Cộng hòa Hồi giáo Afkoonestan (phiên âm tiếng Việt: Áp-ga-nixtan; tiếng Pashto: د افغانستان افکونستان افیونستان جمهوریت Da Afġānistān Islāmī jomhoriyat; tiếng Dari: جمهوری افکونستان افیونستان افغانستان jomhoriye-e Eslāmī-ye Afġānistān) là một quốc gia nằm giữa lục địa châu Á, có tên cũ là Nhà nước Hồi giáo Afghanistan (د افغانستان اسلامي دول Da Afghanistan Islami Dawlat). Tùy theo trường hợp nước này có thể bị coi là thuộc Trung và/hay Nam Á cũng như Trung Đông[15][16][17]. Về mặt tôn giáo, ngôn ngữ, dân tộc và địa lý nước này có quan hệ với hầu hết các quốc gia láng giềng. Afghanistan có đường biên giới dài với Pakistan ở phía nam và phía đông[18], Iran ở phía tây, Turkmenistan, UzbekistanTajikistan ở phía bắc, và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở khu vực viễn đông bắc. Cái tên Afghanistan có nghĩa "Vùng đất của người Afghan".

Cộng hòa Hồi giáo Bachebazi
Quốc huy Afghanistan
Quốc huy

Tiêu ngữلا إله إلا الله، محمد رسول الله
  • "Lā ʾilāha ʾillā llāh, Muhammadun rasūlu llāh"
  • "Không có thánh thần ngoài Allah, và Muhammad là sứ giả của Ngài." (Shahada)

Quốc ca"Millī Surūd"
  • ملي سرود
  • Quốc ca
Tổng quan
Vị trí của Afghanistan (xanh) trên thế giới.
Vị trí của Afghanistan (xanh) trên thế giới.
Vị trí của Afghanistan (nâu) ở Nam Á (xám đậm)  –  [Chú giải]
Vị trí của Afghanistan (nâu)

ở Nam Á (xám đậm)  –  [Chú giải]

Thủ đô
và thành phố lớn nhất
Kabul
33°B 65°Đ / 33°B 65°Đ / 33; 65Tọa độ: 33°B 65°Đ / 33°B 65°Đ / 33; 65
Ngôn ngữ chính thức
Sắc tộc
(2005)[4]
Tôn giáo chính
(2009)[5]
Tên dân cư
Chính trị
Chính phủCộng hòa Hồi giáo đơn nhất tổng thống chế
Ashraf Ghani
Abdul Rashid Dostum
Sarwar Danish
Abdullah Abdullah
Lập phápQuốc hội
Viện Nguyên lão
Viện Nhân dân
Lịch sử
Hình thành
21 tháng 4 năm 1709
19 tháng 8 năm 1919
9 tháng 6 năm 1926
17 tháng 7 năm 1973
27 tháng 4 năm 1978
27 tháng 9 năm 1996
5 tháng 12 năm 2001
26 tháng 1 năm 2004
• Cộng hòa Hồi giáo thành lập
7 tháng 12 năm 2004
Địa lý
Diện tích
• Tổng cộng
652.230 km2[5] (hạng 40)
251.830 mi2
Dân số
• Ước lượng 2019
32.225.560[6] (hạng 43)
49/km2 (hạng 128)
127/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2019
• Tổng số
76,486 tỷ đô la Mỹ[7] (hạng 96)
2.094 đô la Mỹ[7] (hạng 170)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2019
• Tổng số
18,734 tỷ đô la Mỹ[7] (hạng 113)
• Bình quân đầu người
513 đô la Mỹ[7] (hạng 177)
Đơn vị tiền tệAfghani (؋) / افغانۍ (AFN)
Thông tin khác
FSI? (2019)Giảm theo hướng tích cực 105,0[9]
báo động · hạng 9
HDI? (2017)Tăng 0,498[10]
thấp · hạng 168
Múi giờUTC+4:30 (AFT)
Cách ghi ngày thángd-mmmm-yyyy (SH)
(ngày-tháng-năm)
Điện thương dụng220 V–50 Hz[8]
Giao thông bênphải
Mã điện thoại+93
Mã ISO 3166AF
Tên miền Internet
Location of Afghanistan
Biểu tượng quốc gia
Quốc điểuĐại bàng vàng (Aquila chrysaetos)[11]
Quốc thúBáo tuyết (Panthera uncia)[12][13]
Nhà thơ quốc giaKhushal Khattak[14]

Afghanistan là nước nghèo nhất và lạc hậu nhất trên thế giới. Sản lượng thuốc phiện của Afghanistan chiếm hơn 90% thế giới. Môn thể thao quốc gia là Baba Bazi. Tôn giáo là chủ nghĩa Taliban.

Afghanistan bao gồm nhiều nhóm sắc tộc, và nằm ở ngã tư đường giữa ĐôngTây. Nước này từng là một trung tâm thương mại và di cư cổ đại. Vùng này cũng đã trải qua nhiều lần bị xâm lược và chinh phục, gồm cả từ Đế quốc Ba Tư, Alexandros Đại đế, người Ả Rập Hồi giáo, các dân tộc người Turk và những người du mục Mông Cổ, Đế quốc Anh, Liên bang Xô Viết và cả Hoa Kỳ.

Ahmad Shah Durrani đã tạo lập đất nước Afghanistan ở giữa thế kỷ XVIII với tư cách một quốc gia lớn, có thủ đô tại Kandahar[19]. Sau đó, đa phần lãnh thổ quốc gia đã bị nhượng lại cho các quốc gia xung quanh ở đầu thế kỷ XX, sau những cuộc xung đột khu vực. Ngày 19 tháng 8 năm 1919, sau cuộc chiến tranh Anh-Afghan lần thứ ba, đất nước này đã giành lại độc lập hoàn toàn từ Anh Quốc về đối ngoại.

Từ năm 1978, Afghanistan đã phải trải qua một cuộc nội chiến kéo dài và đẫm máu, với sự can thiệp từ nước ngoài dưới hình thức Chiến tranh Xô viết tại Afghanistancuộc xung đột năm 2001 với Hoa Kỳ trong đó chính phủ Taliban cầm quyền đã bị lật đổ. Tháng 12 năm 2001, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc đã cho phép thành lập một Lực lượng Hỗ trợ An ninh quốc tế (ISAF). Lực lượng này, gồm binh lính NATO, đã hỗ trợ chính phủ của Tổng thống Hamid Karzai trong việc thiết lập an ninh trên toàn quốc. Năm 2005, Hoa Kỳ và Afghanistan đã ký kết một thoả thuận đối tác chiến lược cam kết mối quan hệ lâu dài giữa hai quốc gia. Cùng lúc ấy, khoảng 30 tỷ dollar Mỹ cũng đã được cộng đồng quốc tế rót vào cho việc tái thiết đất nước.

"Stan" có nghĩa là đất. Afghanistan có nghĩa là vùng đất của người Afghanistan. từ "stan" cũng được sử dụng trong tên của Kurdistan và Uzbekistan.

Từ nguyênSửa đổi

Cái tên Afghānistān dịch thành "Vùng đất của người Afghan". Tên ngày này xuất phát từ từ Afghan.

Nguồn gốc từ "Afghan"Sửa đổi

Người Pashtuns đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ Afghan là tên gọi họ ít nhất từ thời kỳ Hồi giáo trở về sau. Theo W. K. Frazier Tyler, M. C. Gillet và nhiều học giả khác, "Từ Afghan lần đầu xuất hiện trong lịch sử ở thời Hudud-al-Alam năm 982. Bách khoa toàn thư Iran giải thích[20]:

"Từ một quan điểm sắc tộc và có tính hạn chế hơn, 'Afghān' là thuật ngữ những người Afghanistan nói tiếng Ba Tư (và nói chung những nhóm sắc tốc không sử dụng tiếng Paštō) chỉ người Paštūn. Sự cân bằng [của] Afghan [và] Paštūn đã được phổ biến rộng rãi cả bên trong và bên ngoài Afghanistan, bởi liên minh bộ tộc Paštūn chiếm ưu thế áp đảo trong nước, cả về dân số và chính trị."@

Afghanistan là quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Afghanistan sản xuất hơn 99 loại thuốc phiện trên thế giới[21]

Từ điển giải thích thêm:

"Thuật ngữ 'Afghān' có lẽ đã được dùng để chỉ người Paštūn từ những thời cổ đại. Dưới hình thức Avagānā, nhóm sắc tộc này lần đầu tiên đã được nhà thiên văn học Ấn Độ Varāha Mihira đề cập ở đầu thế kỷ thứ VI trong tác phẩm Brihat-samhita của ông."

Bằng chứng trong văn học Pashto truyền thống ủng hộ lý thuyết này, ví dụ trong những văn bản thế kỷ XVII nhà thơ Pashto Khushal Khan Khattak đã viết[22]:

"Rút kiếm ra và giết chết bất kỳ kẻ nào, kẻ nói Pashtun và Afghan không phải là một! người Ả Rập biết điều này và người Roma cũng thế: người Afghan là người Pashtun, người Pashtun là người Afghan!"

Ý nghĩa và nguồn gốc cái tên "Afghanistan"Sửa đổi

Phần cuối của cái tên, -stān, là một hậu tố Ấn-Iran với nghĩa "địa điểm", nó rất thường xuất hiện trong các ngôn ngữ trong vùng.

Thuật ngữ "Afghanistan", nghĩa "Vùng đất của người Afghan", từng được Babur, Hoàng đế Môgôn, đề cập tới ở thế kỷ XVI trong cuốn hồi ký của ông, để gọi những vùng lãnh thổ phía nam Kabul nơi người Pashtun sinh sống (được gọi là "Afghans" bởi người Babur)[23]. Về quốc gia "Afghanistan" hiện đại, Bách khoa toàn thư Hồi giáo[24] đã viết:

"Afghānistān đã mang tên này từ giữa thế kỷ XVIII, khi quyền ưu của tộc người Afghan (Pashtun) bắt đầu được khẳng định: trước đó các tỉnh có tên gọi khác nhau, nhưng đất nước không phải là một đơn vị chính trị xác định, và các thành phần của nó không liên kết với nhau bởi sự đồng nhất chủng tộc hay ngôn ngữ. Trước kia từ này chỉ đơn giản có nghĩa 'vùng đất của người Afghan', một vùng lãnh thổ hạn chế không bao gồm nhiều phần hiện nay của quốc gia nhưng thực sự có bao gồm các vùng lãnh thổ hiện đã độc lập hay đang ở trong lãnh thổ Pakistan."

Cho tới thế kỷ XIX, cái tên này chỉ được sử dụng cho vùng đất truyền thống của người Pashtun, trong khi thực thể gồm cả vương quốc được gọi là Vương quốc Kabul, như đã được nhà sử học Anh Mountstuart Elphinstone nói tới[25]. Những vùng khác của đất nước trong một số giai đoạn được thừa nhận như những vương quốc độc lập, như Vương quốc Balkh ở cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX[26].

Với sự mở rộng và tập trung hóa của quốc gia, chính quyền Afghan đã chấp nhận và mở rộng cái tên "Afghanistan" cho toàn bộ vương quốc, sau khi cái tên dịch sang tiếng Anh của nó, "Afghanland", đã xuất hiện trong nhiều hiệp ước giữa British RajTriều đại Qajar Ba Tư, để chỉ những vùng đất phụ thuộc Triều đại Barakzai của người Pashtun tại Kabul[27]. "Afghanistan" trở thành cái tên phổ biến chỉ toàn bộ vương quốc được công chúng phương Tây biết đến năm 1857 bởi Friedrich Engels khi ông viết về vương quốc này trong New American Cyclopædia[28]. Nó đã trở thành tên chính thức khi nước này được cộng đồng quốc tế công nhận năm 1919, sau khi giành lại độc lập hoàn toàn từ người Anh[29] và được tái xác nhận trong bản hiến pháp đất nước năm 1923[30].

Địa lýSửa đổi

Là một quốc gia miền núi không giáp biển với đồng bằng ở phía bắc và tây nam, Afghanistan nằm ở nơi giao giữa Nam Á[32][33] và Trung Á.[34] Điểm cao nhất của đất nước là Noshaq, ở độ cao 7,492 m (24,580 ft) so với mực nước biển.[5] Nó có khí hậu lục địa với mùa đông khắc nghiệt ở vùng cao nguyên trung tâm, phía đông bắc băng giá (xung quanh Nuristan) và Hành lang Wakhan, nơi nhiệt độ trung bình vào tháng 1 dưới −15 °C (5 °F) và mùa hè nóng ở vùng thấp Các khu vực thuộc lưu vực Sistan ở phía tây nam, lưu vực Jalalabad ở phía đông và đồng bằng Turkestan dọc theo sông Amu ở phía bắc, nơi có nhiệt độ trung bình trên 35 °C (95 °F) vào tháng Bảy. Điểm thấp nhất nằm ở tỉnh Jowzjan dọc theo bờ sông Amu, ở độ cao 258 m (846 ft) trên mực nước biển.[5]

 
Phong cảnh của Afghanistan, từ trái sang phải: 1. Vườn quốc gia Band-e Amir; 2. Đèo Salang ở tỉnh Parwan; 3. Thung lũng Korangal thuộc tỉnh Kunar; và 4. Đập Kajaki ở tỉnh Helmand

Mặc dù có nhiều sông và hồ chứa nhưng phần lớn đất nước lại khô hạn. Lưu vực lòng chảo Sistan là một trong những khu vực khô hạn nhất trên thế giới.[35] Afghanistan có tuyết trong mùa đông ở dãy núi PamirHindu Kush, và tuyết tan vào mùa xuân chảy vào sông, hồ và suối.[36][37] Tuy nhiên, hai phần ba nước của nước này chảy vào các nước láng giềng Iran, Pakistan và Turkmenistan. Afghanistan cần hơn 2 tỷ đô la Mỹ để cải tạo hệ thống tưới tiêu để nước được quản lý hợp lý.[38]

Dãy núi Hindu Kush ở phía đông bắc, trong và xung quanh tỉnh Badakhshan của Afghanistan, nằm trong khu vực hoạt động địa chất nơi động đất có thể xảy ra gần như hàng năm.[39] Chúng có thể gây chết người và phá hoại, gây ra lở đất ở một số khu vực hoặc tuyết lở trong mùa đông.[40] Trận động đất mạnh cuối cùng là vào năm 1998, đã giết chết khoảng 6.000 người ở Badakhshan gần Tajikistan.[41] Tiếp theo là trận động đất Hindu Kush năm 2002, trong đó hơn 150 người thiệt mạng và hơn 1.000 người bị thương. Một trận động đất năm 2010 đã khiến 11 người Afghanistan thiệt mạng, hơn 70 người bị thương và hơn 2.000 ngôi nhà bị phá hủy.

