Thành Cát Tư Hãn

Là một Khả hãn Mông Cổ và là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ. Ông là một trong những nhà quân sự lỗi lạc và có ảnh hưởng nhất lịch sử thế giới, được người Mông Cổ kính trọng

Thành Cát Tư Hãn (tiếng Mông Cổ: ᠴᠢᠩᠭᠢᠰ
ᠬᠠᠭᠠᠨ
, Chuyển tự Latinh: Činggis qaγan, Âm dịch chữ Hán: 成吉思汗, chữ Mông Cổ: Чингис хаан, Çingis hán; tiếng Mông Cổ: [tʃiŋɡɪs xaːŋ] () (1162 - 1227) là người sáng lập đế quốc Mông Cổ sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập ở vùng Đông Bắc Á năm 1206.

Thành Cát Tư Hãn
成吉思汗 Cinggis qagan.svg
Đại Hãn của đế quốc Mông Cổ
YuanEmperorAlbumGenghisPortrait.jpg
Chân dung Thành Cát Tư Hãn, lưu trữ tại Bảo tàng Cố cung Quốc lập tại Đài Loan
Đại Hãn Mông Cổ
Trị vì1206 – 1227
Kế nhiệm Oa Khoát Đài
Thông tin chung
Sinh1162
Khentii, Mông Cổ
Mất1227 (65 tuổi)
Lục Bàn Sơn, Trung Hoa
Tên đầy đủ
Thiết Mộc Chân (鐵木真(ᠲᠡᠮᠦᠵᠢᠨ))
Thụy hiệu
Pháp Thiên Khải Vận Thánh Vũ Hoàng Đế
(法天啟運聖武皇帝)
Miếu hiệu
Thái Tổ (太祖)
Tước hiệuThành Cát Tư Hãn
(成吉思汗, Cinggis qagan.svg)
Hoàng tộcBột Nhi Chỉ Cân
Thân phụDã Tốc Cai
Thân mẫuHạ Ngạch Luân

Ông là một trong những nhà quân sự lỗi lạc và có ảnh hưởng nhất lịch sử thế giới, được người Mông Cổ dành sự kính trọng cao nhất. Tháng 10/1266, Hốt Tất Liệt - hoàng đế khai quốc của nhà Nguyên, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn truy tôn ông miếu hiệu Nguyên Thái Tổ, thụy hiệu Thánh Vũ Hoàng Đế. Năm 1309, Nguyên Vũ Tông gia thụy thành Pháp Thiên Khải Vận Thánh Vũ Hoàng Đế.

Các cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn trên khắp khu vực Á - Âu đã đem lại thống nhất và phát triển giao lưu buôn bán. Ông cũng là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên trên thế giới thi hành tự do tôn giáo. Nhưng ông cũng nổi tiếng bởi sự tàn bạo, bị nhiều dân tộc coi là hiện thân của ác quỷ, nhất là từ Trung Á, Đông ÂuTrung Đông (những nơi bị quân Mông Cổ thảm sát hàng loạt). Ước tính, quân đội Mông Cổ đã giết hơn 40 triệu người tại các lãnh thổ mà họ xâm chiếm[1].

Có nhiều nhân vật nổi tiếng được cho là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, như Thiếp Mộc Nhi, người lập ra đế quốc Timurid; Babur, người sáng lập đế quốc Mông Cổ trong lịch sử Ấn Độ. Những hậu duệ khác của Thành Cát Tư Hãn còn cai trị Mông Cổ đến thế kỷ XVII rồi bị nhà Thanh thu phục.

Thời kỳ đầuSửa đổi

Thân thếSửa đổi

Tên thật của ông là Thiết Mộc Chân (tiếng Mông Cổ: ᠲᠡᠮᠦᠵᠢᠨ, Chuyển tự Latinh: Temüǰin, Mông Cổ bí sử ký âm: 帖木真, chữ Mông Cổ: Тэмүжин), sinh năm 1162 (có nguồn khác ghi là năm 1155),[2]họ Bột Nhi Chỉ Cân[3] (tiếng Mông Cổ: ᠪᠣᠷᠵᠢᠭᠢᠨ, Chuyển tự Latinh: Borǰigin, Mông Cổ bí sử ký âm: 孛儿只斤, chữ Mông Cổ: Боржигин/Борджигин), là con trai trưởng của Dã Tốc Cai, thủ lĩnh bộ lạc Khất Nhan[4] với bà Hạ Ngạch Luân từ bộ lạc Oát Lặc Hốt Nột. Gia thế của ông thuộc hàng danh giá nhất tại Mông Cổ, là hậu duệ của Cáp Bất Lặc Hãn - vị Khả Hãn đã thống nhất các bộ lạc Mông Cổ thành liên minh đối chọi với nhà Kim, nhưng đã phân rã và bị nhà Kim thống trị lại sau khi người kế vị là Yêm Ba Hài Hãn, ông nội của Thiết Mộc Chân bị bộ lạc Thát Đát bán đứng cho nhà Kim.

