Đồng tính giả là một khái niệm chỉ những người có hành vi đồng tính nhưng không phải do bẩm sinh mà là do ảnh hưởng từ môi trường xã hội, bạn bè, sách truyện, phim ảnh, v...v...[1][2]

Theo bác sĩ Trần Bồng Sơn, nhà giới tính học[3] tại Việt Nam, có hai loại người đồng tính: thậtgiả. Những người đồng tính thật là những người đồng tính bẩm sinh, và số người này rất hiếm. Theo ông, hầu hết những người đồng tính là "giả", bị bạn bè rủ rê hoặc muốn để thử nghiệm các lối sống mới[3]

Tổng quan

Một ví dụ cho hành vi "đồng tính giả" là một người dị tính nhưng lại có quan hệ tình dục với người cùng giới tính bởi họ thiếu cơ hội gặp người tình khác giới, ví dụ như trong quân đội, nhà tù, sinh viên hoặc trong các cộng đồng chỉ gồm toàn những người cùng giới tính với nhau.[4]:48 Tương tự, một người đồng tính (vào thời điểm đó hoặc sau này) có thể tương tác tình dục với người khác giới nếu mối quan hệ cùng giới không thực hiện được.[5] Vài người thay đổi hành vi tình dục phụ thuộc vào tình huống hay thời điểm khác nhau trong cuộc đời của họ.[5] Ví dụ, vài đàn ông hoặc phụ nữ ở đại học có thể tham gia vào các hoạt động song tính, nhưng chỉ trong môi trường đó. Dạng thử nghiệm này phổ biến hơn ở vị thành niên và thanh niên, cả ở nam và nữ. Một số thuật ngữ chỉ xu hướng này có thể là "đồng tính giả"[3] "đồng tính tâm lí",[1] "song tính cho đến khi tốt nghiệp", "đồng tính nữ cho đến khi tốt nghiệp".[6]

Trong tù, có những người nam giới dị tính nhưng lại có quan hệ tình dục với nam, họ xem hành vi đồng tính của họ là do tình thế bắt buộc và không xem họ là người song tính. Những người đàn ông này thường kể rằng họ đã tưởng tượng đến một người phụ nữ khi tham gia vào hoạt động tình dục với một tù nhân nam khác. Khi thủ dâm, họ nhớ lại trải nghiệm quá khứ với phụ nữ.[7] Họ tham gia vào hoạt động đồng tính nam vì không có sự “giải tỏa dị tính”, tức là không có bạn tình khác giới (vì trong tù không cho phép nam nữ ở chung phòng giam)[8]

Trong một vài nền văn hóa, quan hệ tình dục với phụ nữ có thể khó khăn với nhiều đàn ông, do phụ nữ bị ngăn cấm tham gia vào các hoạt động tình dục ngoài hôn nhân. Điều này dẫn đến số lượng lớn nam giới, đặc biệt nam giới chưa kết hôn tham gia vào hoạt động đồng tính. Ví dụ bao gồm thiếu niên ái ở Hy Lạp cổ đại hay bacha baziAfghanistan.[9] Các nghiên cứu gần đây ở phương Tây cho thấy khoảng 87% of phụ nữ và 93% nam giới tự nhận dạng mình là "hoàn toàn dị tính".[4]:55 Một phân tích từ 67 nghiên cứu cho rằng tỉ lệ nam giới có hành vi tình dục đồng tính với nhau (bao gồm cả những người không phải là đồng tính nhưng vẫn quan hệ đồng tính vì một mục đích nào đó) chênh nhau khá nhiều giữa các khu vực văn hóa, là 3-5% ở Đông Á, 6-12% ở Nam Á và Đông Nam Á, 6-15% ở Đông Âu, và 6-20% ở châu Mỹ Latinh.[10] Tổ chức Y tế Thế giới ước tính tỉ lệ toàn cầu nam có quan hệ tình dục với nam khoảng 3 đến 16%.[11]

Có những người đã từng nhận mình là người đồng tính, nhưng sau đó họ xác định mình không còn là đồng tính nữa (mà là dị tính luyến ái). Sự chuyển biến của những người này có thể là tự nhiên, cũng có thể là qua chữa trị đồng tính[12][13][14]