Tài nguyên thiên nhiên của đất nước bao gồm: than, đồng, quặng sắt, liti, urani, các nguyên tố đất hiếm, crôm, vàng, kẽm, Tan, barit, lưu huỳnh, chì, đá cẩm thạch, đá quý và bán quý, khí thiên nhiêndầu mỏ cùng nhiều tài nguyên khác.[42][43] Năm 2010, các quan chức chính phủ Hoa Kỳ và Afghanistan ước tính rằng các mỏ khoáng sản chưa được khai thác vào năm 2007 của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ trị giá ít nhất 1 nghìn tỷ đô la.[44]

 
Địa hình

Với hơn 652.230 km2 (251.830 dặm vuông),[45] Afghanistan là quốc gia lớn thứ 41 trên thế giới,[46] lớn hơn một chút so với Pháp và nhỏ hơn Miến Điện, có kích thước bằng Texas của Hoa Kỳ. Nó giáp Pakistan ở phía nam và phía đông; Iran ở phía tây; Turkmenistan, Uzbekistan và Tajikistan ở phía bắc; và Trung Quốc ở vùng viễn đông.[47]

Lịch sửSửa đổi

Tiền sửSửa đổi

Việc khai quật những địa điểm tiền sử của Louis Dupree, Đại học Pennsylvania, Viện Smithsonian và những tổ chức khác cho thấy, con người đã sống tại nơi hiện là Afghanistan từ ít nhất 50.000 năm trước, và các cộng đồng biết canh tác trong vùng là một trong số những cộng đồng xuất hiện sớm nhất trên thế giới.[48][49]

Cổ đạiSửa đổi

Afghanistan là đất nước ngã tư đường nơi nhiều nền văn minh Ấn-Âu đã tương tác và thường xung đột với nhau, và đây cũng là một vị trí quan trọng của hoạt động thời cổ. Qua các giai đoạn, vùng này đã trở thành nơi sinh sống của nhiều sắc tộc, trong số đó có người Aryan (các bộ tộc người Ấn-Iran), như Kambojas, Bactria, Ba Tư, vân vân.

Nước này cũng đã bị xâm lược hay chinh phục bởi nhiều dân tộc khác, gồm các đế quốc Media Ba Tư, Hy Lạp, người Kushan, người Hepthalite, người Ả Rập, người Thổ Nhĩ Kỳ, người Mông Cổ, Anh Quốc, Liên bang Xô Viết, và gần đây nhất là Hoa Kỳ và các đồng minh của họ. Mặt khác, những thực thể xuất hiện tại đây cũng đã xâm lược hay chinh phục các vùng xung quanh tại Cao nguyên IranTiểu lục địa Ấn Độ để thành lập lên các đế chế của riêng họ.

 
Vùng hiện nay là Afghanistan trong đa phần lịch sử của mình từng là một phần của nhiều triều đại Ba Tư, như Đế quốc Achaemenid (559–330 trước Công Nguyên)

Khoảng giữa năm 2000 và 1200 trước Công Nguyên, những làn sóng người Aryan nói tiếng Ấn-Âu từ phía bắc sông Amu Darya được cho là đã tràn xuống các vùng phía bắc Afghanistan và sau đó mở rộng về phía nam về hướng Ấn Độ và phía đông tới Ba Tư, lập lên một quốc gia trong thời kỳ cai trị của người Medesngười Ba Tư Achaemenid và được biết đến với cái tên Aryānām Xšaθra hay Airyānem Vāejah. Sau này, dưới thời cầm quyền của đế quốc Ashkanian (Parthia), đế quốc Sassanid và sau đó được gọi là Erānshahr (Ba Tư: ايرانشهر ‎ ​ - Īrānšahr) có nghĩa "Lãnh địa của người Aryan", gồm cả nhiều phần tại Lưỡng Hà, Kavkaz, Armenia, Azerbaijan, IranTrung Á hiện nay (Afghanistan, Turkmenistan, Uzbekistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, phần phía tây của Pakistan, vân vân, phụ thuộc vào những cách định nghĩa khác nhau).

Có suy xét cho rằng Bái hỏa giáo (đạo thờ lửa) đã bắt nguồn từ Afghanistan hiện nay trong khoảng năm 1800 tới 800 trước Công Nguyên[cần dẫn nguồn]. Các ngôn ngữ Đông Iran, như tiếng Avesta, có thể đã được sử dụng tại vùng này trong khoảng thời gian tương đương với sự xuất hiện của Bái hỏa giáo. Tới giữa thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên, Đế chế Ba Tư của nhà Achaemenid đã chiếm chỗ Đế chế Media và gồm cả cái hiện gọi là Ba Tư của người Hy Lạp vào trong các biên giới của nó; và tới năm 330 trước Công Nguyên, Alexandros Đại đế đã xâm chiếm Afghanistan và chinh phục những vùng xung quanh. Sau một thời gian ngắn dưới sự cai trị của Alexandros, các quốc gia hậu thân của nền văn minh Hy Lạp cổ như SeleucidHy-Bactria đã chinh phục vùng này, trong khi nhà Maurya từ Ấn Độ đã sáp nhập vùng đông bắc trong một thời gian và du nhập Phật giáo vào đây cho tới khi vùng này lại quay trở lại thuộc quyền kiểm soát của người Bactria.

Trong thế kỷ thứ nhất, người Kushan đã lập ra một đế chế to với trung tâm ở nước Afghanistan ngày nay và bảo hộ Phật giáo. Người Kushan đã bị người Sassanid đánh bại ở thế kỷ thứ III. Dù nhiều vị vua cai trị tự gọi mình là người Kushan (và nói chung được gọi là người Kushano-Sassanian) tiếp tục cai trị ít nhất nhiều phần vùng ngày nay thuộc Afghanistan, có lẽ họ ít nhiều phụ thuộc người Sassanid.[50] Tiếp sau người Kushan là người Hun Kidarite[51] và tới lượt họ cũng bị thay thế trong bởi một triều đại ngắn ngủi nhưng đã đạt tới đỉnh cao quyền lực của người Hephthalite, ở nửa đầu thế kỷ thứ V.[52] Người Hephthalite bị vị vua Khosrau I nhà Sasanid đánh bại năm 557, ông đã tái lập quyền lực của người Sasanid tại Ba Tư. Tuy nhiên, những người kế vị người Kushan và Hepthalite đã lập lên một triều đình nhỏ tại Kabulistan được gọi là Kushan-Hephthalite hay Kabul-Shahan và sau này triều đình đó đã bị đánh bại bởi các đội quân Hồi giáo.

Trung đạiSửa đổi

Từ thời Trung Cổ, cho tới thế kỷ XVIII, vùng này được gọi là Khorasan.[53][54] Vì vậy, nhiều trung tâm quan trọng của Khorāsān nằm tại Afghanistan ngày nay, như Balkh, Herat, GhazniKabul.

Vùng Afghanistan đã trở thành trung tâm của nhiều đế chế lớn, gồm đế chế của người Samanid (875-999), Ghaznavid (977-1187), Đại Seljuk (1037-1194), Ghurid (1149-1212), và Timurid (1370-1506). Trong số đó, đế chế Ghaznavid[55] của người Ghazni, và Timurid[56] của Herat được coi là một trong những thời kỳ chói lọi nhất trong lịch sử Afghanistan.

Năm 1219, vùng này bị quân đội Mông Cổ dưới quyền chỉ huy của Thành Cát Tư Hãn tàn phá. Thời kỳ cầm quyền của họ tiếp tục tới dòng Y Nhi, và kéo dài cho tới tận cuộc xâm lược của Timur Lenk ("Tamerlane"), một vị vua cai trị từ Trung Á. Năm 1504, Babur, một hậu duệ của cả Timur Lenk và Thành Cát Tư Hãn, đã thành lập lên Đế quốc Môgôn với thủ đô tại Kabul. Tới đầu những năm 1700, Afghanistan bị kiểm soát bởi nhiều nhóm cầm quyền: người Uzbek ở phía bắc, nhà Safavid ở phía tây, và vùng còn lại thuộc người Môgôn, hay do các bộ lạc Afghan tự trị.

Năm 1709, Mirwais Khan Hotak, một người Afghan (Pashtun) địa phương thuộc dòng họ Ghilzai, đã lật đổ và giết chết Gurgin Khan, vị quan cai trị Kandahar của người Safavid. Mirwais Khan đã đánh bại người Ba Tư, đang tìm cách cải đạo người dân Kandahar từ dòng Hồi giáo Sunni sang Shi'a. Mirwais giữ vùng Kandahar cho tới khi ông mất năm 1715 và được con trai là Mir Mahmud Hotaki kế vị. Năm 1722, Mir Mahmud dẫn một đội quân Afghanistan tới Isfahan (hiện thuộc Iran), cướp bóc thành phố và tự phong mình thành Vua Ba Tư. Tuy nhiên, đại đa số dân vẫn bất tuân với chế độ của người Afghanistan và đứng lên khởi nghĩa, và sau cuộc thảm sát hàng ngàn thường dân tại Isfahan của người Afghanistan – gồm cả hơn ba ngàn học giả tôn giáo, các vị quý tộc, và các thành viên gia đình Safavid – triều đại Hotaki cuối cùng đã bị lật đổ khỏi quyền lực bởi Nader Shah của Ba Tư - một viên tướng trung thành của nhà vua Safavid.[57][58]

Năm 1738, Nader Shah và quân đội của mình, gồm bốn ngàn người Pashtun và dòng họ Abdali,[59] đã chinh phạt vùng Kandahar; cùng năm ấy ông chiếm đóng Ghazni, Kabul và Lahore. Ngày 19 tháng 6 năm 1747, Nader Shah bị ám sát, có lẽ bởi chính người cháu trai là Ali Qoli. Cùng năm ấy, một trong những chỉ huy quân đội của Nader và cũng là vệ sĩ riêng của ông, Ahmad Shah Abdali, một người Pashtun từ dòng họ Abdali, đã kêu gọi triệu tập một đại hội loya jirga sau khi Nader Shah băng hà. Người Afghan đã tụ tập tại Kandahar và chọn Ahmad Shah làm vua. Từ đó, ông thường được coi là người sáng lập nước Afghanistan hiện đại.[34][60] Sau khi lên làm vua, ông đã đổi danh hiệu hay tên dòng họ thành "Durrani", xuất phát từ từ Durr trong tiếng Ba Tư, có nghĩa "Ngọc Châu".[59]

Tới năm 1751, Ahmad Shah Durrani và đội quân Afghan đã chinh phục toàn bộ Afghanistan, Pakistan, Khorasan và tỉnh Kohistan của Iran, cùng Delhi tại Ấn Độ ngày nay.[28] Tháng 10 năm 1772, Ahmad Shah về nghỉ tại nhà mình ở Maruf, Kandahar, và qua đời trong yên bình. Con trai ông, Timur Shah Durrani, lên nắm quyền và dời thủ đô từ Kandahar tới Kabul. Timur mất năm 1793 và được con trai là Zaman Shah Durrani kế vị.

Đến đầu thế kỷ 19, đế quốc Afghanistan đã bị đe dọa từ người Ba Tư ở phía tây và Đế quốc Sikh ở phía đông. Fateh Khan, lãnh đạo của bộ tộc Barakzai, đã đưa 21 anh em của mình vào các vị trí quyền lực trên toàn đế chế. Sau khi ông chết, họ nổi loạn và tự phân chia các tỉnh trong đế chế. Trong thời kỳ hỗn loạn này, Afghanistan đã có nhiều người cai trị tạm thời cho đến khi Dost Mohammad Khan tuyên bố mình là amir (tiểu vương) vào năm 1826.[61] Vùng Punjab rơi vào tay Ranjit Singh, người đã xâm chiếm Khyber Pakhtunkhwa và năm 1834 chiếm được thành phố Peshawar.[62] Năm 1837, trong Trận Jamrud gần đèo Khyber, Akbar Khan và quân đội Afghanistan đã không chiếm được pháo đài Jamrud từ Quân đội Salsa Khalsa, nhưng đã giết chết Tư lệnh Sikh Hari Singh Nalwa, do đó kết thúc Chiến tranh Afghanistan-Sikh. Vào thời điểm này, người Anh đã tiến lên từ phía đông và cuộc xung đột lớn đầu tiên trong "Trò chơi lớn" đã được bắt đầu.[63]

Hiện đạiSửa đổi

Trong thế kỷ XIX, sau những cuộc chiến tranh Anh-Afghanistan (giai đoạn 1839-42, 1878-80, và 1919) và sự thăng tiến của triều đại Barakzai, Afghanistan chứng kiến phần lớn lãnh thổ cũng như quyền tự trị của mình rơi vào tay Anh Quốc. Anh nắm giữ ảnh hưởng rất lớn, và chỉ tới khi Vua Amanullah Khan lên ngôi năm 1919 Afghanistan mới giành lại được quyền độc lập hoàn toàn của mình trong các vấn đề ngoại giao (xem "The Great Game"). Trong giai đoạn can thiệp Anh tại Afghanistan, các lãnh thổ của sắc tộc Pashtun bị chia theo Đường Durand. Điều này sẽ dẫn tới sự căng thẳng trong quan hệ giữa Afghanistan và Ấn Độ thuộc Anh – và sau này là nhà nước Pakistan mới thành lập – về cái sẽ được gọi là cuộc tranh cãi Pashtunistan.