Vào thời điểm bà Hạ Ngạch Luân mang thai ông, thủ lĩnh bộ lạc Thát Đát là Thiết Mộc Chân Ngột Cách đã bị cha ông đánh bại. Theo truyền thống Mông Cổ, người cha sẽ lấy tên vị tướng quân mà mình đánh bại để đặt tên cho con. Đó có thể là lý do khả dĩ nhất cho nguồn gốc cái tên Thiết Mộc Chân của ông.[5]

Tuổi thơSửa đổi

Năm 9 tuổi, Thiết Mộc Chân được cha đưa về bộ lạc Oát Lặc Hốt Nột để hỏi vợ tương lai. Trên đường đi, hai người gặp Đức Tiết Thiền - thủ lĩnh bộ lạc Hoằng Cát Lạt. Ông ta ngay lập tức quý mến Thiết Mộc Chân, liền gả con gái Bột Nhi Thiếp cho Thiết Mộc Chân nhưng yêu cầu cậu ở rể đến năm 12 tuổi theo phong tục Mông Cổ[6]. Dã Tốc Cai đồng ý và quay về một mình.

Trên đường về, Dã Tốc Cai bị người Thát Đát đầu độc và qua đời. Thiết Mộc Chân phải tạm biệt gia đình Bột Nhi Thiếp để về chịu tang và tiếp quản vị trí thủ lĩnh. Nhưng các bô lão cho rằng không thể trao quyền đứng đầu cho một đứa nhóc nên đã bầu Tháp Nhĩ Hốt Đài, thuộc tướng của Dã Tốc Cai làm thủ lĩnh mới. Sau khi nắm quyền, Tháp Nhĩ Hốt Đài liền trở mặt và đuổi gia đình Thiết Mộc Chân ra khỏi bộ lạc. Gia đình Thiết Mộc Chân từ đó trở nên nghèo khó, sống nhờ câu cá, hái lượm và săn bắn[7]. Nhưng trong hoàn cảnh đó, ông đã học được bài học từ sống sót trong điều kiện khắc nghiệt tới sự cần thiết của thống nhất.

Năm 15 tuổi, Thiết Mộc Chân giờ đã là trụ cột gia đình. Còn Tháp Nhĩ Hốt Đài sau nhiều năm thì bắt đầu lo lắng Thiết Mộc Chân khi trưởng thành có thể quay về đòi lại vị trí thủ lĩnh. Vì vậy hắn cho binh lính lùng sục khắp thảo nguyên để trừ khử gia đình Thiết Mộc Chân, và họ bị phát hiện khi đang đi săn trong rừng. Thiết Mộc Chân phải để mẹ và các em chạy theo một hướng, còn mình chạy theo hướng khác, giúp gia đình chạy trốn an toàn. Ông sau đó bị bắt và bị đối xử như một tên tội phạm. Nhưng Thiết Mộc Chân biết trong bộ lạc vẫn còn những người trung thành với cha mình, nên lợi dụng đêm tối, đánh bất tỉnh lính canh rồi chạy vào nhà một người bạn cũ của Dã Tốc Cai, được ông ta giấu kín trong nhà, cho ăn uống và mượn quần áo cùng ngựa để chạy trốn. Thiết Mộc Chân gặp lại gia đình ở chân núi Bất Nhi Hãn. Họ quyết định di cư sang phía bên kia dãy núi để tránh tai mắt của Tháp Nhĩ Hốt Đài. Về phần ân nhân của Thiết Mộc Chân, con gái ông ta sau này trở thành vương phi của Thiết Mộc Chân, còn con trai Xích Lão Ôn trở thành một trong những vị tướng lừng danh dưới trướng Thành Cát Tư Hãn.

Một lần, đàn ngựa của gia đình Thiết Mộc Chân bị mất trộm. Thiết Mộc Chân vừa đi săn về, nghe tin dữ thì lập tức đuổi theo bọn cướp. Trên đường, ông kết giao với một thanh niên tên Bác Nhĩ Thuật, và họ đã cùng nhau lấy lại đàn ngựa. Ông sau đó cùng Bác Nhĩ Thuật kết nghĩa huynh đệ. Bác Nhĩ Thuật sau này là một trong những khai quốc công thần của đế quốc Mông Cổ và là cận thần đáng tin cậy của Thành Cát Tư Hãn.

Năm 17 tuổi, Thiết Mộc Chân tìm về bộ lạc Hoằng Cát Lạt để cưới Bột Nhi Thiếp. Nhưng ít lâu sau, bộ lạc Miệt Nhĩ tấn công nơi ở của Thiết Mộc Chân để trả thù cho thủ lĩnh của họ năm xưa bị Dã Tốc Cai cướp vợ (bà Hạ Ngạch Luân) và bắt cóc Bột Nhi Thiếp. Ông phải cầu viện người anh em kết nghĩa Trác Mộc Hợp vàc người cha nuôi Thoát Lý để giải cứu vợ mình. Nhưng trong lúc bị bắt giữ, Bột Nhi Thiếp đã mang thai con đầu lòng Truật Xích, khiến mọi người nghi ngờ Truật Xích không phải con của Thiết Mộc Chân. Nhưng Thiết Mộc Chân thay vì nghe lời khuyên của mọi người là giết đứa bé, đã giữ Truật Xích lại và nghiêm cấm mọi người bàn tán về thân thế cậu con cả. Nhưng Truật Xích và hậu duệ của ông không bao giờ được coi là người kế vị và bản thân Truật Xích cũng gặp rắc rối với người trong gia tộc, nhất là cậu em thứ Sát Hợp Đài, khiến chính người cha vĩ đại của mình cũng phải bất lực. Bên cạnh Truật Xích và Sát Hợp Đài, Bột Nhi Thiếp còn sinh 2 người con trai khác Oa Khoát ĐàiĐà Lôi cùng 5 con gái.