Bi-curious

Bi-curious là một hiện tượng trong đó những người có xu hướng tình dục khác giới nhưng lại quan hệ đồng giới vì tỏ ra tò mò, hiếu kỳ về hoạt động tình dục với giới tính khác so với đối tượng tình dục thông thường của người đó.[15][16][17]

Sự linh hoạt của xu hướng tính dục

Linh hoạt tính dục là một hay nhiều thay đổi trong tính dục hay bản dạng tính dục. Xu hướng tính dục của phần lớn mọi người thường ổn định và không thay đổi, nhưng cũng có những người có thể trải qua thay đổi trong xu hướng tính dục do sự ảnh hưởng từ bên ngoài[18] Hiện chưa có bằng chứng khoa học cho thấy xu hướng tình dục có thể được thay đổi thông qua liệu pháp tâm lý.[19][20]

Tám nghiên cứu chủ yếu về các cặp song sinh giống hệt nhau ở Úc, Mỹ và Scandanavia trong hai thập niên đã có cùng một kết luận: người ta không sinh ra đã là đồng tính. Di truyền chỉ là một yếu tố nhỏ trong việc hình thành đồng tính.

Tiến sĩ Neil Whitehead tin rằng người đồng tính được gây nên bởi những yếu tố đến từ gia đình và xã hội (Ví dụ, một trong hai đứa trẻ song sinh có bạn bè là người đồng tính hoặc bị xâm phạm tình dục nhưng đứa kia thì không). Thiên hướng tình dục không phải là bất biến mà có sự linh động, một người dị tính luyến ái có thể chuyển thành đồng tính hoặc ngược lại, và nhiều người trong cuộc đời đã từng ngộ nhận họ là đồng tính. Ông cho biết:

Khoảng một nửa số người đồng tính/lưỡng tính đã chuyển sang thích giao hợp với người khác giới trong đời của họ. Khoảng 3% của những người hiện tại đang thích giao hợp với người khác giới đã có một lần tin tưởng chắc chắn họ là người đồng giới hay lưỡng tính. Hầu hết những thay đồi trong thiên hướng tình dục là hướng về tình dục khác giới. Số người đã chuyển qua hướng tình dục khác giới còn cao hơn con số người lưỡng tính và đồng tính hiện tại gộp lại. Nói cách khác, người cựu đồng tính (đòng tính giả) thì đông hơn người đồng tính thực sự.

Tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về đồng tính năm 2014, Alan Sanders, tuyên bố rằng "những đặc điểm phức tạp của khuynh hướng tình dục (bao gồm đồng tính) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ cả di truyền lẫn ảnh hưởng từ môi trường sống."[21] Nhà nghiên cứu McConaghy (năm 2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ xúc cảm đồng tính với hành vi đồng tính luyến ái, dẫn ông đến kết luận rằng ảnh hưởng của thứ tự sinh về mức độ xúc cảm đồng tính không phải do yếu tố sinh học, mà đó là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội.[22]

Tính linh hoạt càng rõ hơn giữa thanh thiếu niên như nghiên cứu của Bearman và Brueckner đã chứng minh. Họ tìm thấy rằng từ tuổi 16-17, nếu đã có thu hút tình dục với người đồng tính, hầu hết tất cả đã chuyển hướng vào năm sau đó. Thanh thiếu niên là trường hợp đặc biệt, họ thường dễ bị ảnh hưởng từ bạn bè hoặc xã hội, nhiều người có quan hệ đồng tính chỉ vì thấy tò mò hoặc hưởng ứng theo trào lưu, theo bạn bè[23].