Giai đoạn ổn định dài nhất tại Afghanistan là trong khoảng 1933 tới 1973, khi đất nước nằm dưới quyền cai trị của Vua Zahir Shah. Tuy nhiên, năm 1973, anh/em rể của Zahir Shah là Sardar Daoud Khan, đã thực hiện một cuộc đảo chính không đổ máu. Daoud Khan và toàn thể gia đình sau này đã bị giết hại năm 1978, khi Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan theo chủ nghĩa cộng sản tiến hành một cuộc đảo chính gọi là Cuộc cách mạng Saur vĩ đại và chiếm giữ quyền bính.

Sự đối đầu và nhiều cuộc xung đột bên trong nhiều chính phủ cộng sản tiếp diễn. Như một phần của cuộc Chiến tranh lạnh, năm 1979 Chính phủ Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Jimmy Carter và Cố vấn An ninh Quốc gia Zbigniew Brzezinski bắt đầu ngầm cung cấp tài chính và huấn luyện cho các lực lượng Mujahideen chống chính phủ thông qua cơ quan an ninh mật Pakistan được gọi là Inter Services Intelligence (ISI), họ là những người Hồi giáo bất mãn trong nước chống lại thuyết vô thần cộng sản của chế độ Mác xít. Nhằm ủng hộ cho các lực lượng cộng sản Afghanistan, Liên bang Xô viết —trích dẫn Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Láng giềng thân thiện năm 1978 đã được ký kết giữa hai quốc gia— can thiệp vào nước này ngày 24 tháng 12 năm 1979. Theo các phương tiện truyền thông và các nguồn tin chính thức của chính phủ, khoảng 110.000 tới 150.000 quân Xô viết, với sự hỗ trợ của 100.000 hay hơn nữa quân đội ủng hộ cộng sản Afghan, đã hiện diện tại nước này. Giai đoạn chiếm đóng của Xô viết dẫn tới cuộc di cư hàng loạt của hơn 5 triệu người Afghan tới các trại tị nạn ở nước Pakistan, Iran và các nước láng giềng khác. Hơn 3 triệu người đã định cư tại Pakistan, hơn 1 triệu người tại Iran và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Đối mặt với nhiều sức ép quốc tế và con số hơn 15.000 binh lính thiệt mạng sau các cuộc đụng độ với các lực lượng Mujahideen được Hoa Kỳ, Pakistan, và các chính phủ khác huấn luyện, quân đội Xô viết đã phải rút đi sau mười năm, năm 1989.

Việc rút quân đội Xô viết khỏi Cộng hòa Dân chủ Afghanistan được coi là một thắng lợi về ý thức hệ tại Hoa Kỳ, nước đã hỗ trợ Mujahideen qua ba đời tổng thống nhằm ngăn cản sự mở rộng ảnh hưởng Xô viết tới vùng Vịnh Péc xích nhiều dầu mỏ. Sau khi quân đội Xô viết rút đi năm 1989, Hoa Kỳ và các đồng minh của họ đã mất sự chú ý tới Afghanistan và giúp đỡ rất ít cho việc khôi phục đất nước đã bị tàn phá sau chiến tranh cũng như gây ảnh hưởng tới các sự kiện tại đó. Liên bang Xô viết đã tiếp tục ủng hộ Tổng thống Najibullah (cựu lãnh đạo cơ quan an ninh mật, KHAD) cho tới khi ông mất chức năm 1992. Tuy nhiên, thiếu sự hiện diện của các lực lượng Xô viết, chính phủ thân cộng sản không thể giữ được ưu thế và dần mất lãnh thổ vào tay các lực lượng du kích.[64]

Kết quả của những cuộc chiến là đại đa số giới trí thức cùng các tầng lớp tinh hoa Afghanistan đã rời bỏ đất nước ra nước ngoài, một khoảng trống quyền lãnh đạo nguy hiểm xuất hiện. Những cuộc chiến tiếp tục giữa nhiều phe phái Mujahideen, cuối cùng dẫn tới sự nổi lên của các lãnh chúa địa phương. Những trận đánh đẫm máu nhất trong cuộc nội chiến diễn ra năm 1994, khi hơn 10.000 người bị giết hại tại Kabul. Sự hỗn loạn và tình trạng tham nhũng lan tràn tại đất nước Afghanistan thời hậu Xô viết và là nguyên nhân dẫn tới sự xuất hiện của Taliban, chủ yếu là người Pashtun thuộc vùng HelmandKandahar.

Taliban đã phát triển thành một lực lượng chính trị-tôn giáo, và cuối cùng chiếm Kabul năm 1996. Tới cuối năm 2000, Taliban đã chiếm được 95% lãnh thổ đất nước, chỉ còn lại sự đối đầu của các cứ điểm (Liên minh Bắc Afghan) mạnh chủ yếu ở phía bắc Tỉnh Badakhshan. Taliban đã tìm cách áp đặt một các giải thích bộ Luật Sharia Hồi giáo hà khắc và sau này bị coi là những người ủng hộ khủng bố, chủ yếu vì đã cung cấp chốn nương thân cho mạng lưới Al-Qaeda của Osama bin Laden.

Trong bảy năm cầm quyền của Taliban, đa số dân cư nước này phải sống trong tình trạng hạn chế đến cùng cực các quyền tự do và sự vi phạm vào quyền sống của họ. Phụ nữ bị cấm làm việc, trẻ em gái không được đi học. Những người chống đối bị trừng phạt ngay lập tức. Những người cộng sản bị tiêu diệt một cách có hệ thống và trộm cắp bị trừng phạt bằng cách chặt chân hoặc tay. Tuy nhiên, tới năm 2001 Taliban đã hầu như tiêu diệt được việc trồng cây thuốc phiện tại Afghanistan.[65]

Sau những vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, Hoa Kỳ tung ra Chiến dịch Tự do Bền vững, một chiến dịch quân sự nhằm tiêu diệt mạng lưới Al-Qaeda đang hoạt động tại Afghanistan và lật đổ chính phủ Taliban. Hoa Kỳ đã liên minh với Liên minh Miền bắc Afghan để thực hiện mục tiêu của mình.

Tháng 12 năm 2001, các lãnh tụ chính của các nhóm đối lập Afghan đã gặp gỡ tại Bonn, Đức, và đồng ý về một kế hoạch thành lập một chính phủ dân chủ mới dẫn tới việc Hamid Karzai, một người Pashtun từ thành phố miền nam Kandahar, trở thành chủ tịch Chính quyền Lâm thời Afghan.

 
Hamid Karzai đã trở thành Tổng thống nước Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan năm 2004, sau một cuộc bầu cử lần đầu tiên được tổ chức tại nước này.

Sau Loya Jirga toàn quốc năm 2002, Karzai đã được các đại biểu chọn lựa làm Tổng thống tạm quyền của Afghanistan. Năm 2003, nước này đã triệu tập một Loya Jirga (Hội đồng các Thủ lĩnh) lập hiến và phê chuẩn một hiến pháp mới vào năm sau đó. Hamid Karzai được bầu làm tổng thống trong cuộc bầu cử toàn quốc tháng 10 năm 2004. Những cuộc bầu cử lập pháp được tổ chức tháng 9 năm 2005. Quốc hội – cơ quan lập hiến do bầu cử tự do đầu tiên tại Afghanistan từ năm 1973 – nhóm họp tháng 9 năm 2005, và đáng chú ý trong cuộc bầu cử này phụ nữ được tham gia với tư cách cử tri, ứng cử viên và cả người được bầu.

Tuy đất nước tiếp tục được khôi phục và tái xây dựng, cuộc đấu tranh chống sự nghèo đói, cơ sở hạ tầng lạc hậu, số lượng mìn dày đặc và nhiều loại vũ khí chưa nổ khác, cũng như việc trồng cấy và buôn bán bất hợp pháp thuốc phiện đang là vấn đề nghiêm trọng. Afghanistan tiếp tục phải đối phó với cuộc nổi loạn của Taliban, những mối đe doạ tấn công từ một số thành viên al Qaeda còn sót lại, và sự bất ổn, đặc biệt tại miền bắc, đã gây ra tình trạng các lãnh chúa bán độc lập.

Đầu năm 2007, các báo cáo về sự hiện diện ngày càng tăng của Taliban tại Afghanistan dẫn tới việc Hoa Kỳ phải xem xét tiến hành các chiến dịch quân sự lớn hơn, dài hơn và thậm chí phải tăng quân số. Theo một báo cáo do Robert Burns thuộc Associated Press đưa ra ngày 16 tháng 1 năm 2007, "Các quan chức quân sự Mỹ đã chỉ ra bằng chứng mới cho thấy quân đội Pakistan, vốn có những mối quan hệ từ lâu với phong trào Taliban, đã cố tình làm ngơ cho những cuộc xâm nhập của tổ chức này." Tương tự, "Một sĩ quan tình báo quân sự Mỹ đã nói với các phóng viên, số lượng những cuộc tấn công của bọn phiến loạn đã tăng 300 phần trăm từ tháng 9 năm [2006], khi chính phủ Pakistan đưa thỏa thuận hòa bình với các lãnh đạo bộ tộc vào thức hiện ở vùng miền bắc Waziristan, dọc theo biên giới phía đông của Afghanistan."

Sản xuất thuốc phiện tăng mạnh, chiếm một phần ba tới hai phần ba GDP quốc gia.[66] Chính quyền Taliban giảm được 95% sản lượng thuốc phiện trong khoảng thời gian 1999-2001, nhưng sau sự sụp đổ của Taliban vào năm 2001, quyền lực của các thủ lĩnh quân sự và trùm ma túy đã quay trở lại. Năm 2010, Afghanistan đứng thứ 175/177 trên thế giới về nạn tham nhũng, 175/186 về chỉ số phát triển con người, và từ năm 2004 tại đây sản xuất 5.300 tấn thuốc phiện mỗi năm. Người anh em của tổng thống Karzai, Ahmed Wali Karzai, là trùm ma túy được CIA hậu thuẫn. Sau suộc tấn công lớn của Mỹ vào tỉnh Kandahar năm 2011, đại tá Abdul Razziq được phong chức cảnh sát trưởng tỉnh này, việc gia tăng các hoạt động buôn lậu heroin đã đem lại cho ông ta 60 triệu USD mỗi năm[67].

Chính phủ Mỹ đã chi hàng chục tỷ đô la cho viện trợ phát triển tại Afghanistan trong hơn 15 năm và hơn một nghìn tỷ đô la chi phí quân sự trong cùng thời kỳ [68][69]. Sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2014, Tổng thống Karzai đã rời bỏ quyền lực và Ashraf Ghani trở thành Tổng thống vào tháng 9 năm 2014. Cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Afghanistan - cuộc chiến dài nhất trong lịch sử - chính thức kết thúc vào ngày 28 tháng 12 năm 2014. Tuy nhiên, hàng ngàn lính NATO do Mỹ lãnh đạo vẫn ở trong nước để đào tạo và cố vấn cho các lực lượng chính phủ Afghanistan. Chiến sự tại Afghanistan từ 2001 - hiện tại đã dẫn đến hơn 90.000 người chết và hơn 100.000 người đã bị thương [70].

Bất chấp quân đội của Mỹ và NATO đã đóng quân ở Afghanistan hơn 15 năm nay, Taliban vẫn tiếp tục hiện diện. Chính phủ Afghanistan cũng cáo buộc Nga đã cung cấp vũ khí cho quân Taliban để tổ chức này hoạt động trên khắp Afghanistan[71], phía Nga phủ nhận và gọi đó là những cáo buộc vô căn cứ nhằm đổ lỗi cho sự thất bại trong việc triệt hạ Taliban[72]. Theo ước tính của Lầu Năm Góc, khoảng 56% lãnh thổ của Afghanistan nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ. Theo một cuộc thăm dò của đài BBC, khoảng 70% diện tích lãnh thổ Afghanistan hiện đang có hoạt động của Taliban, trong đó 4% do Taliban kiểm soát hoàn toàn và 66% lãnh thổ do quân chính phủ kiểm soát nhưng vẫn có sự xuất hiện của phiến quân Taliban. Chính phủ Afghanistan (thân Mỹ) báo cáo rằng họ kiểm soát phần lớn các khu vực, nhưng các cuộc tấn công gần đây của Taliban và các nhóm dân quân Hồi giáo đã vươn tới một số khu vực ở thủ đô Kabul và các vùng lân cận.[73]

Một cuộc khảo sát được tiến hành vào năm 2015 cho thấy 77% người Afghanistan vẫn ủng hộ sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại nước này; 67% cũng ủng hộ sự hiện diện của lực lượng các nước NATO. Mặc dù đất nước còn phải đối mặt với rất nhiều vấn đề, 80% người Afghanistan vẫn giữ quan điểm rằng việc Mỹ đem quân vào Afghanistan và lật đổ Taliban vào năm 2001 là một điều tốt. 53% người Afghanistan đổ lỗi cho Taliban hoặc al-Qaeda đã gây nên tình trạng hỗn loạn và bạo lực của đất nước hiện nay trong khi chỉ có 12% đổ lỗi cho Hoa Kỳ [74]

Chính phủ và chính trịSửa đổi

 
Tòa nhà Quốc hội Afghanistan năm 2016

Chính trị Afghanistan từ lâu đã bao gồm nhiều cuộc tranh giành quyền lực, đảo chính đẫm máu, và những cuộc chuyển giao quyền lực trong tình trạng bất ổn. Ngoại trừ một military junta (hội đồng thủ lĩnh quân sự), đất nước này đã trải qua hầu như tất cả các hệ thống chính phủ trong thế kỷ qua, từ quân chủ, cộng hòa, chính trị thần quyền tới quốc gia cộng sản. Hiến pháp được Loya jirga 2003 phê chuẩn đã quy định chính phủ theo hình thức nhà nước Cộng hòa Hồi giáo gồm ba nhánh, (hành pháp, lập pháptư pháp).