Thống nhất Mông CổSửa đổi

 
Châu Á vào khoảng năm 1200.

Mông Cổ cuối TK XII, đầu TK XIII phân chia giữa các bộ lạc: Nãi Man, Miệt Nhĩ, Thát Đát, Khất Nhan, Duy Ngô Nhĩ, Khắc Liệt...thường xuyên xung đột lẫn nhau. Nhưng tất cả là do chính sách "chia để trị" của nhà Kim nhằm kích động xung đột, không để các bộ lạc liên minh như Cáp Bất Lặc Hãn từng làm trước kia.

Thiết Mộc Chân bắt đầu sự nghiệp bằng việc liên minh với người bạn cũ của cha là Thoát Lý, còn gọi là Vương Hãn, thủ lĩnh bộ lạc Khắc Liệt, và được ông ta nhận làm con nuôi. Khi Bột Nhi Thiếp bị bắt, Thoát Lý cho Thiết Mộc Chân mượn 2 vạn quân và mời cả Trác Mộc Hợp, thủ lĩnh bộ lạc Trát Đạt Lan, anh em kết nghĩa với Thiết Mộc Chân cùng tham gia. Sau khi giải cứu vợ và đánh bại người Miệt Nhĩ, Thiết Mộc Chân đưa gia đình đi theo Trác Mộc Hợp. Nhưng giữa 2 người lại nảy sinh mâu thuẫn về phân chia quyền lợi, đất đai và cách quản lý bộ lạc.

Trong thời gian dưới trướng Trác Mộc Hợp, Thiết Mộc Chân tỏ rõ tài năng và tinh thần cầu tiến, được mọi người nể trọng. Trong các cuộc đàm đạo, ông thể hiện khát vọng thống nhất Mông Cổ, xây dựng quốc gia độc lập. Tiếng tăm của ông vang xa khiến Trác Mộc Hợp nghi ngại. Cuối cùng, ông ta lấy cớ đuổi khéo Thiết Mộc Chân ra khỏi bộ lạc. Thiết Mộc Chân rời đi, xây dựng thế lực riêng, thanh thế ngày một lớn, nhân tài đi theo ngày một đông. Trong số đó có Tốc Bất ĐàiGiả Lặc Miệt - 2 trong số những mãnh tướng lừng danh nhất Mông Cổ sau này.

Năm 1189, các thủ lĩnh Mông Cổ mở hội nghị để tái lập liên minh và bầu Thiết Mộc Chân làm Khả Hãn, khiến Trác Mộc Hợp vô cùng căm tức và Thoát Lý cảm thấy bất an Thiết Mộc Chân sau khi trở thành Khả Hãn liền đến gặp Thoát Lý, thể hiện bản thân vẫn trung thành với cha nuôi, khiến ông ta phần nào yên tâm. Nhưng Trác Mộc Hợp trong cơn giận dữ đã đem 3 vạn quân tấn công Thiết Mộc Chân. Thế lực Thiết Mộc Chân dù đang lớn mạnh nhưng chỉ có hơn 1 vạn quân, và phải chịu thất bại. Dù thắng trận, nhưng việc Trác Mộc Hợp đối xử tàn nhẫn và xử tử tù binh một cách dã man khiến nhiều tướng sĩ bất mãn và chạy sang đầu quân cho Thiết Mộc Chân. Trong số đó có Mộc Hoa Lê - vị tướng huyền thoại của Mông Cổ, có công rất lớn trong cuộc chiến với nhà Kim sau này.

Các kẻ thù chính của liên minh Mông Cổ khoảng năm 1190 - 1200 là Nãi Man, Miệt Nhĩ, Thát Đát, nước Tây Hạ và nhà Kim. Năm 1190, Thiết Mộc Chân tái lập liên minh gồm bạn bè và thuộc tướng của cha ông khi xưa. Năm 1197, Thiết Mộc Chân cùng cha nuôi Thoát Lý liên minh với nhà Kim đánh bộ lạc Thát Đát. Nhờ góp công lớn, ông được Kim Chương Tông ban một chức quan võ, danh nghĩa là giúp nhà Kim cai quản Mông Cổ, khiến uy danh của ông vang khắp thảo nguyên và nhiều bộ lạc nhỏ xin quy phục ông. Cách cai trị của Thiết Mộc Chân trong lãnh địa của mình khác với truyền thống Mông Cổ khi ủy quyền cho những ai xứng đáng và trung thành chứ không dựa vào quan hệ. Ngoài ra, để đảm bảo sự phục tùng tuyệt đối, Thiết Mộc Chân yêu cầu tướng sĩ nộp lại chiến lới phẩm sau mỗi cuộc chiến với cam kết sẽ ban thưởng xứng đáng. Khi đánh bại các bộ lạc khác, ông đặt binh lính và người dân của các bộ lạc đó dưới sự bảo hộ của mình. Mẹ ông còn nhận trẻ mồ côi từ các bộ lạc đó để nuôi. Một trong sỗ những đứa trẻ đó là Bác Nhĩ Hốt - sau này cũng là vị tướng tài năng giúp Thiết Mộc Chân thống nhất Mông Cổ, nhưng không may tử trận trong chiến dịch bình định các bộ lạc phía Bắc.