Năm 2006, Tiến sĩ Jeffrey Satinover cho biết: đã tồn tại các bằng chứng vững chắc dịch tễ học, được xác nhận và khẳng định rộng rãi, rằng đồng tính luyến ái thể hiện thường xuyên nhất ở tuổi vị thành niên. Đối với một số vị thành niên, khuynh hướng đồng tính sẽ duy trì mãi về sau (do bẩm sinh), nhưng đối với phần lớn vị thành niên thì nó sẽ giảm đi một cách tự nhiên theo sự trưởng thành, và cuối cùng sẽ biến mất, trừ khi nó được "hỗ trợ và khuyến khích (từ bạn bè hoặc xã hội)". Ông cũng ghi nhận rằng các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển đồng tính của những người trẻ tuổi là bối cảnh xã hội và gia đình. Do đó, nếu xã hội ngày càng dung nạp hoặc cổ vũ cho đồng tính luyến ái thì sẽ "dẫn đến số lượng ngày càng gia tăng của những người tự nhận mình là đồng tính".[24] Lập luận này của Satinover được ông trích dẫn nhiều số liệu thống kê để chứng minh.[25]

Những trường hợp bắt chước nhau đồng tính, giả đồng tính đều có nguyên nhân như bị hụt hẫng tâm lý hoặc bế tắc trong cuộc sống gia đình, công việc… Nhiều người trẻ, cuộc sống quá nhạt nhòa, muốn khẳng định mình (không có trình độ, thiếu hiểu biết, kỹ năng sống) đã bắt chước đồng tính để được người khác chú ý đến mình. Hiện tượng này mới nổi lên ở Việt Nam do một bộ phận nam sinh và du học sinh đua đòi rồi lan truyền cho nhau. Họ coi như một thú chơi, ai muốn được coi là "dân chơi" thì đều phải có cái thú này. Tổ chức Y tế thế giới đã kết luận đồng tính không phải là bệnh nhưng lại có sự "lây lan" đáng sợ thông qua sự a dua, cổ súy từ bạn bè hoặc truyền thông. Về mặt bệnh lý học tâm thần, họ được xếp vào nhóm bệnh lệch chuẩn hành vi tình dục.

Khả năng thay đổi

Những nghiên cứu trên cho thấy: Tính linh động của thiên hướng tình dục phụ thuộc vào từng cá nhân. Đối với nhiều người, thiên hướng tình dục không phải là bẩm sinh mà nó có thể biến đổi theo thời gian, có thể từ dị tính sang đồng tính hoặc ngược lại. Sự biến đổi diễn ra như thế nào phụ thuộc vào yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường (sự tác động của văn hóa xã hội, tôn giáo, gia đình, bạn bè...). Tiến sĩ Neil Whitehead và vợ ông là Briar, thông qua việc tổng kết nhều thống kê khác nhau, ghi nhận tuyên bố của van den Aardweg rằng: trong 2/3 những trường hợp mà ông điều trị, thiên hướng đồng tính đã biến mất hoặc chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện.[26]

Các nhà ủng hộ liệu pháp trị liệu đồng tính cho rằng họ đã đạt thành công trong nhiều trường hợp. Theo báo cáo của Jeffrey Satinover, ông đạt được tỉ lệ 50-70% thành công trong việc thay đổi khuynh hướng tình dục từ đồng tính trở thành bình thường.[27] Các nghiên cứu tương tự đã khiến một số chuyên gia thừa nhận rằng khuynh hướng tình dục không phải là bất biến và việc thay đổi nó là có thể. Nhiều người đồng tính (dù không phải là tất cả) có thể thay đổi khuynh hướng tình dục của mình thông qua một loạt các nỗ lực tâm lý và tư vấn.[28]

Báo cáo năm 2009 của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ cũng có đánh giá đột phá về trị liệu đối với khách hàng đồng tính muốn đấu tranh để vẫn trung thành với niềm tin đạo đức và không chấp nhận mình là đồng tính. Chủ tịch của Liên minh Công giáo quốc tế, Alan Chambers, một người cựu đồng tính, mô tả bản thân mình là một người "đã vượt qua thu hút đồng tính không mong muốn", và ông bày tỏ sự hài lòng với phần này của báo cáo.[29]