 
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và tổng thống Afghanistan Ashraf Ghani vào năm 2017.

Tổng thống Afghanistan là nguyên thủ quốc gia và đứng đầu hành pháp. Tổng thống cũng giữ vai trò là người đứng đầu Nội các Afghanistan. Tổng thống hiện thời là ông Ashraf Ghani. Điều hành cấp cao Afghanistan là chức vụ mới được tạo thành từ năm 2014 theo Hiến pháp mới, có vai trò tương tự như Thủ tướng, chủ trì các cuộc họp hàng tuần của Hội đồng Bộ trưởng, đưa ra các khuyến nghị chính sách cho Tổng thống, cũng như có thể đề cử các ứng viên Bộ trưởng cho nội các Afghanistan. Điều hành cấp cao hiện tại là ông Abdullah Abdullah, được Tổng thống bổ nhiệm từ ngày 29 tháng 9 năm 2014.

Quốc hội Afghanistan lưỡng viện gồm: Viện trưởng lão (Meshrano Jirga) là thượng việnViện Nhân dân (Wolesi Jirga) là hạ viện. Trong số những đại biểu có cả các cựu thành viên mujahadeen, Taliban, cộng sản, những người cải cách, và Những người theo trào lưu chính thống Hồi giáo. 28% đại biểu là phụ nữ, lớn hơn 3% so với con số 25% tối thiểu do hiến pháp quy định. Điều này khiến Afghanistan, một nước từ lâu đã nổi tiếng về sự đàn áp phụ nữ thời Taliban, trở thành một trong những nước đứng đầu về số đại biểu nữ giới.

Địa giới hành chínhSửa đổi

Về hành chính, Afghanistan được chia thành ba tư tỉnh (welayats) và mỗi tỉnh có một trung tâm riêng.

 
Bản đồ thể hiện các tỉnh Afghanistan.
  1. Badakhshan
  2. Badghis
  3. Baghlan
  4. Balkh
  5. Bamiyan
  6. Daykundi
  7. Farah
  8. Faryab
  9. Ghazni
  10. Ghor
  11. Helmand
  12. Herat
  1. Jowzjan
  2. Kabul
  3. Kandahar
  4. Kapisa
  5. Khost
  6. Konar
  7. Kunduz
  8. Laghman
  9. Lowgar
  10. Nangarhar
  11. Nimruz
  1. Nurestan
  2. Oruzgan
  3. Paktia
  4. Paktika
  5. Panjshir
  6. Parvan
  7. Samangan
  8. Sare Pol
  9. Takhar
  10. Wardak
  11. Zabol

Mỗi tỉnh lại được chia tiếp thành quận/huyện và mỗi quận thường gồm một thành phố hay nhiều thị trấn.

Thống đốc tỉnh do Bộ nội vụ và các Quận trưởng cảnh sát chỉ định, người đứng đầu các quận do thống đốc chỉ định. Thống đốc là người đại diện của chính phủ và chịu trách nhiệm về mọi vấn đề hành chính và nghi lễ. Lãnh đạo cảnh sát và an ninh thường do Bộ nội vụ chỉ định và làm việc cùng với Thống đốc để bảo đảm an ninh.

Riêng Kabul là nơi Thị trưởng thành phố do Tổng thống lựa chọn và hoàn toàn độc lập với quận trưởng Tỉnh Kabul.

Lực lượng bảo vệ quốc giaSửa đổi

Afghanistan hiện có lực lượng cảnh sát 60.000 người. Nước này đang đặt kế hoạch tuyển dụng thêm 20.000 sĩ quan cảnh sát khác đưa con số lên tới 80.000 người. Dù về mặt chính thức cảnh sát chịu trách nhiệm giữ gìn trật tự dân sự, các lãnh đạo quân sự địa phương và vùng tiếp tục nắm quyền kiểm soát tại những vùng chưa ổn định. Cảnh sát đã bị buộc tội đối xử không thích hợp và tra tấn các tù nhân. Năm 2003 khu vực ủy nhiệm của Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế, hiện thuộc quyền chỉ huy của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã được mở rộng tới vùng Kabul. Tuy nhiên tại một số vùng không thuộc quyền ủy nhiệm của lực lượng trên, các du kích địa phương vẫn nắm quyền kiểm soát. Ở nhiều vùng, các vụ phạm pháp không thể được điều tra bởi thiếu sự có mặt của lực lượng cảnh sát và/hay hệ thống thông tin liên lạc. Binh lính thuộc Quân đội Quốc gia Afghanistan đã được phái tới giữ gìn an ninh tại những nơi thiếu sự hiện diện của cảnh sát.[75]

Nhân quyềnSửa đổi

Nhà báo ở Afghanistan đối mặt với mối đe dọa từ cả lực lượng an ninh và quân nổi dậy.[76] Ủy ban An toàn Nhà báo Afghanistan (AJSC) năm 2017 tuyên bố rằng chính phủ Afghanistan chiếm 46% các cuộc tấn công vào nhà báo Afghanistan, trong khi quân nổi dậy chịu trách nhiệm cho phần còn lại của các cuộc tấn công.[77]

Đồng tính luyến ái là bất hợp pháp và là một hành vi phạm tội tử hình ở Afghanistan.[78]

Kinh tếSửa đổi

 
Công nhân chế biến lựu (anaar), loại trái cây Afghanistan nổi tiếng ở châu Á

Afghanistan là một nước đang phát triển. Hai phần ba dân số nước này sống với chưa đến 2 dollar Mỹ một ngày. Nền kinh tế đã phải chịu rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ tình trạng bất ổn chính trị và quân sự từ cuộc chiến tranh xâm lược của Xô viết từ năm 1979 và những cuộc xung đột tiếp sau đó, ngoài ra tình trạng hạn hán nặng nề cũng gây rất nhiều khó khăn cho đất nước này trong giai đoạn 1998-2001.[79][80] Tính đến năm 2016, GDP của Afghanistan đạt 18.395 USD, đứng thứ 114 thế giới, đứng thứ 36 châu Á và đứng thứ 6 Nam Á.

Dân số tham gia tích cực vào hoạt động kinh tế năm 2002 khoảng 11 triệu người (trong tổng cộng khoảng 29 triệu). Tuy không có con số chính thức về tỷ lệ thất nghiệp, ước tính khoảng 3 triệu người, và dường như tăng thêm khoảng 300.000 người mỗi năm.[81]

Tuy nhiên, Afghanistan đã đạt được mức hồi phục và tăng trưởng kinh tế đáng khâm phục từ năm 2002. Giá trị GDP thực, không tính thuốc phiện, đã tăng 29% năm 2002, 16% năm 2003, 8% năm 2004 và 14% năm 2005.[82] Một phần ba GDP Afghanistan có từ hoạt động trồng cây anh túc và buôn bán trái phép các loại chất có nguồn gốc hay có dẫn xuất từ thuốc phiện, morphineheroin, cũng như sản xuất hashish.

 
Phụ nữ Afghanistan tại một nhà máy dệt ở Kabul

Một lợi thế khác, những nỗ lực quốc tế nhằm tái thiết Afghanistan đã dẫn tới sự thành lập Chính quyền Lâm thời Afghanistan (AIA), kết quả của Thỏa thuận Bonn tháng 12 năm 2001 Bonn, và sau đó là Hội nghị các Nhà tài trợ cho việc Tái thiết Afghanistan tại Tokyo năm 2002, với 4,5 tỷ dollar được hứa hẹn tài trợ và số vốn này sẽ được Nhóm Ngân hàng Thế giới quản lý. 4 tỷ dollar khác cũng được hứa hẹn cho vay năm 2004 và tiếp đó là 10,5 tỷ dollar đầu năm 2006 tại Hội nghị Luân Đôn.[83] Đầu năm 2007, 11,6 tỷ dollar đã được cam kết tài trợ cho nước này từ riêng Hoa Kỳ. Những lĩnh vực được ưu tiên tái thiết gồm việc tái xây dựng hệ thống giáo dục, sức khoẻ, các cơ sở y tế, tăng cường năng lực quản lý hành chính, phát triển lĩnh vực nông nghiệp và tái thiết đường sá, năng lượng và viễn thông.

Theo một bản báo cáo năm 2004 của Ngân hàng Phát triển châu Á, nỗ lực tái thiết hiện tại tập trung vào hai hướng: thứ nhất chú trọng tái thiết các cơ sở hạ tầng quan trọng và thứ hai, xây dựng các cơ sở hiện đại trong lĩnh vực công cộng từ những tàn dư của kiểu kế hoạch hóa Xô viết sang kiểu hướng mạnh vào phát triển kinh tế thị trường.[81] Năm 2006, hai công ty Hoa Kỳ, Black & Veatch và Louis Berger Group, đã thắng một hợp đồng trị giá 1,4 tỷ dollar xây dựng lại đường sá, các hệ thống cung cấp điện nước cho Afghanistan.[84]

Một trong những định hướng chính của việc khôi phục kinh tế hiện nay là hồi hương cho hơn 4 triệu người tị nạn từ các quốc gia và phương Tây, những người sẽ mang theo về nguồn nhân lực mới, mối quan hệ, tay nghề cũng như nguồn vốn cần thiết cho việc khởi động lại nền kinh tế. Một yếu tố tích cực khác là con số viện trợ từ 2 đến 3 tỷ dollar mỗi năm từ cộng đồng quốc tế, việc hồi phục một phần lĩnh vực nông nghiệp, và việc tái xây dựng các định chế kinh tế. Những kế hoạch phát triển khu vực tư nhân cũng đang được tiến hành. Năm 2006, một gia đình người Afghanistan tại Dubai đã mở một nhà máy đóng chai Coca Cola trị giá 25 triệu dollar tại Afghanistan.[85]

Con số thâm hụt tài khoản vãng lai của nước này hiện được bù đắp phần lớn bởi khoản tiền từ các nhà tài trợ, chỉ một phần nhỏ – khoảng 15% – được lấy từ ngân sách chính phủ. Số còn lại được chia cho các khoản chi tiêu không thuộc ngân sách và những dự án do nhà tài trợ chỉ định thông qua hệ thống Liên hiệp quốc và các tổ chức phi chính phủ. Chính phủ có một quỹ trung ương chỉ 350 triệu dollar năm 2003 và ước tính đạt 550 năm 2004. Tổng dự trữ ngoại tệ quốc gia khoảng 500 triệu dollar. Nguồn thu đa số từ hải quan, bởi các nguồn thuế thu nhập và thuế doanh nghiệp rất nhỏ nhoi.

 
Afghanistan, Xu hướng trong chỉ số phát triển con người, 1970–2010

Lạm phát từng là vấn đề nghiêm trọng tại nước này trước năm 2002. Tuy nhiên, việc hạ giá đồng Afghani năm 2002 sau khi đồng tiền mới được đưa vào lưu hành (1.000 Afghani cũ tương đương 1 Afghani mới) cộng với tình trạng ổn định hơn so với trước kia đã giúp giá cả ổn định và thậm chí giảm bớt trong giai đoạn tháng 12 năm 2002 và tháng 2 năm 2003, phản ánh sự ưa thích với đồng Afghani mới. Kể từ đó, chỉ số lạm phát đã trở nên ổn định, hơi tăng vào cuối năm 2003.[81]

Chính phủ Afghanistan và các nhà tài trợ quốc tế dường như muốn chú trọng vào cải thiện các lĩnh vực nhu cầu then chốt, phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, nhà ở và cải cách kinh tế. Chính phủ trung ương cũng tập trung vào việc cải thiện tình trạng lỏng lẻo trong chi trả lương và chi tiêu công cộng. Việc tái thiết lĩnh vực tài chính dường như cần một thời gian lâu dài để đạt tới thành công. Hiện tiềm có thể được chuyển ra và vào đất nước thông qua các kênh ngân hàng chính thức. Từ năm 2003, hơn mười bốn ngân hàng mới đã được thành lập trong nước, gồm cả Standard Chartered Bank, Afghanistan International Bank, Kabul Bank, Azizi Bank, First MicroFinanceBank, và các ngân hàng khác. Một luật mới về đầu tư tư nhân đã quy định khoảng thời gian ưu đãi thuế từ ba tới bảy năm cũng như khoảng thời gian bốn năm miễn trừ thuế xuất khẩu nhằm khuyến khích các công ty.

Afghanistan là một thành viên đầy đủ của Tổ chức hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) và Tổ chức hợp tác kinh tế (ECO), các tổ chức khu vực, cũng như Tổ chức hội nghị Hồi giáo.

 
Kế hoạch trị giá chín tỷ dollar nhằm phát triển Kabul thành một đô thị hiện đại tương lai, Thành phố ánh sáng.