Năm 1201, hội nghị do thủ lĩnh các bộ lạc đối đầu với Thiết Mộc Chân tổ chức, bầu Trác Mộc Hợp làm Cổ Nhi Hãn, liên minh tấn công Thiết Mộc Chân, nhưng bị Thiết Mộc Chân và Thoát Lý đánh bại, Trác Mộc Hợp phải hàng Thoát Lý. Trong trận chiến, một viên tướng phe địch bắn trúng Thiết Mộc Chân, khiến ông thương nặng nhưng may mắn không chết. Viên tướng náy sau đó bị bắt và giải đến chỗ Thiết Mộc Chân. Nhưng anh ta thay vì tỏ ra thù địch, lại thể hiện sự ngưỡng mộ Thiết Mộc Chân và thề sẽ làm thuộc hạ trung thành của ông nếu được tha chết. Thiết Mộc Chân bị ấn tượng trước tài năng và sự chân thành của viên tướng này, bỏ qua chuyện cũ và trọng dụng anh ta, còn ban cho cái tên mới là Triết Biệt, nghĩa là "Mũi tên" trong tiếng Mông Cổ. Triết Biệt sau này cũng là vị tướng huyền thoại, góp công lớn trong chiến dịch chinh phục Tây Âu.

Không lâu sau, Thiết Mộc Chân hỏi cưới Truật Xích với con gái của Thoát Lý, giúp 2 bên thêm gắn bó, nhưng bị từ chối với lý do Thiết Mộc Chân là con, ngang hàng với con gái ông ta, nên hôn nhân này sẽ là cháu lấy cô, không phải phép, khiến 2 bên có dấu hiệu rạn nứt. Thiết Mộc Chân cố hàn gắn bằng đề nghị gả con gái mình cho cháu trai của Thoát Lý. Ông ta toan đồng ý nhưng bị con trai là Tang Côn và Trác Mộc Hợp ngăn cản, nên lại từ chối, khiến quan hệ 2 bên thêm xấu đi, vì con gái bị từ chối gả cưới là hành động không tôn trọng trong văn hóa Mông Cổ. Tang Côn sẵn ghen tức Thiết Mộc Chân nên lập mưu ám sát ông. Thoát Lý dù là nghĩa phụ, được Thiết Mộc Chân cứu mạng nhiều lần, lại làm ngơ chuyện này[8]. Thiết Mộc Chân biết được ý đồ nên thoát chết, nhưng quan hệ 2 bên tan vỡ và cuộc chiến nổ ra vào năm 1203. Thoát Lý liên minh với Trác Mộc Hợp, nhưng sau lại nảy sinh mâu thuẫn, cộng thêm việc Thiết Mộc Chân lôi kéo các bộ lạc liên minh với Thoát Lý về phía mình khiến cán cân thay đổi, và Thoát Lý thất bại. Ông ta chạy tới bộ lạc Nãi Man, nhưng bị binh lính Nãi Man giết chết. Bộ lạc Khắc Liệt bị phân rã và chịu sự cai quản của Thiết Mộc Chân.

 
Thành Cát Tư Hãn

Mục tiêu cuối cùng của Thiết Mộc Chân là bộ lạc Nãi Man, nơi Trác Mộc Hợp và tàn dư bộ lạc bị Thiết Mộc Chân đánh bại chạy tới nương tựa, nhưng vẫn bị Thiết Mộc Chân đánh bại vào cuối năm 1204, giúp ông trở thành thủ lĩnh duy nhất của Mông Cổ. Cũng trong lần chinh phạt này, Thiết Mộc Chân thu nạp một học giả dưới trướng Thái Dương Hãn - thủ lĩnh bộ lạc Nãi Man, yêu cầu ông ta tạo ra chữ viết riêng của người Mông Cổ, và ông ta cũng đảm nhiệm dạy học cho tướng lĩnh và gia đình Thiết Mộc Chận

Theo Bí sử Mông Cổ, Trác Mộc Hợp sau thất bại của Nãi Man phải bỏ chạy để tránh bị truy sát. Nhưng hắn lại bị thuộc hạ phản bội và giao nộp cho Thiết Mộc Chân. Nhưng Thiết Mộc Chân không nỡ xuống tay với người anh em kết nghĩa nên tha chết và đề nghị Trác Mộc Hợp buông bỏ hận thù mà cùng nhau xây dựng Mông Cổ. Ông còn hạ lệnh xử tử những kẻ bán đứng Trác Mộc Hợp vì tội tạo phản. Tuy nhiên, Trác Mộc Hợp cảm thấy quá nhục nhã nên từ chối và đề nghị được chết một cách cao quý theo tập quán là chết không rơi máu. Thiết Mộc Chân dù đau lòng nhưng vẫn phải đáp ứng.