Tại Việt Nam

Theo thạc sĩ tâm lý Võ Văn Nam, vài năm gần đây, hiện tượng quan hệ đồng tính ở Việt Nam ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, số người đồng tính về mặt sinh học (bẩm sinh) chiếm tỷ lệ rất ít, mà đa phần là ảnh hưởng tâm lý (phát sinh từ sự đua đòi, a dua theo chúng bạn hoặc bị bạn bè rủ rê thử nghiệm “lối sống mới”...). “Bộ phận người đồng tính tâm lý này có đời sống khá phức tạp, có lối sống buông thả, đặt nặng cảm xúc cá nhân, thích cường điệu cảm xúc dẫn đến dễ bị trượt dài vào tội lỗi”, ông Nam nhận xét. Nguyên nhân khác là do sự thiếu quan tâm của gia đình, nhà trường, xã hội đã tạo nên những con người trẻ tuổi không có lý tưởng sống, chỉ biết đua đòi theo những trào lưu mà không phân biệt đúng sai, không có khả năng miễn nhiễm trước cái xấu.[1]

Theo tiến sĩ, bác sĩ Trần Tuấn - giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đào tạo và phát triển cộng đồng: "Hiện tượng đồng giới giả do a dua, đua đòi, mang tính tập nhiễm hay bị ảnh hưởng… là có thực. Khi trẻ không có hình ảnh người cha, người mẹ, người thầy, người anh tốt... dễ lấy thần tượng ca sĩ, diễn viên làm mẫu học theo. Nếu không được can thiệp kịp thời thì "giả" sẽ thành "thật", rất có thể các em sẽ rơi vào tình trạng đồng tính hoặc lưỡng giới sau này"[30]