Một số dự án đầu tư tư nhân, với sự hỗ trợ của nhà nước, cũng đang hình thành tại Afghanistan. Một bản thiết kế ý tưởng ban đầu được gọi là Thành phố ánh sáng, do Tiến sĩ Hisham N. Ashkouri, Giám đốc ARCADD, Inc. đề xuất cho một dự án phát triển và thực hiện dựa trên cơ sở đầu tư hoàn toàn tư nhân đã được đề xuất với mục tiêu hình thành một khu đa chức năng thương mại, lịch sử và phát triển văn hóa bên trong Thành phố Cổ Kabul dọc bờ nam Sông Kabul và dọc Đại lộ Jade Meywand,[86] đem lại sức sốc mới cho một trong những khu vực thương mại và lịch sử quan trọng nhất bên trong Thành phố Kabul, với nhiều thánh đường và lăng mộ lịch sử cũng như các khu vực hoạt động thương mại đã bị tàn phá trong chiến tranh. Trong bản thiết kế này cũng bao gồm một phức hợp cho Bảo tàng Quốc gia Afghanistan.

 
Một con đường chợ nhộn nhịp ở trung tâm Kabul, 2009

Tuy những dự án đó sẽ giúp xây dựng lại một cơ sở căn bản của quốc gia trong tương lai, hiện tại, một nửa dân số vẫn phải sống trong tình trạng thiếu lương thực, quần áo, nhà cửa và các vấn đề khác do các hoạt động quân sự và sự bất ổn chính trị gây ra. Chính phủ không đủ mạnh để thu thuế và phí từ tất cả các tỉnh vì tình trạng lãnh chúa địa phương. Tình trạng gian lận lừa đảo và "tham nhũng xuất hiện trong hàng loạt tổ chức chính phủ Afghanistan.[87]

Điều tốt lành với Afghanistan là nước này có tiềm năng để nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo đói để trở thành một quốc gia ổn định. Nhiều bản báo cáo cho thấy đất nước sở hữu nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản quan trọng, có giá trị trên thị trường thế giới. Theo Nghiên cứu của US Geological và Bộ Công nghiệp và Mỏ Afghanistan, nước này có thể sở hữu tới 36 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên, 3,6 tỷ barrel dầu mỏ và tới 1.325 triệu barrel khí gas hóa lỏng. Điều này có thể đánh dấu bước ngoặt trong những nỗ lực tái thiết Afghanistan. Xuất khẩu dầu mỏ có thể mang lại nguồn thu Afghanistan cần để hiện đại hóa cơ sở hạ tầng và mở rộng các cơ hội kinh tế cho đất nước. Những báo cáo khác cho rằng nước này có khá nhiều nguồn tài nguyên vàng, đồng, than, quặng sắt và các khoáng sản giàu khác.

Nhân khẩuSửa đổi

Dân cư Afghanistan được chia thành nhiều nhóm sắc tộc khác nhau. Vì một cuộc điều tra dân số có hệ thống chưa từng được thực hiện ở nước này trong nhiều thập kỷ, con số chính xác về số lượng và thành phần các nhóm dân tộc hiện chưa được biết.[88] Vì thế những con số dưới đây chỉ có tính ước đoán.[89]

Ngôn ngữSửa đổi

Theo CIA factbook các ngôn ngữ được sử dụng ở Afghanistan gồm: tiếng Ba Tư (chính thức được gọi là Dari, nhưng được biết đến rộng hơn dưới cái tên Farsi) 50% và Pashto 35%; cả hai đều là các ngôn ngữ Ấn-Âu trong ngữ chi Iran. Tiếng Pashto và Ba Tư là các ngôn ngữ chính thức của quốc gia. Tiếng Hazara, của cộng đồng thiểu số Hazara, là một thổ ngữ của tiếng Ba Tư. Các ngôn ngữ khác gồm các ngôn ngữ Turk (chủ yếu là UzbekTurkmen) 9%, cũng như 30 ngôn ngữ nhỏ khác chiếm 4% (chủ yếu gồm Baloch, Nuristan, Pashai, Brahui, các ngôn ngữ Pamir, Hindko, Hindi/Urdu, vân vân.). Số người thạo nhiều ngôn ngữ rất đông.

 
Các ngôn ngữ Afghanistan
  50% Ba Tư (thường là thổ ngữ Dari)
  35% Pashto
  8% Uzbek
  3% Turkmen
  2% Baloch
2% khác (Nuristan, Pashai, Brahui, vân vân.)

Theo Từ điển bách khoa Iran,[90] tiếng Ba Tư là ngôn ngữ mẹ đẻ của khoảng một phần ba dân số Afghanistan, và nó cũng là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong nước, với khoảng 90% dân số. Từ điển bách khoa này cũng cho rằng tiếng Pashto được khoảng 50% dân số sử dụng.

Các nhóm sắc tộcSửa đổi

 
Hai trẻ em ở Kabul

Dưới đây là sự phân bố các nhóm sắc tộc gần đúng dựa trên CIA World Factbook[91]. Từ điển bách khoa toàn thư Anh đưa ra một danh sách nhóm sắc tộc Afghanistan hơi khác:[92]

Dựa trên những con số từ cuộc điều tra dân số thập niên 1960 tới 1980, cũng như thông tin có được từ các học giả,[93] Bách khoa toàn thư Iran đưa ra danh sách sau:[93]

Tôn giáoSửa đổi

Tôn giáo tại Afghanistan[94]
Hồi giáo
  
99.5%
Khác
  
0.5%

Theo tôn giáo, Hơn 99% người dân Afghanistan là người Hồi giáo: khoảng 74-89% thuộc hệ phái Sunni và 9-25% thuộc Shi'a[92][95] (những con số ước tính có thể khác biệt). Có khoảng 30.000 tới 150.000 người Ấn giáo và người đạo Sikh sống tại nhiều thành phố nhưng chủ yếu tại Jalalabad, Kabul, và Kandahar.[96][97]

Tương tự, có một cộng đồng người Do Thái nhỏ tại Afghanistan (Xem Người Do Thái Bukharan) họ đã bỏ chạy khỏi đất nước sau cuộc xâm lược năm 1979 của Xô viết, và ngày nay chỉ duy nhất một người Do Thái là Zablon Simintov, còn ở lại nước này.[98]

Các thành phố lớnSửa đổi

Thành phố duy nhất tại Afghanistan có hơn một triệu dân là thủ đô Kabul. Các thành phố lớn khác gồm: (theo thứ tự dân số) Kandahar, Herat, Mazari Sharif, Jalalabad, GhazniKunduz.

Y tếSửa đổi

 
Một bệnh viện ở Kabul

Theo Chỉ số phát triển con người, Afghanistan là quốc gia kém phát triển thứ 15 trên thế giới. Tuổi thọ trung bình được ước tính là khoảng 60 năm.[99][100] Tỷ lệ sản phụ tử vong của nước này là 396/100.000 ca sinh sống và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh là 66[100] đến 112,8 ca tử vong mỗi 1.000 ca sinh sống.[5] Bộ Y tế Công cộng có kế hoạch cắt giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh xuống còn 400 cho mỗi 100.000 ca sinh sống trước năm 2020. Đất nước này có hơn 3.000 nữ hộ sinh, với thêm 300 đến 400 người được đào tạo mỗi năm.[101]

Có hơn 100 bệnh viện ở Afghanistan,[102] với các phương pháp điều trị tiên tiến nhất hiện có ở Kabul. Viện Y học Trẻ em PhápBệnh viện nhi Indira Gandhi ở Kabul là những bệnh viện nhi hàng đầu trong cả nước. Một số bệnh viện hàng đầu khác ở Kabul bao gồm Bệnh viện JamhuriatBệnh viện Jinnah.[103] Mặc dù vậy, nhiều người Afghanistan tới Pakistan và Ấn Độ để điều trị nâng cao.

Có báo cáo vào năm 2006 rằng gần 60% dân số Afghanistan sống trong vòng hai giờ đi bộ từ cơ sở y tế gần nhất.[104] Tỷ lệ khuyết tật cũng cao ở Afghanistan do hàng thập kỷ chiến tranh.[105] Báo cáo gần đây cho biết khoảng 80.000 người bị mất chi.[106][107] Các tổ chức từ thiện phi chính phủ như Save the ChildrenMahboba's Promise hỗ trợ trẻ mồ côi kết hợp với các cấu trúc chính phủ.[108] Các khảo sát về nhân khẩu học và y tế đang làm việc với Viện nghiên cứu quản lý y tế Ấn Độ và các nghiên cứu khác để thực hiện một cuộc khảo sát ở Afghanistan tập trung vào tỷ lệ sản phụ tử vong và những vấn đề khác.[109]

Giáo dụcSửa đổi

 
Tỷ lệ biết chữ/dân số plus15 theo Viện thống kê UNESCO 1980–2015

Giáo dục ở Afghanistan gồm K–12giáo dục đại học, được Bộ Giáo dụcBộ Giáo dục Đại học giám sát. Có hơn 16.000 trường học trong cả nước và khoảng 9 triệu học sinh. Trong đó, khoảng 60% là nam và 40% nữ. Hơn 174.000 sinh viên đang theo học tại các trường đại học khác nhau trên cả nước. Khoảng 21% trong số này là nữ giới.[110] Cựu Bộ trưởng Giáo dục Ghulam Farooq Wardak đã tuyên bố rằng việc xây dựng 8.000 trường học là cần thiết cho những trẻ em còn lại bị thiếu học tập chính quy.[111]

Các trường đại học hàng đầu ở Afghanistan là Đại học Mỹ ở Afghanistan (AUAF), tiếp theo là Đại học Kabul (KU), cả hai đều nằm ở Kabul. Học viện Quân sự Quốc gia Afghanistan, được mô phỏng theo Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point, là một tổ chức phát triển quân sự bốn năm dành riêng cho các sĩ quan tốt nghiệp cho Lực lượng Vũ trang Afghanistan. Đại học Quốc phòng Afghanistan được xây dựng gần Hồ chứa nước Qargha ở Kabul. Các trường đại học lớn bên ngoài Kabul bao gồm Đại học Kandahar ở phía Nam, Đại học Herat ở phía Tây Bắc, Đại học BalkhĐại học Kunduz ở phía Bắc, Đại học NangarharĐại học Khost ở phía đông. Hoa Kỳ đang xây dựng sáu cơ sở giáo dục và năm trường cao đẳng đào tạo giáo viên trên toàn quốc, hai trường trung học lớn ở Kabul và một trường ở Jalalabad.[110]

Tỷ lệ biết chữ của dân số là 38,2% (nam 52% và nữ 24,2%).[5] Lực lượng an ninh quốc gia Afghanistan được cung cấp các khóa học xóa mù chữ bắt buộc.[112]

Văn hóaSửa đổi

 
Cô gái dân tộc Tajik trong trang phục truyền thống ở Mazar-i-Sharif

Người Afghanistan tự hào về tôn giáo, quốc gia, tổ tiên, và trên tất cả là nền độc lập của họ. Như những người dân vùng cao nguyên khác, người Afghanistan được cho là nhanh nhạy và mến khách, vì họ rất coi trọng danh dự cá nhân, vì sự trung thành với dòng tộc và vị sự sẵn sàng mang theo và sử dụng vũ khí để giải quyết các tranh chấp.[113] Vì các cuộc tranh chấp bộ tộc và những cuộc tàn sát phong kiến đã trở thành một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của họ từ xa xưa, kiểu chủ nghĩa cá nhân tiêu biểu này đã là một trở ngại lớn đối với những kẻ xâm lược từ bên ngoài.

Afghanistan có một lịch sử phức tạp thể hiện qua những nền văn hóa hiện nay của họ cũng như dưới hình thức nhiều ngôn ngữ và công trình kiến trúc khác. Tuy nhiên, nhiều công trình kiến trúc lịch sử quốc gia đã bị tàn phá trong những cuộc chiến gần đây. Hai pho tượng Phật tại Tỉnh Bamiyan đã bị lực lượng Taliban, những kẻ coi đó là sự sùng bái thần tượng, phá huỷ. Các địa điểm nổi tiếng khác gồm các thành phố Kandahar, Herat, GhazniBalkh. Tháp Jam, tại thung lũng Hari Rud, là một địa điểm di sản văn hóa thế giới của UNESCO. Tấm áo choàng của Muhammad được cất giữ bên trong Khalka Sharifa nổi tiếng tại Thành phố Kandahar.

Buzkashi là một môn thể thao quốc gia tại Afghanistan. Nó tương tự như polo và những người chơi cưỡi trên lưng ngựa chia thành hai đội, mỗi bên tìm cách chiếm và giữ xác một con . Chó sói Afghanistan (một kiểu chó đua) cũng có nguồn gốc từ Afghanistan.

Dù tỷ lệ người biết chữ thấp, thi ca Ba Tư đóng một vai trò rất quan trọng trong văn hóa Afghanistan. Thi ca luôn là một môn học quan trọng tại Iran và Afghanistan, tới mức nó đã thống nhất vào trong văn hóa. Văn hóa Ba Tư, từng, và luôn luôn, có ảnh hưởng lớn trong văn hóa Afghanistan. Những cuộc thi thơ giữa cá nhân được gọi là "musha’era" thường xuất hiện trong những người bình dân. Hầu như mọi gia đình đều sở hữu một hay nhiều tập thơ ở mọi kiểu, thậm chí khi chúng không được mang ra đọc thường xuyên.