Năm 1206, sau khi thống nhất Mông Cổ, Thiết Mộc Chân lên ngôi Đại Hãn tại hội nghị Khố Lý Đài, tuyên bố lập ra Đại Mông Cổ Quốc, lấy hiệu là Thành Cát Tư Hãn (trong tiếng Mông Cổ thì Чингис Хаан có nghĩa là vua của cả thế giới).

Thành lập đế chế và bành trướng lãnh thổSửa đổi

 
Những cuộc hành quân lớn của Thành Cát Tư Hãn.

Sau khi thống nhất Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn nắm trong tay hơn 1 triệu dân cùng gần 10 vạn quân. Tất cả tướng sĩ theo ông chinh chiến, dù còn sống hay đã hy sinh, đều được ban thưởng xứng đáng. 8 người có công lao lớn nhất: Bác Nhĩ Thuật, Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn và Bác Nhĩ Hốt - 4 vị quân sư hay "Tứ Kiệt"; Tốc Bất Đài, Giả Lặc Miệt, Hốt Tất Lai và Triết Biệt - 4 võ tướng hay "Tứ Mãnh", đều được phong "Vạn hộ tướng" chỉ huy 1 vạn quân. Ông còn lập đội cận vệ 1 vạn người do em trai Cáp Tát Nhi làm chỉ huy và lập ra mạng lưới truyền tin bằng ngựa với các trạm liền nhau, giúp tin tức được gửi đi liên tục và nhanh chóng. Bên cạnh cải cách quân sự, Thành Cát Tư Hãn còn phổ biến dạy chữ Mông Cổ cho toàn bộ người dân và đề ra bộ luật Yassa, yêu cầu mọi người dân trong lãnh thổ Mông Cổ phải tuyệt đối tuân thủ, và giao cho em trai Biệt Lặc Cổ Đài giám sát việc thi hành luật pháp của dân chúng và quân đội. Ông còn khuyến khích người dân của các bộ lạc trước kia kết hôn với nhau để tạo sự đoàn kết và ràng buộc về huyết thống và quan hệ họ hàng.

Trung HoaSửa đổi

Thành Cát Tư Hãn đã đề ra nhiều chính sách giúp Mông Cổ phát triển cả về quân sự, chính trị và văn hóa. Tuy vậy, tình trạng bùng nổ dân số dẫn đến nguồn cung cấp lương thực và tài nguyên cạn kiệt, khiến ông nhắm đến những vùng đất bên ngoài thảo nguyên, cụ thể là Trung Nguyên mà gần nhất là nhà Kim. Nhưng vì thời cơ chưa tới nên ông nhắm đến Tây Hạ, vừa để phá vỡ liên minh Kim - Hạ, vừa làm bàn đạp đánh Kim. Vì vậy, sau khi bình định các bộ lạc phía Bắc, Thành Cát Tư Hãn dẫn quân đánh Tây Hạ vào năm 1207. Tây Hạ Tương Tông sai sứ cầu cứu nhà Kim nhưng không được hồi đáp. Cuối cùng, Tây Hạ phải thần phục Mông Cổ và cung cấp binh lính cũng như hậu cần cho các chiến dịch tương lai của Thành Cát Tư Hãn. [9]

Sau khi thu phục Tây Hạ và chỉnh đốn quân đội, Thành Cát Tư Hãn thấy thời cơ đánh Kim đã đến. Năm 1210, sứ giả nhà Kim yêu cầu ông triều cống cho tân hoàng đế Hoàn Nhan Vĩnh Tế, do ông vẫn là võ tướng của nhà Kim trên danh nghĩa. Ông không những từ chối triều cống, còn sỉ nhục hoàng đế là kẻ đần độn, hèn nhát, thậm chí nói rằng "Hoàng đế phải là người nhà trời như ta mới phải". Sau đó, ông thu phục bộ lạc Uông Cổ ở biên giới Mông-Kim, để họ làm tai mắt do thám tình hình. Năm 1211, Thành Cát Tư Hãn điểm 10 vạn kỵ binh tiến đánh nước Kim, với lý do để trả thù cho Yêm Ba Hài Hãn cũng như cư dân Mông Cổ bị nhà Kim bắt làm nô lệ và sát hại trong nhiều năm qua. Ông còn lấy lý do giải phóng người Khiết Đan bị người Nữ Chân chèn ép để lôi kéo người Khiết Đan đi theo mình.

Quân Mông Cổ với chiến lược khôn khéo đã xâm chiếm nhà Kim đến tận Vạn Lý Trường Thành năm 1213. Tiêu biểu là trận Dã Hồ Lĩnh, khi 10 vạn quân Mông Cổ đánh tan tác 45 vạn quân Kim, khiến quốc lực tích lũy suốt 100 năm của nhà Kim tiêu tan. Cùng năm đó, tướng nhà Kim là Hồ Sa Hổ giết chết Hoàn Nhan Vĩnh Tế rồi lập anh trai của Kim Chương TôngHoàn Nhan Tuần lên ngôi, tức Kim Tuyên Tông.