Báo chí Việt Nam có những bài báo nói về thực trạng đồng tính nữ "theo phong trào" trong học đường. Trên mạng xã hội, nhiều nữ sinh tham gia vào những diễn đàn "đấu tranh" cho việc kết hôn đồng tính, có em còn đăng ảnh tuyên bố mình là đồng tính nữ hoặc công khai những tấm ảnh hôn hít với bạn cùng giới, dù thật sự các em không phải là người đồng tính. Phần lớn các cặp “đồng tính nữ giả” này sau thời gian ngắn thì chia tay và quay sang yêu người nam. Theo các chuyên gia tâm lý, sự xuất hiện nhiều cặp "đồng tính nữ giả" chủ yếu do một số nguyên nhân: Sự xuất hiện một số trang web, Facebook, phim ảnh tạo nên một hiệu ứng tâm lý cho rằng ‘’“quan hệ đồng tính là xu hướng sống mới”’’, có một số em bị bạn bè rủ rê tham gia vào phong trào này. Những em gái này bị lôi cuốn bởi bạn bè của mình trong khi các em đang có nhiều mâu thuẫn trong tâm lý tuổi mới lớn, dẫn đến sự "nổi loạn" về tâm lý được biểu hiện ra bằng những hành vi đồng tính.[31]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ a ă â http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/gia-tang-toi-pham-dong-tinh-trong-gioi-tre-2099293.html
  2. ^ “Giả Lesbian và những hậu quả khôn lường”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2009.
  3. ^ a ă â Don Colby, Cao Hữu Nghĩa và Serge Doussantousse, Men who have sex with men and HIV in Vietnam (Những người nam có quan hệ tình dục với nam và HIV tại Việt Nam) (MEN WHO HAVE SEX WITH MEN AND HIV IN VIETNAM: A REVIEW, tiếng Anh). AIDS Education and Prevention, 16 (1), 45-54, 2004. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “aids” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  4. ^ a ă Bailey, J. Michael; Vasey, Paul; Diamond, Lisa; Breedlove, S. Marc; Vilain, Eric; Epprecht, Marc (2016). “Sexual Orientation, Controversy, and Science”. Psychological Science in the Public Interest. 17 (2): 45–101. doi:10.1177/1529100616637616. PMID 27113562.
  5. ^ a ă Rosario, M., Schrimshaw, E., Hunter, J., & Braun, L. (2006, February). Sexual identity development among lesbian, gay, and bisexual youths: Consistency and change over time. Journal of Sex Research, 43(1), 46–58. Retrieved February 8, 2011.
  6. ^ See for instance "Campus Lesbians Step Into Unfamiliar Light" New York Times, June 5, 1993
  7. ^ Money, John; Boomer, Carol (1980). “Prison Sexology: Two Personal Accounts of Masturbation, Homosexuality, and Rape”. The Journal of Sex Research. 16 (3): 258–266. doi:10.1080/00224498009551082.
  8. ^ Hensley, Christopher; Tewksbury, Richard (2002). “Inmate-to-Inmate Prison Sexuality : A Review of Empirical Studies”. Trauma, Violence, & Abuse. 3 (3): 226–243. doi:10.1177/15248380020033005.
  9. ^ LeVay, Simon (2017). Gay, Straight, and the Reason Why: The Science of Sexual Orientation. Oxford University Press. tr. 11–12. ISBN 9780199752966.
  10. ^ Caceres, C.; Konda, K.; Pecheny, M.; Chatterjee, A.; Lyerla, R. (2006). “Estimating the number of men who have sex with men in low and middle income countries”. Sexually Transmitted Infections. 82 (Suppl. III): iii3–iii9. doi:10.1136/sti.2005.019489. PMC 2576725. PMID 16735290.
  11. ^ Between Men: HIV/STI Prevention For Men Who Have Sex With Men, International HIV/AIDS Alliance.
  12. ^ Yarhouse, Mark (1998). “When Clients Seek Treatment for Same-Sex Attractions: Ethical Issues in the "Right to Choose" Debate”. Psychotherapy: Theory, Research, Practice, Training. 35 (2): 248–259. doi:10.1037/h0087753. Đã bỏ qua tham số không rõ |month= (trợ giúp); |ngày truy cập= cần |url= (trợ giúp)
  13. ^ Haldeman, Douglas (2004). “When Sexual and Religious Orientation Collide:Considerations in Working with Conflicted Same-Sex Attracted Male Clients”. The Counseling Psychologist. The Counseling Psychologist. 32 (5): 691. doi:10.1177/0011000004267560.
  14. ^ Drescher, Jack (2001). "Ethical Concerns Raised When Patients Seek to Change Same-Sex Attractions". Journal of Gay & Lesbian Psychotherapy 5 (3/4): 183. Haworth Press.
  15. ^ https://www.merriam-webster.com/dictionary/bi-curious www.merriam-webster.com Retrieved 2019-09-21. Đặc trưng bởi sự cởi mở hoặc tò mò về việc quan hệ tình dục với một người có giới tính khác với giới tính của bạn tình thông thường: tò mò muốn khám phá hoặc thử nghiệm tình dục song tính.
  16. ^ Peter, Owner. “Wilson G, Rahman Q (2008)”. tr. 15. ISBN 178450663X. Thuật ngữ “tò mò về song tính” đề cập thực tế rằng có nhiều người thẳng nhưng có thể coi trải nghiệm đồng tính luyến ái không thường xuyên để mở rộng hiểu biết của mình.
  17. ^ Jessica. “Holleb ML (2019). The A-Z of Gender and Sexuality: From Ace to Ze”. tr. 43. ISBN 178450663X. Những người tự nhận bản thân là dị tính luyến ái nhưng có tò mò về tình dục hoặc tình cảm với người đồng giới.
  18. ^