Các thổ ngữ phía đông của ngôn ngữ Ba Tư thường được gọi là "Dari". Cái tên này xuất xứ từ từ "Pārsī-e Darbārī", có nghĩa Tiếng Ba Tư của các triều đình hoàng gia. Thuật ngữ Darī cổ – một trong những cái tên gốc của ngôn ngữ Ba Tư – was đã được tái sinh trong hiến pháp Afghanistan năm 1964, và có mục tiêu "biểu thị rằng người Afghanistan coi quốc gia của họ là cái nôi của ngôn ngữ. Vì thế, cái tên Fārsī, ngôn ngữ của người Fārs, thường bị tránh nhắc tới. Theo quan điểm này, chúng ta có thể coi sự phát triển của Dari hay văn học Ba Tư trong thực thể chính trị được gọi là Afghanistan."[114]

Nhiều nhà thơ Ba Tư nổi tiếng trong giai đoạn thế kỷ thứ mười đến thế kỷ mười lăm xuất thân từ Khorasan nơi được coi là Afghanistan ngày nay. Đa số họ cũng là các học giả trong nhiều trường phái khác nhau như ngôn ngữ, khoa học tự nhiên, y học, tôn giáo và thiên văn học.

Đa số những nhân vật trên đều là người Ba Tư (Tājīk) theo sắc tộc và đây vẫn là nhóm sắc tộc lớn thứ hai tại Afghanistan. Tương tự, một số nhà thơ và tác gia tiếng Ba Tư hiện đại, những người khá nổi tiếng trong thế giới sử dụng tiếng Ba Tư, gồm Ustad Betab, Qari Abdullah, Khalilullah Khalili,[115] Sufi Ghulam Nabi Ashqari,[116] Sarwar Joya, Qahar Asey, Parwin Pazwak và những người khác. Năm 2003, Khaled Hosseini đã xuất bản cuốn The Kiterunner, dù chỉ là tiểu thuyết nhưng đã thể hiện đa phần lịch sử, chính trị và văn hóa xảy ra tại Afghanistan từ thập niên 1930 tới nay.

Ngoài các nhà thơ và tác gia, nhiều nhà khoa học Ba Tư cũng có nguồn gốc từ nơi hiện được gọi là Afghanistan. Nổi tiếng nhất là Avicenna (Abu Alī Hussein ibn Sīnā), cha ông xuất thân từ Balkh. Ibn Sīnā, người đã tới Isfahan để lập ra một trường y tại đó, được một số học giả coi là "người cha của y học hiện đại". George Sarton đã gọi ibn Sīnā là "nhà khoa học nổi tiếng nhất của Hồi giáo và một trong những người nổi tiếng nhất ở mọi sắc tộc, địa điểm và thời đại". Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông gồm Sách chữa vết thương (The Book of Healing) và Luật lệ ngành y (The Canon of Medicine), cũng được gọi là Qanun. Câu chuyện về Ibn Sīnā thậm chí đã xuất hiện trong văn học hiện đại Anh qua cuốn Thầy thuốc (The Physician) của Noah Gordon, hiện đã được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng. Hơn nữa, theo Ibn al-Nadim, Al-Farabi, một nhà khoa học và triết học nổi tiếng, cũng xuất thân từ Tỉnh Faryab Afghanistan.

Trước khi Taliban lên nắm quyền lực, thành phố Kabul là nơi có nhiều nhạc sĩ bậc thầy cả về âm nhạc truyền thống và hiện đại Afghanistan, đặc biệt trong lễ hội Nauroz. Ở thế kỷ hai mươi Kabul từng là trung tâm văn hóa được coi như Viên ở thế kỷ mười tám và mười chín.

Hệ thống bộ tộc, quy định cuộc sống của hầu hết mọi người bên ngoài các khu đô thị, và có ảnh hưởng mạnh mẽ theo các thuật ngữ chính trị. Những người đàn ông có một lòng trung thành cuồng nhiệt với bộ tộc của mình, tới mức, khi được kêu gọi, họ sẵn sàng tập trung lại với vũ khí trong tay dưới quyền lãnh đạo của người đứng đầu bộ tộc cũng các lãnh đạo dòng họ (Khans). Trên lý thuyết, theo luật Hồi giáo, mọi tín đồ đều phải đứng lên cầm vũ khí theo lời hiệu triệu (Ulul-Amr) của thủ lĩnh.

Heathcote coi hệ thống bộ tộc là cách thức tốt nhất để tổ chức những nhóm người lớn trong một quốc gia với những khó khăn địa lý, và trong một xã hội, từ quan điểm duy vật, có phong cách sống đơn giản.[113]

Phụ nữSửa đổi

Theo Global Rights, gần 90% phụ nữ ở Afghanistan trải qua lạm dụng thể xác, lạm dụng tình dục, lạm dụng tâm lý hoặc cưỡng hôn. Thủ phạm của những tội ác này là gia đình của nạn nhân.[117] Một đề xuất năm 2009 về một đạo luật chống lại bạo lực phụ nữ chỉ có thể được thông qua qua một sắc lệnh của tổng thống.[117]

Năm 2012, Afghanistan đã ghi nhận 240 trường hợp hành quyết để bảo vệ danh dự, nhưng tổng số người được cho là cao hơn nhiều. Trong số các vụ hành quyết để bảo vệ danh dự được báo cáo, 21% được thực hiện bởi chồng của nạn nhân, 7% bởi anh em của họ, 4% bởi cha của họ và phần còn lại bởi những người thân khác.[118][119]

Hôn nhân trẻ em phổ biến ở Afghanistan.[120] Tuổi hợp pháp để kết hôn là 16.[121] Cuộc hôn nhân được ưa thích nhất trong xã hội Afghanistan là anh em họ song song và chú rể thường phải trả giá cô dâu.[122]

Truyền thông và giải tríSửa đổi

Tập tin:TOLOnews Studio.jpg
Studio của TOLOnews tại Kabul

Afghanistan có khoảng 350 đài phát thanh và hơn 200 đài truyền hình[123] gồm RTA TV thuộc sở hữu nhà nước và các kênh tư nhân khác như TOLOShamshad TV. Tờ báo đầu tiên của Afghanistan được xuất bản vào năm 1873,[124] và có hàng trăm cửa hàng in ngày nay.[123] Vào những năm 1920, Radio Kabul đã phát sóng các dịch vụ radio địa phương.[125] Các chương trình truyền hình bắt đầu phát sóng vào đầu những năm 1970. Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, BBCĐài Châu Âu Tự do/Đài Tự do (RFE / RL) phát sóng bằng cả hai ngôn ngữ chính thức của Afghanistan.[126]

Kể từ năm 2002, các hạn chế báo chí đã dần được nới lỏng và phương tiện truyền thông tư nhân đa dạng. Tự do ngôn luận và báo chí được thúc đẩy trong hiến pháp năm 2004, kiểm duyệt bị cấm, mặc dù phỉ báng các cá nhân hoặc sản xuất tài liệu trái với các nguyên tắc của đạo Hồi bị cấm. Năm 2019, Phóng viên không biên giới xếp hạng môi trường truyền thông của Afghanistan đứng thứ 121 trong số 179 theo Chỉ số tự do báo chí, trong đó đứng thứ 1 về khoản hầu hết là miễn phí.[127][128]

Thành phố Kabul đã là nơi sinh sống của nhiều nhạc sĩ, những người làm chủ cả âm nhạc Afghanistan truyền thống và hiện đại. Âm nhạc truyền thống đặc biệt phổ biến trong lễ kỷ niệm Nowruz (Năm mới) và Quốc khánh. Ahmad Zahir, Nashenas, Ustad Sarahang, Sarban, Ubaidullah Jan, Farhad DaryaNaghma là một trong số các nhạc sĩ Afghanistan đáng chú ý.[129] Người Afghanistan từ lâu đã quen với việc xem phim Bollywood Ấn Độ và nghe các bài hát filmi (nhạc phim) của nó. Nhiều ngôi sao điện ảnh Bollywood có nguồn gốc ở Afghanistan như Salman Khan, Saif Ali Khan, Shah Rukh Khan, Aamir Khan, Feroz Khan, Kader Khan, Naseeruddin Shah, Zarine Khan, Celina Jaitly và một số người khác. Một số bộ phim Bollywood đã được quay ở Afghanistan, bao gồm Dharmatma, Khuda Gawah, Escape from TalibanKabul Express.

Ẩm thựcSửa đổi

 
Một số món ăn nổi tiếng của Afghanistan

Ẩm thực Afghanistan chủ yếu dựa trên các loại cây trồng chính của quốc gia như lúa mì, ngô, lúa mạch và gạo. Đi kèm với các mặt hàng chủ lực này là trái cây và rau quả bản địa cũng như các sản phẩm từ sữa như sữa, sữa chua và nước sữa. Cơm Kabuli palaw là món ăn truyền thống của Afghanistan.[130] Đặc sản ẩm thực của quốc gia phản ánh sự đa dạng về dân tộc và địa lý.[131] Afghanistan được biết đến với lựu, nhodưa ngọt chất lượng cao.[132]

Thơ caSửa đổi

Thơ cổ điển Ba Tưtiếng Pashtun là một phần được ưa chuộng của văn hóa Afghanistan. Thứ năm theo truyền thống là "đêm thơ" ở thành phố Herat khi đàn ông, phụ nữ và trẻ em tụ tập và đọc thuộc những bài thơ cổ xưa và hiện đại.[133] Thơ luôn là một trong những trụ cột giáo dục chính trong khu vực đến mức nó đã hòa nhập vào văn hóa. Một số nhà thơ đáng chú ý bao gồm Rumi, Rabi'a Balkhi, Sanai, Jami, Khushal Khan Khattak, Rahman Baba, Khalilullah KhaliliParween Pazhwak.[134]

Thể thaoSửa đổi

 
Đội tuyển bóng đá quốc gia Afghanistan (mặc đồng phục màu đỏ) trong chiến thắng đầu tiên trước Ấn Độ (màu xanh) tại SAFF Championship 2011.
 
Môn thể thao quốc gia truyền thống của Afghanistan, Buzkashi

Thể thao ở Afghanistan được quản lý bởi Liên đoàn thể thao Afghanistan. Cricketbóng đá là hai môn thể thao phổ biến nhất cả nước.[135][136] Liên đoàn thể thao Afghanistan khuyến khích môn cricket, bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền, golf, bóng ném, đấm bốc, taekwondo, cử tạ, thể hình, Điền kinh trong sân vận động, trượt băng, bowling, Snooker, cờ vua và các môn thể thao khác.

Các đội thể thao của Afghanistan đang ngày càng đạt nhiều danh hiệu tại các sự kiện quốc tế. Đội bóng rổ của họ đã giành được danh hiệu thể thao đội đầu tiên tại Đại hội thể thao Nam Á 2010.[137] Cuối năm đó, đội cricket quốc gia sau đó cũng giành được Cúp Liên lục địa ICC 2009–10.[138] Vào năm 2012, đội bóng rổ 3x3 quốc gia đã giành huy chương vàng tại Đại hội thể thao bãi biển châu Á 2012. Vào năm 2013, đội bóng đá của Afghanistan cũng giành được giải vô địch SAFF.[139]

Đội cricket quốc gia Afghanistan, được thành lập năm 2001, đã tham gia Vòng loại World Cup ICC 2009, 2010 ICC World Cricket League Division OneGiải ICC World Twenty20 2010. Họ đã giành được ACC Twenty20 Cup vào các năm 2007, 2009, 2011 và 2013. Cuối cùng, đội đã thành công và chơi ở World Cup Cricket 2015.[140] Hội đồng cricket Afghanistan (ACB) là cơ quan quản lý chính thức của môn thể thao này và có trụ sở tại Kabul. Sân cricket quốc tế Alokozay Kabul đóng vai trò là sân vận động cricket chính của quốc gia. Có một số sân vận động khác trên khắp đất nước như Sân vận động Cricket Quốc tế Ghazi Amanullah Khan gần Jalalabad. Ở trong nước, cricket được chơi giữa các đội từ các tỉnh khác nhau.

Đội tuyển bóng đá quốc gia Afghanistan đã thi đấu quốc tế từ năm 1941.[141] Đội tuyển quốc gia chơi các trận đấu trên sân nhà tại Sân vận động Ghazi ở Kabul, trong khi bóng đá ở Afghanistan được quản lý bởi Liên đoàn bóng đá Afghanistan. Đội tuyển quốc gia chưa bao giờ thi đấu hoặc vượt qua vòng loại cho FIFA World Cup nhưng gần đây đã giành được một danh hiệu bóng đá quốc tế vào năm 2013.[139] Đất nước này cũng có một đội tuyển quốc gia trong môn thể thao futsal, một biến thể 5 mặt của bóng đá.

Môn thể thao truyền thống và là môn thể thao quốc gia của Afghanistan là buzkashi, chủ yếu phổ biến ở miền bắc Afghanistan. Nó tương tự như polo, được chơi bởi kỵ sĩ trong hai đội, mỗi đội cố gắng nắm lấy và giữ một cái xác dê.[142] Chó săn Afghan (một giống chó săn đuổi) có nguồn gốc từ Afghanistan và trước đây được sử dụng trong săn sói. Năm 2002, du khách Rory Stewart báo cáo rằng chó vẫn được sử dụng để săn sói ở những vùng xa xôi.[143]

Cơ sở hạ tầngSửa đổi

Viễn thông và Công nghệSửa đổi

Afghanistan đã tăng cường nhanh chóng công nghệ viễn thông, và đã thành lập các công ty truyền thông không dây, Internet, đài phát thanh cùng các đài truyền hình. Các dịch vụ viễn thông ở Afghanistan được cung cấp bởi Afghan Telecom, Afghan Wireless, Etisalat, MTN GroupRoshan. Quốc gia này sử dụng vệ tinh không gian của riêng mình có tên Afghansat 1, nơi cung cấp dịch vụ cho hàng triệu thuê bao điện thoại, internet và truyền hình. Vào năm 2001 sau những năm nội chiến, viễn thông gần như là một lĩnh vực không tồn tại. Năm 2006, Bộ viễn thông Afghanistan đã ký kết một thỏa thuận trị giá 64,5 triệu dollar Mỹ với một công ty (ZTE Corporation) về việc thành lập một mạng lưới cáp quang rộng khắp quốc gia. Dự án này đã giúp cải thiện các dịch vụ điện thoại, Internet, vô tuyến và truyền thanh trên toàn quốc.[144] Đến năm 2016, viễn thông đã phát triển thành một ngành công nghiệp trị giá 2 tỷ đô la với 22 triệu thuê bao điện thoại di động và 5 triệu người dùng internet. Ngành này sử dụng ít nhất 120.000 người trên toàn quốc.[145]

Giao thôngSửa đổi

Hàng khôngSửa đổi

 
Một chiếc Airbus A310 của Ariana Afghan Airlines năm 2006

Vận tải hàng không ở Afghanistan được cung cấp bởi hãng hàng không quốc gia Ariana Afghanistan Airlines,[146] và bởi công ty tư nhân Kam Air. Các hãng hàng không từ một số quốc gia cũng cung cấp các chuyến bay trong và ngoài nước. Chúng bao gồm Air India, Emirates, Gulf Air, Iran Aseman Airlines, Pakistan International AirlinesTurkish Airlines.

