thời điểm ấy cho thấy cô không hề quan trọng việc mình có lại trở thành ong chúa của làng nhạc pop hay không – cô ấy chỉ muốn tạo ra bữa tiệc tuyệt vời nhất trong khu phố mà thôi. Emotion: Side B là một cú đánh: thân mật mà vẫn đậm tính bao hàm, với lời mời được đích thân gửi tới một cách thủ công." [18]

Viết cho Exclaim!, Jill Krajewski nhận định: "Nếu việc phát hành Emotion đã [khiến Jepsen] phải suy nghĩ quá nhiều, thì Side B lại cho thấy Jepsen đang đi đến một nhận thức ngọt ngào: Đừng có suy nghĩ đi suy nghĩ lại nhiều lần.[36] Nhà báo này khen ngợi EP vì "tiềm năng" lớn và đồng thời cũng cân nhắc xem liệu các bài hát "có phải đều là những bản thiết kế khác của "Run Away with Me" hay không, những bản nháp đầu tiên của một đĩa đơn đều là phương tiện để xác định tầm cỡ của [Emotion]. Chưa hết, ở trạng thái thô, chúng mới cho ta thấy được một Jepsen ở trạng thái mạnh mẽ và bung tỏa nhất."[36] Trong một bài đánh giá trái chiều, Mark Matousek của The 405 nhận định Emotion: Side B đã thể hiện rõ nét quá trình tạo nên một sản phẩm của Jepsen. [Đĩa nhạc] cho phép chúng tôi nhìn ra những lợi ích [...] và gợi ý về nét thiếu cuốn hút của việc lao động tạo ra âm nhạc." [38] Nelson của Pitchfork cũng chia sẻ cùng một nhận định và cả hai nhà phê bình đều nhận thấy bài hát "Body Language" và "Store" còn một số thiếu sót.[15][36]

Giải thưởngSửa đổi

Ấn phẩm Năm Vinh danh Thứ hạng Nguồn
Idolator
2016
10 EP và mixtape hay nhất năm 2016
1
MuuMuse 20 album hàng đầu của năm 2016
5
Rolling Stone 20 album nhạc pop xuất sắc nhất năm 2016
6
Gorilla vs. Bear Album của năm 2016
43
The Skinny 50 album hay nhất năm 2016
49
Time Out London Những album hay nhất năm 2016
19
Exclaim! 10 EP hay nhất năm
2
Pretty Much Amazing 60 album hay nhất năm 2016
25
Stereogum 25 EP tuyệt vời từ năm 2016 Không có
The A.V. Club Album của năm
Pitchfork 20 album pop và R&B hay nhất năm 2016
Teen Vogue 15 album hay nhất năm 2016
Entertainment Weekly 100 bài hát của năm 2016 – "Body Language"
31
Spin 101 bài hát của năm 2016 – "Fever"
74
The Fader 100 bài hát của năm 2016 – "Store"
87

Biểu diễn thương mạiSửa đổi

Emotion: Side B ra mắt ở vị trí thứ 55 tại quê hương Canada của Jepsen và vị trí thứ 74 tại Úc.[53] Tại Hoa Kỳ, EP ra mắt ở vị trí thứ 62 trên bảng xếp hạng Billboard 200 với 9.000 đơn vị album tương đương được tiêu thụ trong tuần đầu tiên phát hành, trong đó có 7.262 đơn vị đến từ doanh số bán thuần.[54] Sản phẩm cũng ra mắt cùng tuần ở vị trí thứ 26 trên bảng xếp hạng Billboard Top Album Sales.[55]

Danh sách bài hátSửa đổi

STTTựa đềSáng tácSản xuấtThời lượng
1."First Time"
3:35
2."Higher"Kurstin3:54
3."The One"
  • Jepsen
  • Kyle Shearer
  • Nate Campany
Shearer3:23
4."Fever"
  • Jepsen
  • Shearer
  • Campany
  • Saul Alexander Castillo Vasquez
Shearer3:05
5."Body Language"TMS2:53
6."Cry"
  • Jepsen
  • Nick Ruth
  • Crowe
Ruth3:56
7."Store"
  • CJ Baran
  • Romans
3:12
8."Roses"
  • Shearer
  • Stewart
3:40
Tổng thời lượng:27:38
Emotion: Side B+
STTTựa đềSáng tácSản xuấtThời lượng
1."Cut to the Feeling"Sir Nolan3:28
Tổng thời lượng:31:06

Đội ngũ sản xuấtSửa đổi

Danh sách đội ngũ sản xuất dựa trên thông tin ghi chú trong Emotion: Side B.