Năm 1214, Thành Cát Tư Hãn dẫn quân tiến vào trung tâm nước Kim. Kim Tuyên Tông phải cầu hòa, cắt đất, dâng vàng bạc châu báu và gả công chúa cho Thành Cát Tư Hãn để ông lui binh. Tuy tỏ ra hòa hảo nhưng Kim Tuyên Tông vẫn lo sợ, lập tức dời đô về Khai Phong. Thành Cát Tư Hãn cho rằng nhà Kim bội ước, lại xua quân tiến đánh vào năm 1215. Nhưng lúc đó, tàn dư Miệt Nhĩ quay lại quấy nhiễu thảo nguyên Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn buộc phải rút quân, chỉ để Mộc Hoa Lê cùng binh sĩ dưới quyền ông ta ở lại. Mộc Hoa Lê sau đó vì quá lao lực, cộng thêm sự uất ức vì bị Tây Hạ trở mặt mà qua đời khi quân Mông Cổ chuẩn bị tiến vào Khai Phong.

Trong thời gian đánh nhà Kim, quân Mông Cổ thu được rất nhiều vàng bạc châu báu, sản vật quý cùng hàng ngàn tù binh. Nhưng thu hoạch lớn nhất của Thành Cát Tư Hãn là Gia Luật Sở Tài - hậu duệ hoàng tộc Khiết Đan và là kỳ tài hiếm có thời điểm đó. Ông làm việc cho đế quốc Mông Cổ đến khi mất vào năm 1243.

Tây ÁSửa đổi

Cùng thời gian đó, Khuất Xuất Luật, con trai Thái Dương Hãn của Nãi Man chạy về phía tây, ép hoàng đế Tây LiêuGia Luật Trực Lỗ Cổ nhường ngôi, và gây chiến với người Cát La Lộc, buộc họ phải cầu cứu quân Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn sai Triết Biệt đem 2 vạn quân đánh Khuất Xuất Luật. Hắn bị đánh bại ở Kashgar và Tây Liêu bị sát nhập vào Mông Cổ. Đế quốc Mông Cổ mở rộng về phía tây và giáp với đế quốc Khwarezm, một quốc gia Hồi giáo trải dài từ biển Caspi ở phía tây và vịnh Ba Tư, biển Ả Rập ở phía nam.

Năm 1218, Thành Cát Tư Hãn gửi một đoàn thương nhân sang Otrar, một tỉnh phía đông của Khwarezm nhằm thiết lập giao thương, nhưng bị thống đốc của tỉnh này, cũng là cháu của Muhammad II - quốc vương (Sultan) của Khwarezm, sát hại toàn bộ. Chỉ 1 người may mắn sống sót chạy về báo tin dữ. Thành Cát Tư Hãn lại sai sứ giả đến chất vấn Muhammad II, nhưng ông ta từ chối thương lượng và giết luôn đoàn sứ giả.

Tức giận trước sự khiêu khích mùa Muhammad II, Thành Cát Tư Hãn lập tức đưa 20 vạn quân tràn sang trả thù. Quân Mông Cổ vượt dãy Thiên Sơnsa mạc Gobi, tiến đến biên giới phía đông của Khwarezm, nhanh chóng hạ thành Otrar và hành hình viên thống đốc để trả thù cho các thương nhân và trừng phạt hành động xúc phạm Thành Cát Tư Hãn

Sau khi hạ thành Otrar, Thành Cát Tư Hãn quay sang tính sổ Muhammad II để trả thù hành động khiêu khích và giết sứ giả, tiện thể mở rộng ảnh hưởng của Mông Cổ với thế giới Hồi giáo. Quân Mông Cổ hạ các thành lớn chính của Khwarezm như Bukhara, SamarkandBalkh, khiến Muhammad II phải liên tục rút lui. Cuối cùng, ông ta chết ở một hòn đảo trên biển Caspi năm 1220, và đế quốc Khwarezm sụp đổ. Chiến thắng trước Khwarezm đã xác lập hình ảnh của Thành Cát Tư Hãn như một chiến binh khát máu gieo rắc nỗi kinh hoàng cho bất cứ vùng đất nào mà ông cùng quân Mông Cổ tràn qua.

Châu ÂuSửa đổi

Sau khi tiêu diệt Khwarezm, quân Mông Cổ chia làm 2 cánh trở về thảo nguyên. Thành Cát Tư Hãn dẫn quân chủ lực đi qua Afghanistan và bắc Ấn Độ. Triết Biệt và Tốc Bất Đài chỉ huy cánh còn lại đi qua Kavkaz và vào Nga, tấn công Armenia và Azerbaijan, phá hủy Gruzia, chiếm trung tâm thương mại và quân sự Caffa của Cộng hòa Genova, và tiến sát Biển Đen. Ảnh hưởng của Mông Cổ được mở rộng hơn bao giờ hết.