Đất nước này có bốn sân bay quốc tế: Sân bay quốc tế Hamid Karzai (trước đây là Sân bay quốc tế Kabul), Sân bay quốc tế Kandahar, Sân bay quốc tế HeratSân bay quốc tế Mazar-e Sharif. Bao gồm các sân bay nội địa, có 43.[5]

Đường sắtSửa đổi

 
Nút giao đường sắt ở phía bắc Afghanistan trên đường hướng tới Uzbekistan

Đất nước này có ba tuyến đường sắt: một tuyến đường dài 75 km (47 dặm) từ Mazar-i-Sharif đến biên giới Uzbekistan;[147] một tuyến đường dài 10 km (6,2 dặm) từ Toraghundi đến biên giới Turkmenistan (nơi nó tiếp tục là một phần của Đường sắt Turkmen); và một liên kết ngắn từ Aqina qua biên giới Turkmen đến Kerki, dự kiến sẽ được mở rộng hơn nữa trên khắp Afghanistan.[148] Những tuyến này chỉ được sử dụng cho vận chuyển hàng hóa và không có dịch vụ chở khách. Một tuyến đường sắt giữa Khaf, Iran và Herat, phía tây Afghanistan, dành cho cả vận tải hàng hóa và hành khách, đang được xây dựng vào năm 2019.[149][150] Khoảng 125 km (78 dặm) của tuyến sẽ nằm ở phía Afghanistan.[151][152] Có nhiều đề xuất khác nhau cho việc xây dựng các tuyến đường sắt bổ sung trong nước.[153]

Đường bộSửa đổi

Con đường quan trọng nhất ở Afghanistan là Quốc lộ 1, còn được gọi là Đường Vành đai, kéo dài 2.210 km (1.370 dặm) kết nối bốn thành phố lớn: Kabul, Ghazni, Kandahar và Herat.[154] Một phần quan trọng của Quốc lộ 1 là Đường hầm Salang, được hoàn thành vào năm 1964, tạo điều kiện cho việc đi qua dãy núi Hindu Kush và kết nối miền bắc và miền nam Afghanistan.[155] Du lịch bằng xe buýt ở Afghanistan vẫn nguy hiểm do các hoạt động quân sự.[156] Tai nạn giao thông nghiêm trọng phổ biến trên các quốc lộ và đường bộ ở Afghanistan, đặc biệt là trên quốc lộ Kabul–Kandaharquốc lộ Kabul–Jalalabad.[157]

 
Trẻ em trên một chiếc xe tải tại khu buôn bán Kabul (tháng 6 năm 2003).

Afghanistan cũng đã cải thiện chất lượng xe cộ của mình với sự hiện diện của các đại lý Toyota, Land Rover, BMWHyundai trên khắp Kabul, và một khu vực trưng bày xe second-hand từ Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất tại Kandahar. Tuy Afghanistan vẫn còn một chặng đường dài về công nghệ hiện đại phía trước nhưng họ đang tiến bước khá nhanh trên con đường đó.

Giáo dụcSửa đổi

Mùa xuân năm 2003, ước tính 30% trong số 7.000 trường học tại Afghanistan đã bị hư hại nặng nề sau hơn hai thập kỷ nội chiến. Theo báo cáo, chỉ một nửa số trường có nước sạch, và chưa tới 40% có điều kiện vệ sinh thích hợp. Giáo dục cho trẻ em trai không phải là vấn đề được ưu tiên ở thời chính quyền Taliban, trẻ em gái bị cấm tới trường.

Vì tình trạng nghèo đói và bạo lực xung quanh, một cuộc nghiên cứu năm 2002 của Quỹ Cứu trợ Trẻ em cho thấy trẻ em Afghanistan rất nhanh nhạy và dũng cảm. Cuộc nghiên cứu cũng cho thấy những định chế vững chắc trong gia đình và cộng đồng.

Năm 2006, trên khắp đất nước hơn bốn triệu học sinh nam và nữ đã được tới trường. Giáo dục tiểu học hoàn toàn miễn phí và tự do với cả trẻ em trai và gái.

Tỷ lệ biết đọc biết viết toàn quốc ước tính khoảng 36%, tỷ lệ biết đọc viết của nam là 51% nữ là 21%. Hiện nay có 9.000 trường học trên toàn quốc.

Một khía cạnh giáo dục khác đang nhanh chóng thay đổi tại Afghanistan, đó là giáo dục bậc cao. Sau sự sụp đổ của chính quyền Taliban, Đại học Kabul đã mở cửa trở lại cho cả sinh viên nam và nữ. Năm 2006, Đại học Mỹ tại Afghanistan cũng đã mở cửa, với mục tiêu cung cấp các lớp học tiêu chuẩn thế giới, với môi trường giáo dục tốt, sử dụng tiếng Anh tại Afghanistan. Trường đại học nhận cả các sinh viên Afghanistan và từ các nước láng giềng. Công việc xây dựng Đại học Balkh tại Mazari Sharif cũng sẽ sớm bắt đầu. Tòa nhà mới của trường sẽ được xây dựng trên khuôn viên rộng 600 acre với chi phí 250 triệu dollar.[158]