  • Carly Rae Jepsen – giọng hát
  • Mitch McCarthy – hoà âm (bài 3–8)
  • Gene Grimaldi – chủ nhiệm

Xếp hạngSửa đổi

Bảng xếp hạng (2016) Vị trí xếp hạng
cao nhất
Australian Albums (ARIA)[53] 74
Album Canada (Billboard)[56] 55
Album Ireland (IRMA)[57] 89
New Zealand Heatseeker Albums (RMNZ)[58] 8
Album Anh Quốc (OCC)[59] 182
Hoa Kỳ Billboard 200[60] 62
US Top Album Sales (Billboard)[55] 26

Lịch sử phát hànhSửa đổi

Quốc gia Ngày Định dạng Hãng đĩa Nguồn
Hoa Kỳ 26 tháng 8 năm 2016 Tải nhạc số [61]
Hoa Kỳ 9 tháng 9 năm 2016 CD [29]
Canada 3 tháng 3 năm 2017 Đĩa than LP 604 [62]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Jenkins, Nash. “Carly Rae Jepsen Releases E•mo•tion Side B. TIME. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019.
  2. ^ Thompson, Eliza (26 tháng 8 năm 2016). “Carly Rae Jepsen Just Blessed the World With 8 New Songs”. Cosmopolitan. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  3. ^ Carlin, Shannon (3 tháng 4 năm 2015). “Carly Rae Jepsen Wrote 250 Songs For Her New Album”. Radio.com. CBS Radio, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2015.
  4. ^ a b Gevinson, Tavi (16 tháng 10 năm 2015). “The Next Adventure: An Interview With Carly Rae Jepsen”. Rookie. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  5. ^ Lindsay, Cam (7 tháng 8 năm 2015). “Stall Me Maybe: How Carly Rae Jepsen's New Album Took Time”. Vice. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2016.
  6. ^ Nolfi, Joey (21 tháng 8 năm 2016). “Carly Rae Jepsen announces Emotion: Side B. Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2016.
  7. ^ Zaleski, Annie (17 tháng 2 năm 2016). “On "Run Away with Me," Carly Rae Jepsen is the Lead Character of Her Own Fairy Tale”. The A.V. Club. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2016.
  8. ^ Johns, Gibson (2 tháng 12 năm 2016). “Carly Rae Jepsen Reveals the Direction She Plans on Taking with the Follow-Up to 'Emotion'. Aol. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  9. ^ Arevalo, Ivan (26 tháng 3 năm 2016). “Emotion 2.0? – Carly Rae Jepsen Talks Possible New Album, Gimme Love Tour and More”. WMSC. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2016.
  10. ^ Donnelly, Eric (22 tháng 8 năm 2016). “Carly Rae Jepsen Releases "Higher" Snippet from 'Emotion Side B'. 103.3 AMP Radio. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  11. ^ Leszkiewicz, Anna (2 tháng 9 năm 2016). “Side B: When Cassette Culture Met Carly Rae Jepsen's Brand of Nostalgia”. New Statesmen. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  12. ^ Williott, Carl (18 tháng 3 năm 2016). “Hear Two Great New Carly Rae Jepsen Songs from 'Emotion Remixed'. Idolator. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2017.
  13. ^ a b Lambert, Molly (31 tháng 8 năm 2016). “The Pure Pop Perfection of Carly Rae Jepsen's Emotion: Side B”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  14. ^ R, Will (29 tháng 8 năm 2016). “Carly Rae Jepsen - Emotion: Side B (album review )”. Sputnikmusic. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  15. ^ a b c d e f g h i Nelson, Brad (8 tháng 9 năm 2016). “Carly Rae Jepsen: Emotion Side B Album Review”. Pitchfork. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  16. ^ a b c d Spanos, Brittany; Harris, Keith; Johnston, Maura; Soto, Alfred (19 tháng 12 năm 2016). “20 Best Pop Albums of 2016”. Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2016.
  17. ^ Zuckerman, Ester (5 tháng 12 năm 2016). “Carly Rae Jepsen's Emotion: Side B is Glorious, Surprisingly Deep Pop”. The A.V. Club. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  18. ^ a b c d Goodman, Jessica (26 tháng 8 năm 2016). “Carly Rae Jepsen's 'Emotion Side B'. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  19. ^ Gibbs, Ryan (28 tháng 8 năm 2016). “Album Review: Carly Rae Jepsen - "Emotion Side B". The Young Folks. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  20. ^ Carly Rae Jepsen's Smokefree Lifestyle (YouTube video). BC Healthy Living Alliance. 6 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016.
  21. ^ Stern, Bradley (6 tháng 12 năm 2016). “The Top 20 Albums of 2016”. MuuMuse. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  22. ^ Kornhaber, Spencer (3 tháng 9 năm 2016). “Carly Rae Jepsen, the Most Useful Pop Star”. The Atlantic. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  23. ^ Jepsen, Carly Rae (21 tháng 8 năm 2016). “Happy 1 year E•MO•TION! Your anniversary present is coming this Friday 8/26 pic.twitter.com/GXjYO9FsUS”. @carlyraejepsen. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2017.
  24. ^ Kaplan, Ilana (22 tháng 8 năm 2016). “Carly Rae Jepsen Will Release 'Emotion: Side B' to Celebrate One-Year Anniversary”. Spin. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2016.
  25. ^ Galbraith, Alex (24 tháng 8 năm 2016). “Carly Rae Jepsen's New 'E•MO•TION: Side B' Songs Are A Freefall Sugar Rush”. Uproxx. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2016.