Trên đường trở về, Tốc Bất Đài bị liên quân Cuman-Kipchak và 8 vạn quân Nga Kiev của các vương công Nga chặn lại. Ông gửi đề nghị hòa bình nhưng các sứ giả bị xử tử. Thế là Tốc Bất Đài ra lệnh tấn công và đánh tan đội quân này tại sông Kalka năm 1223. Quân Mông Cổ tiếp tục càn quét đất Nga và chỉ dừng lại sau khi bị quân Volga Bulgar phục kích gây thiệt hại nặng nề tại sông Samara.[10]Nhưng các vương công Nga phải thần phục và triều cống cho Thành Cát Tư Hãn. Tương truyền, để dương uy, Tốc Bất Đài cho đặt ván trên đầu các vương công Nga để mở tiệc ăn mừng. 6 vương công Nga, trong đó có Mstislav III của Kiev, bị đè đến chết.

Trước khi 2 cánh quân về Mông Cổ năm 1225, họ trinh sát và tìm hiểu quân Volga Bulgar để chuẩn bị phục thù. Năm 1237, Bạt Đô - con trai Truật Xích tiến đánh và chinh phục hoàn toàn Nga Kiev và Volga Bulgar vào năm 1240.

Chiến dịch cuối cùngSửa đổi

Tây Hạ từ chối không tham chiến đánh Khwarezm, cũng từ chối góp quân đánh nhà Kim, còn giúp nhà Kim đánh Mông Cổ khiến Mộc Hoa Lê uất ức mà qua đời, và Thành Cát Tư Hãn thề sẽ hủy diệt vương quốc này. Cùng thời gian này, ông đã chọn con trai thứ 3 là Oa Khoát Đài làm người kế vị cũng như thiết lập cơ chế chọn người kế vị thông qua hội nghị Khố Lý Đài và phải là hậu duệ trực hệ của ông.

Năm 1226, Thành Cát Tư Hãn điểm 18 vạn quân tấn công Tây Hạ. Quân Mông Cổ chiếm các thành Hắc Thủy, Cam Châu, Túc Châu, phủ Tây Lương, bao vây thành Linh Châu và đánh bại quân cứu viện của Tây Hạ. Năm 1227, Quân Mông Cổ tấn công kinh đô Ngân Xuyên (nay thuộc Ninh Hạ), chiếm phủ Lâm Thao, quận Tây Ninh (tỉnh Thanh Hải ngày nay), phủ Tín Đô, quận Đức Thuận và vây khốn hoàng tộc Tây Hạ tại thành Trung Hưng. Cuối cùng, Tây Hạ Mạt Chủ phải đầu hàng và nộp thành, kết thúc vương triều Tây Hạ sau 189 năm (1038 - 1227). Nhưng trước thời hạn nộp thành đúng 1 ngày thì Thành Cát Tư Hãn băng hà. Cả hoàng tộc Tây Hạ sau đó đều bị hành hình.

Trước phút lâm chung, Thành Cát Tư Hãn không quên nói ra sách lược tác chiến giữa Mông Cổ, Kim và Nam Tống, còn chỉ cụ thể phương án tác chiến: "Quân tinh nhuệ của Kim ở Đồng Quan, phía nam chiếm Liên Sơn, phía bắc có sông lớn, khó đánh thắng nhanh. Nhưng Tống Kim là kẻ thù truyền kiếp, liên Tống thì đánh Kim sẽ dễ. Vì Kim nóng vội, trưng binh hàng vạn, tiếp tế khó khăn, người ngựa mệt mỏi, ta sẽ thắng".[11] Nói xong, Thành Cát Tư Hãn băng hà vào ngày 18/8/1227 tại Lục Bàn Sơn, huyện Thanh Thủy, Trung Quốc. Nguyên nhân cái chết của ông vẫn chưa được sáng tỏ, nhiều người cho rằng do ngã ngựa, cộng với tuổi già và sự đau buồn sau cái chết của con trai cả Truật Xích vào tháng 2/1227. Biên niên sử Galicia-Volhynia cho rằng ông bị người Đảng Hạng giết chết, tuy nhiên đến ngày nay vẫn chưa ai biết rõ.

Hậu duệSửa đổi

 
Đế quốc Mông Cổ từ năm 1206 đến năm 1294

Trước khi mất, Thành Cát Tư Hãn chia đế quốc của mình cho 4 người con trai: Truật Xích nhận vùng cực Tây (Nga và Kazakhstan ngày nay) gọi là Kim Trướng Hãn quốc; Sát Hợp Đài nhận Transoxania và Kashgar, gọi là Sát Hợp Đài Hãn quốc; Oa Khoát Đài trở thành Đại Hãn kế vị; còn Đà Lôi nhận vùng trung tâm Mông Cổ theo truyền thống con út thừa hưởng gia tài.

Tuy nhiên, sau khi Thành Cát Tư Hãn băng hà, Đà Lôi làm Giám quốc trong 2 năm rồi mới tôn Oa Khoát Đài lên ngôi Đại Hãn vào năm 1229. Ông dồn toàn lực tấn công nước Kim. Với sự trợ lực của Nam Tống, nhà Kim diệt vong vào năm 1234. Sau khi diệt nhà Kim và phân chia lãnh thổ, triều đình Nam Tống nhanh chóng chiếm 3 cố đô Khai Phong, Lạc Dương và Trường An, còn giết sứ giả Mông Cổ, khiến chiến tranh giữa 2 bên nổ ra. Cùng thời điểm, Oa Khoát Đài sai Bạt Đô, Tốc Bất Đài và cháu nội Hải Đô chinh phạt châu Âu. Quân Mông Cổ tàn phá cả châu Âu từ Hungary, Bulgaria, Nga đến Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, và chỉ dừng lại khi Oa Khoát Đài băng hà vào năm 1241.