    • Bailey, J. Michael; Vasey, Paul; Diamond, Lisa; Breedlove, S. Marc; Vilain, Eric; Epprecht, Marc (2016). “Sexual Orientation, Controversy, and Science”. Psychological Science in the Public Interest. 17 (2): 45–101. doi:10.1177/1529100616637616. PMID 27113562. Sexual fluidity is situation-dependent flexibility in a person’s sexual responsiveness, which makes it possible for some individuals to experience desires for either men or women under certain circumstances regardless of their overall sexual orientation....We expect that in all cultures the vast majority of individuals are sexually predisposed exclusively to the other sex (i.e., heterosexual) and that only a minority of individuals are sexually predisposed (whether exclusively or non-exclusively) to the same sex.
    • Seth J. Schwartz, Koen Luyckx, Vivian L. Vignoles (2011). Handbook of Identity Theory and Research. Springer Science & Business Media. tr. 652. ISBN 978-1441979889. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2016. Modern scholarship examining the stability of sexual orientation also seems to support our conceptualizations of sexual orientation, sexual orientation identity, and sexual identity (e.g., Diamond, 2003a; Horowitz & Necomb, 2001; Rosario, Schrimshaw, Hunter, & Braun, 2006, see Savin-Williams, Chapter 28, this volume). Specifically, some dimensions of sexual identity, such as relationships, emotions, behaviors, values, group affiliation, and norms, appear to be relatively fluid; by contrast, sexual orientation [i.e., an individual's patterns of sexual, romantic, and affectional arousal and desire for other persons based on those persons' gender and sex characteristics (APA Task Force on Appropriate Therapeutic Responses to Sexual orientation, 2009)] has been suggested to be stable for a majority of people across the lifespan (Bell, Weinberg, & Hammersmith, 1981; Ellis & Ames, 1987; Haldeman, 1991; Money, 1987).Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
    • Dennis Coon, John O. Mitterer (2012). Introduction to Psychology: Gateways to Mind and Behavior with Concept Maps and Reviews. Cengage Learning. tr. 372. ISBN 978-1111833633. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2016. Sexual orientation is a deep part of personal identity and is usually quite stable. Starting with their earliest erotic feelings, most people remember being attracted to either the opposite sex or the same sex. [...] The fact that sexual orientation is usually quite stable doesn't rule out the possibility that for some people sexual behavior may change during the course of a lifetime.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
    • American Psychological Association (2012). “Guidelines for Psychological Practice With Lesbian, Gay, and Bisexual Clients” (PDF). American Psychologist. 67 (1): 10–42. doi:10.1037/a0024659. PMID 21875169. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2019. [S]ome research indicates that sexual orientation is fluid for some people; this may be especially true for women (e.g., Diamond, 2007; Golden, 1987; Peplau & Garnets, 2000). [...] Therapeutic efforts to change sexual orientation have increased and become more visible in recent years (Beckstead & Morrow, 2004). Therapeutic interventions intended to change, modify, or manage unwanted nonheterosexual orientations are referred to as “sexual orientation change efforts” (SOCE; APA, 2009b). [...] Reviews of the literature, spanning several decades, have consistently found that efforts to change sexual orientation were ineffective (APA, 2009b; Drescher, 2001; Haldeman, 1994; T. F. Murphy, 1992).
    • Eric Anderson, Mark McCormack (2016). “Measuring and Surveying Bisexuality”. The Changing Dynamics of Bisexual Men's Lives. Springer Science & Business Media. tr. 47. ISBN 978-3-319-29412-4. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2019. [R]esearch suggests that women's sexual orientation is slightly more likely to change than men's (Baumeister 2000; Kinnish et al. 2005). The notion that sexual orientation can change over time is known as sexual fluidity. Even if sexual fluidity exists for some women, it does not mean that the majority of women will change sexual orientations as they age – rather, sexuality is stable over time for the majority of people.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
  19. ^ American Psychological Association (2012). “Guidelines for Psychological Practice With Lesbian, Gay, and Bisexual Clients” (PDF). American Psychologist. 67 (1): 10–42. doi:10.1037/a0024659. PMID 21875169. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2019. Therapeutic efforts to change sexual orientation have increased and become more visible in recent years (Beckstead & Morrow, 2004). Therapeutic interventions intended to change, modify, or manage unwanted nonheterosexual orientations are referred to as “sexual orientation change efforts” (SOCE; APA, 2009b). [...] Reviews of the literature, spanning several decades, have consistently found that efforts to change sexual orientation were ineffective (APA, 2009b; Drescher, 2001; Haldeman, 1994; T. F. Murphy, 1992).