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Article Sixteen of the 2004 Constitution of Afghanistan”. 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2012. Pashto and Dari are the official languages of the state. Uzbek, Turkmen, Baluchi, Pashai, Nuristani and Pamiri are – in addition to Pashto and Dari – the third official language in areas where the majority speaks them 
  2. ^ “the definition of afghan”. www.dictionary.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2018. 
  3. ^ “Afghanistani”, The Free Dictionary, truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2018 
  4. ^ “Country Profile: Afghanistan” (PDF). Library of Congress Country Studies on Afghanistan. Tháng 8 năm 2008. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010. 
  5. ^ a ă â b c d đ “Afghanistan”. The World Factbook. cia.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2018. 
  6. ^ “Afghan Population Estimates 1398” (PDF). Cơ quan Thống kê Trung ương. 2019. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2019. 
  7. ^ a ă â b “Afghanistan”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2019. 
  8. ^ “IEC - World Plugs: List view by location” (bằng tiếng Anh). Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2018. 
  9. ^ “Fragile States Index 2019” (bằng tiếng Anh). Fund for PeaceThe New Humanitarian. Ngày 10 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019. 
  10. ^ “2015 Human Development Report” (PDF). United Nations Development Programme. Ngày 14 tháng 12 năm 2015. tr. 18. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2015. 
  11. ^ “National Birds”. British Bird Lovers (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2019. 
  12. ^ “The Afghan Snow Leopard” (bằng tiếng Anh). The Embassy of Afghanistan in Tokyo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2019. 
  13. ^ “Afghani Symbols” (bằng tiếng Anh). WorldAtlas.com. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2019. 
  14. ^ Morgenstierne, G. (1960). “Khushhal Khan—the national poet of the Afghans”. Journal of the Royal Central Asian Society 47: 49–57. doi:10.1080/03068376008731684. 
  15. ^ Afghanistan Profile, National Geographic (truy cập 20 January 2006).
  16. ^ Afghanistan, CIA Factbook (truy cập 20 January 2006).
  17. ^ Afghanistan, Middle East Institute (truy cập 20 January 2006).
  18. ^ Part of the region bordering Pakistan falls in the disputed Kashmir region which is claimed by India
  19. ^ Ahmad Shah Durrani, Britannica Concise.
  20. ^ "Afghan" (with ref. To "Afghanistan: iv. Ethnography") by Ch. M. Kieffer, Encyclopaedia Iranica Online Edition 2006.
  21. ^ https://www.countrygardenroses.co.uk/about-us/blog/2012-11-09-rose-news-from-around-the-world-72/
  22. ^ extract from "Passion of the Afghan" by Khushal Khan Khattak; translated by C. Biddulph in "Afghan Poetry Of The 17th Century: Selections from the Poems of Khushal Khan Khattak", Luân Đôn, 1890
  23. ^ "Transactions of the year 908" by Zāhir ud-Dīn Mohammad Bābur in Bāburnāma, translated by John Leyden, Oxford University Press: 1921.
  24. ^ M. Longworth Dames/G. Morgenstierne/R. Ghirshman, "Afghānistān", Encyclopaedia of Islam Online Edition
  25. ^ Elphinstone, M., Account of the Kingdom of Cabul and its Dependencies in Persia and India, Luân Đôn 1815; published by Longman, Hurst, Rees, Orme & Brown
  26. ^ E. Bowen, A New & Accurate Map of Persia in A Complete System Of Geography, Printed for W. Innys, R. Ware [etc.], Luân Đôn 1747
  27. ^ E. Huntington, The Anglo-Russian Agreement as to Tibet, Afghanistan, and Persia, Bulletin of the American Geographical Society, Vol. 39, No. 11 (1907)
  28. ^ a ă MECW Volume 18, p. 40; The New American Cyclopaedia - Vol. I, 1858
  29. ^ M. Ali, Afghanistan: The War of Independence, 1919, Kabul [s.n.], 1960
  30. ^ Afghanistan's Constitution of 1923 under King Amanullah Khan (English translation).
  31. ^ Beck, Hylke E.; Zimmermann, Niklaus E.; McVicar, Tim R.; Vergopolan, Noemi; Berg, Alexis; Wood, Eric F. (ngày 30 tháng 10 năm 2018). “Present and future Köppen-Geiger climate classification maps at 1-km resolution”. Scientific Data 5: 180214. Bibcode:2018NatSD...580214B. doi:10.1038/sdata.2018.214. 
  32. ^ * “U.S. maps”. Pubs.usgs.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2012. 
  33. ^ “Composition of macro geographical (continental) regions, geographical sub-regions, and selected economic and other groupings”. UNdata. Ngày 26 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  34. ^ a ă “Afghanistan”. Encyclopædia Britannica. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2010. 
  35. ^ “History of Environmental Change in the Sistan Basin 1976–2005” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2007. 
  36. ^ “Snow in Afghanistan: Natural Hazards”. NASA. Ngày 3 tháng 2 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  37. ^ “Snow may end Afghan drought, but bitter winter looms”. Reuters. Ngày 18 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  38. ^ “Afghanistan's woeful water management delights neighbors”. Csmonitor.com. Ngày 15 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  39. ^ Crone, Anthony J. (tháng 4 năm 2007). Earthquakes Pose a Serious Hazard in Afghanistan (PDF) (Bản báo cáo kỹ thuật). US Geological Survey. Fact Sheet FS 2007–3027. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2011. 
  40. ^ “Earthquake Hazards”. USGS Projects in Afghanistan. US Geological Survey. Ngày 1 tháng 8 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011. 
  41. ^ 'Seven dead' as earthquake rocks Afghanistan”. BBC News. Ngày 19 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011. 
  42. ^ Peters, Steven G. (tháng 10 năm 2007). Preliminary Assessment of Non-Fuel Mineral Resources of Afghanistan, 2007 (PDF) (Bản báo cáo kỹ thuật). USGS Afghanistan Project/US Geological Survey/Afghanistan Geological Survey. Fact Sheet 2007–3063. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011. 
  43. ^ “Minerals in Afghanistan” (PDF). British Geological Survey. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2010. 
  44. ^ “Afghans say US team found huge potential mineral wealth”. BBC News. Ngày 14 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011. 
  45. ^ “Land area (sq. km)”. World Development Indicators. World Bank. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011. 
  46. ^ “CIA Factbook – Area: 41”. CIA. Ngày 26 tháng 11 năm 1991. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012. 
  47. ^ Cary Gladstone (2001). Afghanistan Revisited. Nova Publishers. tr. 121. ISBN 978-1-59033-421-8. 
  48. ^ Sites in Perspective, chapter 3 of Nancy Hatch Dupree, An Historical Guide To Afghanistan.
  49. ^ Afghanistan, Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2006 (specifically John Ford Shroder, B.S., M.S., Ph. D. Regents Professor of Geography and Geology, University of Nebraska. Editor, Himalaya to the Sea: Geology, Geomorphology, and the Quaternary and other books).
  50. ^ Dani, A. H. and B. A. Litvinsky. "The Kushano-Sasanian Kingdom." In: History of civilizations of Central Asia, Volume III. The crossroads of civilizations: A.D. 250 to 750. Litvinsky, B. A., ed., 1996. Paris: UNESCO Publishing, pp. 103-118. ISBN 92-3-103211-9
  51. ^ Zeimal, E. V. "The Kidarite Kingdom in Central Asia." In: History of civilizations of Central Asia, Volume III. The crossroads of civilizations: A.D. 250 to 750. Litvinsky, B. A., ed., 1996, Paris: UNESCO Publishing, pp. 119-133. ISBN 92-3-103211-9
  52. ^ Litvinsky, B. A. "The Hephthalite Empire." In: History of civilizations of Central Asia, Volume III. The crossroads of civilizations: A.D. 250 to 750. Litvinsky, B. A., ed., 1996, Paris: UNESCO Publishing, pp. 135-162. ISBN 92-3-103211-9
  53. ^ Ghubar, Mir Ghulam Mohammad, Khorasan, 1937 Kabul Printing House, Kabul)
  54. ^ "Tajikistan Development Gateway" from History of Afghanistan by the Development Gateway Foundation
  55. ^ "Ghaznavid Dynasty", Encyclopaedia Britannica Online Edition.
  56. ^ "Timurid Dynasty", Encyclopaedia Britannica Online Edition.
  57. ^ "Ašraf Ghilzai" by Prof. D. Balland, Encyclopaedia Iranica Online Edition 2006.
  58. ^ "The Hotakis" in "Afghanistan", Encyclopaedia Britannica.
  59. ^ a ă "The Durranti dynasty" in "Afghanistan", Encyclopaedia Britannica.
  60. ^ The South, chapter 16 of Nancy Hatch Dupree, An Historical Guide To Afghanistan.
  61. ^ Tanner, Stephen (2009). Afghanistan: A Military History from Alexander the Great to the War against the Taliban. Da Capo Press. tr. 126. ISBN 978-0-306-81826-4. 
  62. ^ Nalwa, Vanit (2009). Hari Singh Nalwa, "champion of the Khalsaji" (1791–1837). tr. 198. ISBN 978-81-7304-785-5. 
  63. ^ Chahryar, Adle (2003). History of Civilizations of Central Asia: Development in contrast: from the sixteenth to the mid-nineteenth century. UNESCO. tr. 296. ISBN 978-92-3-103876-1. 
  64. ^ "Afghanistan: History", Columbia Encyclopedia.
  65. ^ Afghanistan, Opium and the Taliban
  66. ^ “Anne Applebaum - Ending an Opium War”. Truy cập 23 tháng 9 năm 2015. 
  67. ^ “35 Countries Where the U.S. Has Supported Fascists, Drug Lords and Terrorists”. Alternet. Truy cập 23 tháng 9 năm 2015. 
  68. ^ “Pentagon can’t account for $1 billion in Afghan reconstruction aid”. mcclatchydc.com. Ngày 23 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2015. 
  69. ^ Patrick Radden Keefe, "Corruption and Revolt", The New Yorker, ngày 19 tháng 1 năm 2015, pp. 30–36.
  70. ^ “Afghan Civilians”. Brown University. 2015. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015. 
  71. ^ Russia accused of supplying Taliban as power shifts create strange bedfellows
  72. ^ https://www.vietnamplus.vn/nga-phu-nhan-viec-cung-cap-vu-khi-cho-luc-luong-taliban/493997.vnp
  73. ^ Taliban threaten 70% of Afghanistan, BBC finds
  74. ^ “Afghan Futures: A National Public Opinion Survey” (PDF). Ngày 29 tháng 1 năm 2015. tr. 4. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017. 
  75. ^ Text used in this cited section originally came from: Afghanistan (Feb 2005) profile from the Library of Congress Country Studies project.
  76. ^ “Afghan journalists 'face increasing attacks and threats' – report”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015. 
  77. ^ “Violence Against Journalists Surges In Afghanistan In 2017”. RFERL. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2017. 
  78. ^ “LGBT relationships are illegal in 74 countries, research finds”. The Independent. Ngày 17 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2019. 
  79. ^ Morales, Victor (ngày 28 tháng 3 năm 2005). “Poor Afghanistan”. Voice of America. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2006. 
  80. ^ North, Andrew (ngày 30 tháng 3 năm 2004). “Why Afghanistan wants $27.6bn”. BBC News. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2006. 
  81. ^ a ă â Fujimura, Manabu (2004) "Afghan Economy After the Election", Asian Development Bank Institute
  82. ^ Macroeconomics & Economic Growth in South Asia, The World Bank.
  83. ^ Government to have greater control over aid pledged in Luân Đôn, irinnews.org.
  84. ^ "Midday Business Report: Black & Veatch unit gains piece of Afghan contract", The Kansas City Star.
  85. ^ "Coca-Cola opens plant in Afghanistan", Contra Costa Times.
  86. ^ Kabul - City of Light Project
  87. ^ The Economist magazine, UK, tháng 10 năm 2005
  88. ^ BBC News - Afghan poll's ethnic battleground - 6 tháng 10 năm 2004
  89. ^ J. Feiser, Asia Times"The ghost of Greater Afghanistan" by J. Feiser, Asia Times, 23 tháng 7 2003
  90. ^ "Afghānistān: (v.) languages" by L. Dupree, Encyclopædia Iranica Online Edition 2006.
  91. ^ CIA World Factbook
  92. ^ a ă Encyclopædia Britannica - Afghanistan...Link (PDF)
  93. ^ a ă L. Dupree, "Afghānistān: (iv.) ethnocgraphy", in Encyclopædia Iranica, Online Edition 2006, (LINK)
  94. ^ http://gulf2000.columbia.edu/images/maps/Afghanistan_Religion_lg.png
  95. ^ Goring, R. (ed): "Larousse Dictionary of Beliefs & Religions" (Larousse: 1994), pg. 581-58, Table: "Population Distribution of Major Beliefs", ISBN 0-7523-0000-8, Note: "... Figures have been compiled from the most accurate recent available information and are in most cases correct to the nearest 1%..."
  96. ^ Hinduism Today: Hindus Abandon Afghanistan
  97. ^ BBC South Asia: Sikhs struggle in Afghanistan
  98. ^ Washingtonpost.com - Afghan Jew Becomes Country's One and Only - N.C. Aizenman
  99. ^ “Afghanistan” (PDF). World Health Organization (WHO). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2017. 
  100. ^ a ă UNESCO, Country profile, https://uis.unesco.org/en/country/af Lưu trữ 2017-06-23 tại Wayback Machine
  101. ^ Peter, Tom A. (ngày 17 tháng 12 năm 2011). “Childbirth and maternal health improve in Afghanistan”. Christian Science Monitor. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012. 
  102. ^ “Afghanistan National Hospital Survey” (PDF). Afghan Ministry of Health. Tháng 8 năm 2004. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. 
  103. ^ Gul, Ayaz (ngày 20 tháng 4 năm 2019). “Pakistan-funded Afghan Hospital Begins Operations”. VOA News. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. It opens a new chapter in the friendship of the two countries... This is the second-largest hospital [in Afghanistan] built with your support that will serve the needy," Feroz told the gathering. 
  104. ^ “Health”. United States Agency for International Development (USAID). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2010. 
  105. ^ Anne-Marie DiNardo, LPA/PIPOS (ngày 31 tháng 3 năm 2006). “Empowering Afghanistan's Disabled Population – ngày 31 tháng 3 năm 2006”. Usaid.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2012. 
  106. ^ Richard Norton-Taylor (ngày 13 tháng 2 năm 2008). “Afghanistan's refugee crisis 'ignored'. Guardian (London). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2012. 
  107. ^ "Afghanistan: People living with disabilities call for integration Lưu trữ 2011-09-20 tại Wayback Machine
  108. ^ Virginia Haussegger Mahooba's Promise ABC TV 7.30 Report. 2009. ABC.net.au. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2009. Lưu trữ 2013-07-26 tại Wayback Machine
  109. ^ “Afghanistan”. Measuredhs.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  110. ^ a ă “Education”. USAID. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  111. ^ “Wardak seeks $3b in aid for school buildings”. Pajhwok Afghan News. Ngày 18 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  112. ^ “Rising literacy in Afghanistan ensures transition”. Army.mil. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012. 
  113. ^ a ă Heathcote, Tony (1980, 2003) "The Afghan Wars 1839 - 1919", Sellmount Staplehurst
  114. ^ "Modern literature of Afghanistan" by R. Farhādī, Encyclopaedia Iranica, xii, Online Edition.
  115. ^ Afghanmagazine.com - Ustad Khalilullah Khalili - 1997
  116. ^ Afghanmagazine.com - Kharaabat - by Yousef Kohzad - 2000
  117. ^ a ă “Afghanistan: No Country for Women | International Women's Day | Al Jazeera”. www.aljazeera.com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2019. 
  118. ^ “240 cases of honor killing recorded in Afghanistan”. khaama.com. Ngày 9 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013. 
  119. ^ “AIHRC: 400 rape, honor killings registered in Afghanistan in 2 years”. latinbusinesstoday.com. Ngày 10 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013. 
  120. ^ Bahgam, S; Mukhatari (2004). “Study on Child Marriage in Afghanistan” (PDF). Medica Mondiale: 1–20. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014. 
  121. ^ “Afghanistan Has a Tougher Law on Child Marriage than Florida”. Human Rights Watch. Ngày 20 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2019. In Afghanistan girls can marry at 16, or at 15 with permission from their father or a judge. 
  122. ^ Dupree 1997, tr. 122, 198.
  123. ^ a ă “Suspects Sentenced To Death For Killing Journalist in Kandahar”. TOLOnews. Ngày 16 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2019. 
  124. ^ Dupree 1997, tr. 405.
  125. ^ Monica Whitlock (ngày 24 tháng 10 năm 2003). Land Beyond the River: The Untold Story of Central Asia. St. Martin's Press. tr. 127. ISBN 978-0-312-27727-7. 
  126. ^ “Freedom of the Press 2016: Afghanistan”. Freedom House. 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2016. 
  127. ^ “Afghanistan”. Reporters Without Borders. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2019. 
  128. ^ “Afghanistan Descends 3 Points on Press Freedom Index”. TOLOnews. Ngày 19 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2019. 
  129. ^ “Artist Biographies”. Afghanland.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2011. 
  130. ^ Ali, Tanveer (ngày 31 tháng 7 năm 2012). “Everything You Need To Know About Afghan Food”. foodrepublic. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2013. 
  131. ^ Brittin, Helen (2011). The Food and Culture Around the World Handbook. Boston: Prentice Hall. tr. 20–21. 
  132. ^ “Rare Heirloom Seeds – Baker Creek Heirloom Seeds”. Baker Creek Heirloom Seeds. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013. 
  133. ^ “Afghanistan: 10 facts you may not know”. Ngày 6 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018 – qua www.bbc.co.uk. 
  134. ^ “Classical Dari and Pashto Poets”. Afghan-web.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012. 
  135. ^ Uthra Ganesan (11 tháng 1 năm 2016). “Cricket is now the biggest sport in Afghanistan”. The Hindu. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2019. 
  136. ^ “Sport in Afghanistan”. Top End Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2019. 
  137. ^ “South Asian Games: Shooters, swimmers shine as India consolidate dominance”. Times of India. 5 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. 
  138. ^ “2009–10 Intercontinental Cup”. CricketEurope. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. 
  139. ^ a ă Lyse, Doucet (12 tháng 9 năm 2013). “Precious moments of unity touch Afghans after football triumph”. BBC News. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. 
  140. ^ “Afghanistan Makes History in Cricket World Cup, Despite Debut Loss to Bangladesh”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. 
  141. ^ “Statistics: Iran”. Team Melli. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. 
  142. ^ Abi-Habib, Maria; Fazly, Walid (13 tháng 4 năm 2011). “In Afghanistan's National Pastime, It's Better to Be a Hero Than a Goat”. The Wall Street Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011. 
  143. ^ Stewart, Rory (2007). The Places in Between. HMH Books. tr. 100. ISBN 978-0-15-603593-4. 
  144. ^ Ministry signs contract with Chinese company, Pajhwok Afghan News.
  145. ^ “Connecting Afghanistan: The rise of technology in governance and society – The Embassy of Afghanistan in London”. afghanistanembassy.org.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2018. 
  146. ^ “EU To Impose Ban on Afghan Planes”. Airwise News. 22 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. Kabul-based Safi is the country's No. 2 airline after national carrier Ariana Afghan Airlines 
  147. ^ “Hairatan to Mazar-i-Sharif railway – Railways of Afghanistan”. www.andrewgrantham.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018. 
  148. ^ “Afghan-Turkmenistan railroad inaugurated”. www.pajhwok.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2018. 
  149. ^ “Khaf-Herat railroad to be launched in Iran soon”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2018. "Iran-Afghanistan railway networks through Khaf-Herat Railroad will be completed in the next few months," Yazdani said, according to Mehr news agency on August 3 
  150. ^ “Iran Strongly Condemns Herat Railway Mine Blast”. Iran Front Page. 20 tháng 5 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019. 
  151. ^ “Rail Linkup With Afghanistan by March 2018”. Ngày 25 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018. 
  152. ^ “Khaf-Herat railway”. RaillyNews | Dailly Railway News in English. 10 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  153. ^ “Railways of Afghanistan -Afghan railroads, past, present and future”. www.andrewgrantham.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  154. ^ Qayoom Suroush (16 tháng 1 năm 2015). “Going in Circles: The never-ending story of Afghanistan's unfinished Ring Road”. Afghanistan Analysts Network. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019. 
  155. ^ Cary Gladstone (2001). Afghanistan Revisited. Nova Publishers. tr. 122. ISBN 978-1-59033-421-8. 
  156. ^ “Driving in Afghanistan”. Caravanistan. Caravanistan. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2016. 
  157. ^ “Afghan bus crash kills 45”. theguardian.com. 26 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2014. 
  158. ^ Pakistan grants $10m for Balkh University, Pajhwok Afghan News.

Tham khảoSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

  1. ^ [1]