  26. ^ Martinelli, Marissa (22 tháng 8 năm 2016). “Carly Rae Jepsen Is Releasing a Collection of Emotion B-Sides, and It's Coming This Friday”. Slate. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2017.
  27. ^ Williot, Carl (24 tháng 8 năm 2016). “Preview All Eight Songs from Carly Rae Jepsen's 'Emotion: Side B'. Idolator. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2016.
  28. ^ Wright, Hayden (26 tháng 8 năm 2016). “Carly Rae Jepsen Releases Surprise 'Side B' of 'Emotion' Album”. Radio.com. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2016.
  29. ^ a b “Emotion Side B Autographed CD + Digital”. Carly Rae Jepsen. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2017.
  30. ^ “Carly Rae Jepsen - Emotion Side B”. Bull Moose. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2017.
  31. ^ “Billboard Japan Hot 100 (Week of April 18, 2016)”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2017.
  32. ^ “カーリー・レイ・ジェプセン、話題の映画のエンディングテーマを初CD収録した『エモーション・サイドB+』発売が決定!”. Universal Music Japan (bằng tiếng Nhật). 26 tháng 7 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017. 「カット・トゥ・ザ・フィーリング」はこれまで配信限定リリースとなっていたが、今回世界のどこよりも早く日本でCDに初収録となる。
  33. ^ “Japan Hot 100 – The week of September 30, 2017”. Billboard. 30 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2018.
  34. ^ Phares, Heather. “Emotion [Side B] – Carly Rae Jepsen”. AllMusic. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
  35. ^ a b “E-MO-TION Side B Reviews, Ratings, Credits, and More”. Metacritic. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2017.
  36. ^ a b c d Krajewski, Jill (1 tháng 9 năm 2016). “Carly Rae Jepsen – Emotion: Side B”. Exclaim!. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
  37. ^ R, Will (29 tháng 8 năm 2016). “Carly Rae Jepsen - Emotion: Side B (Album Review)”. Sputnikmusic. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
  38. ^ a b Matousek, Mark (16 tháng 9 năm 2016). “Carly Rae Jepsen - Emotion Side B”. The 405. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
  39. ^ “The 10 Best EPs & Mixtapes Of 2016”. Idolator. 7 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016.
  40. ^ “Top 20 Albums of 2016”. MuuMuse. 9 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2016.
  41. ^ “Gorilla vs. Bear's Albums of 2016”. Gorilla vs. Bear. 1 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2016.
  42. ^ “Top 50 Albums of 2016”. The Skinny. 1 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2016.
  43. ^ Lloyd, Kate (12 tháng 12 năm 2016). “The Best Albums of 2016”. Time Out London. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
  44. ^ Lindsay, Cam; Carlick, Stephen (16 tháng 12 năm 2016). “Exclaim!'s 10 Best EPs of the Year”. Exclaim!. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
  45. ^ Fowler, Luke (9 tháng 12 năm 2016). “The 60 Best Albums of 2016”. Pretty Much Amazing. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
  46. ^ “25 Great EPs From 2016”. Stereogum. 2 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2016.
  47. ^ “Albums of the Year”. The A.V. Club. 5 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2016.
  48. ^ Pitchfork Staff (6 tháng 12 năm 2016). “The 20 Best Pop and R&B Albums of 2016”. Pitchfork. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2016.
  49. ^ “15 Best Albums of 2016”. date. Teen Vogue. 18 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016.
  50. ^ “The 100 Songs of 2016”. date. 10 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2016.
  51. ^ “The 101 Songs of 2016”. date. Spin. 15 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  52. ^ “The 115 Songs of 2016”. date. The Fader. 14 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2016.
  53. ^ a b “Chart Watch #384”. AusPop. 3 tháng 9 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2016.
  54. ^ Caulfield, Keith. “Billboard 200 Chart Moves: Ariana Grande's 'Dangerous' VMA Gain, Carly Rae Jepsen's 'B-Side' Set Debuts”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2016.
  55. ^ a b “Billboard Top Album Sales”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2016.
  56. ^ "Carly Rae Jepsen Chart History (Canadian Albums)". Billboard. Truy cập September 7, 2016.
  57. ^ "GFK Chart-Track Albums: Week 35, 2016". Chart-Track. IRMA. Truy cập September 2, 2016.
  58. ^ “NZ Heatseeker Albums Chart”. Recorded Music NZ. 5 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2016.
  59. ^ Chart Log UK: "CLUK Update 3.09.2016 (wk35)". UK Albums Chart. Zobbel.de. Truy cập September 18, 2016.
  60. ^ "Carly Rae Jepsen Chart History (Billboard 200)". Billboard. Truy cập September 7, 2016.
  61. ^ “Emotion Side B”. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018 – qua Amazon.
  62. ^ “Emotion: Side B (Vinyl)”. 3 tháng 3 năm 2017 – qua Amazon.