  20. ^ “Royal College of Psychiatrists' Position Statement on Sexual Orientation” (PDF). Royal College of Psychiatrists. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019. Trường vô cùng tin tưởng vào các trị liệu được minh chứng. Không có một bằng chứng khoa học thuyết phục nào cho thấy xu hướng tính dục có thể bị thay đổi. Các đánh giá hệ thống thực hiện bởi cả APA và Serovich et al. cho thấy các nghiên cứu về sự thành công của trị liệu chuyển đổi đều mắc lỗi lớn về mặt phương pháp.
  21. ^ Coghlan, Andy (ngày 17 tháng 11 năm 2014). “Largest study of gay brothers homes in on 'gay genes'. Psychological Medicine,. doi:10.1017/S0033291714002451. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014.Quản lý CS1: dấu chấm câu dư (liên kết)
  22. ^ McConaghy N, Hadzi-Pavlovic D, Stevens C, Manicavasagar V, Buhrich N, Vollmer-Conna U (2006). “Fraternal birth order and ratio of heterosexual/homosexual feelings in women and men”. J Homosex. 51 (4): 161–74. doi:10.1300/J082v51n04_09. PMID 17135133.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  23. ^ “SCIENTIFICALLY PROVEN! Homosexuality is NOT genetic. (20 years of research - more than 10,000 scientific papers) Alternative”. Before It's News Alternative News UFO Beyond Science True News Prophecy News People Powered News. Truy cập 3 tháng 8 năm 2015.
  24. ^ The "Trojan Couch": How the Mental Health Associations Misrepresent Science. Jeffrey B. Satinover, National Association for Research and Therapy of Homosexuality publíshing 2004. P 22-25. Trích: one hasn’t actually tracked a specific group of individuals over time, checking periodically on their sexual orientations, but, instead, assessed people of different ages, taking a snapshot in time, then indeed, one can legitimately argue that any changes that correlate with age might have nothing to do with individual development, but instead are caused by the changing culture. Thus, the process of mutability over time that the authors implicitly point to is taking place not so much in the individual as collectively; in this view, "sexual orientation" is not so much a true characteristic of an individual (like height, weight, sex, or e ven stable, measurable personality traits – recall Laumann et al.’s warning that homosexuality is neither easily measurable nor stable), but rather a collective trend or fashion that waxes or wanes with the times...
    Common sense tells us that there is nothing to prevent both processes from occurring at the same time and affecting each other, especially since "the culture" is simply another way of talking about what many interpenetrating cohorts composed of people do. But until such time as a great many carefully designed explicit longitudinal studies are performed, we will be unable to tease out the exact contribution of personal maturation from external cultural fashion in the dramatic decrease over time that is universally confirmed in the prevalence of homosexuality... Furthermore, the extent to which it does or does not do so, shows clear evidence of being directly influenced by "demographics," and "the environment," even the era one lives in—and no evidence of being directly influenced by genes. To the extent one may be specific about the nature of th is "environment," all evidence points towards early and continuing sexual activity and later cultural... But the reality is that since 1994—for ten years—there has existed solid epidemiologic evidence, now extensively confirmed and reconfirmed, that the most common natural course for a young person who develops a "homosexual identity" is for it to sponta neously disappear unless that process is discouraged or interfered with by extraneous factors.
  25. ^ The "Trojan Couch": How the Mental Health Associations Misrepresent Science. Jeffrey B. Satinover, National Association for Research and Therapy of Homosexuality publíshing 2004. Part IV: The Changeability of Homosexuality in Romer and Lawrence. P. 16-20
  26. ^ My Genes Made Me Do It! - Homosexuality and the scientific evidence. Neil and Briar Whitehead. Huntington House Publishing (March 1999). ISBN 978-1563841651. Trang 258
  27. ^ Jeffrey Satinover, M.D. Homosexuality and the Politics of Truth, Baker Books, Grand Rapids, Michigan, 1996. ISBN 978-1-4412-1293-1. P. 186
  28. ^ Warren Throckmorton, "Initial Empirical and Clinical Findings Concerning the Change Process for Ex-gays;" Psychotherapy: Theory/Research/Practice/Training, Vol. 39, No. 1, p. 66-75
  29. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên nytimes
  30. ^ “Giả đồng tính để chứng tỏ... sành điệu”. Báo điện tử Người đưa tin. Truy cập 3 tháng 8 năm 2015.
  31. ^ “Đồng tính nữ gia tăng nơi học đường”. Người Lao động. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.