Sau khi Oa Khoát Đài băng hà, hoàng hậu Thoát Liệt Ca Na làm Giám quốc trong 5 năm rồi đưa con trai trưởng Quý Do lên ngôi Đại Hãn vào năm 1246. Nhưng chỉ được 2 năm thì Quý Do băng hà. Cuộc tranh chấp ngôi Đại Hãn trở nên căng thẳng giữa nhà Oa Khoát Đài (gồm các anh em của Quý Do và Thất Liệt Môn - cháu nội của Oa Khoát Đài, vốn được chọn làm người kế vị) và nhà Đà Lôi (gồm Mông Kha và Hốt Tất Liệt). Với sự trợ giúp của Bạt Đô, Mông Kha được chọn làm tân Đại Hãn vào năm 1251. Ông cho quân tiến đánh Đại Lý (1254) và Đại Việt (1257) để mở rộng lãnh thổ và thuận lợi đánh Nam Tống. Sau khi thôn tính Đại Lý và thất bại tại Đại Việt, ông dẫn quân tiến đánh Nam Tống vào năm 1258, nhưng lại tử trận khi quân Mông Cổ đang vây hãm Điếu Ngư (Trùng Khánh ngày nay) vào năm 1259.

Sau khi Mông Kha băng hà, hai người em trai của ông là Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca cùng xưng Đại Hãn vào năm 1260. Thế là một cuộc nội chiến nổ ra với chiến thắng thuộc về Hốt Tất Liệt vào năm 1264. Trong khi đó, Húc Liệt Ngột, một người con khác của Đà Lôi dẫn quân xuống phía Tây Nam, chiếm Ba Tư, Tiểu Á, tiến sát Địa Trung Hải, nhưng thất bại tại Ai Cập và phải dừng lại. Lãnh thổ cho Húc Liệt Ngột cai quản được gọi là Y Nhi Hãn quốc.

Năm 1271, Hốt Tất Liệt xưng Đế, đổi quốc hiệu từ Đại Mông Cổ Quốc thành Đại Nguyên, dời đô về Đại Đô (Bắc Kinh ngày nay) và đặt một kinh đô khác tại Thượng Đô (thuộc Nội Mông ngày nay). Năm 1279, Hốt Tất Liệt tiêu diệt Nam Tống, thống nhất Trung Nguyên, đánh dấu lần đầu tiên Trung Hoa chịu sự cai trị của một triều đình ngoại tộc. Nhưng việc Hốt Tất Liệt chuyển trung tâm quyền lực của Mông Cổ xuống Trung Hoa và phá vỡ nhiều thế chế cai trị truyền thống Mông Cổ khiến quý tộc Mông Cổ bất mãn và xa lánh ông ta, gián tiếp khiến đế quốc Mông Cổ bị phân rã thành 4 khu vực gồm nhà Nguyên, Kim Trướng Hãn quốc, Sát Hợp Đài Hãn quốc và Y Nhi Hãn quốc, và các Hãn quốc cũng không thừa nhận vị thế tông chủ của Hốt Tất Liệt. Chỉ đến khi Thiết Mộc Nhi lên ngôi, các Hãn quốc mới thừa nhận vị thế Đại Hãn của các hoàng đế nhà Nguyên.

Hốt Tất Liệt cũng tích cực mở rộng lãnh thổ bằng các cuộc chiến với Nhật Bản, Đại Việt, Miến ĐiệnJava, nhưng đều thất bại. Nặng nề nhất là thất bại trước Nhật Bản (1274 và 1281) và Đại Việt (1285 và 1288). Năm 1294, Hốt Tất Liệt băng hà, Thiết Mộc Nhi kế vị và đình chỉ mọi chiến dịch. Nhà Nguyên khai thác "Con đường tơ lụa" và "Con đường gia vị" để phát triển kinh tế và giao thương Á - Âu, cũng là triều đại Trung Hoa đầu tiên mà người châu Âu, người Hồi giáo và Kito giáo xuất hiện trong bộ máy quan lại. Trong đó có Marco Polo - tác giả cuốn "Marco Polo du ký", ghi lại hành trình 17 năm của ông trên đất Trung Quốc và làm việc cho Hốt Tất Liệt. Nhưng dù tích cực Hán hóa, giúp Trung Hoa phát triển giao thương và khoa học - kỹ thuật, nhà Nguyên vẫn là một triều đình ngoại tộc. Khác biệt văn hóa khiến chính trị không ổn định, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp sâu sắc, khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tiếp, nên nhà Nguyên chỉ tồn tại đến năm 1368 rồi bị Chu Nguyên Chương, Hoàng đế khai quốc của nhà Minh đánh đuổi, giành lại Trung Quốc cho người Hán. Nhà Nguyên phải rút về thảo nguyên Mông Cổ, tức nhà Bắc Nguyên, đến năm 1402 thì bỏ quốc hiệu, Mông Cổ lại bị tách ra thành nhiều bộ lạc nhỏ. Năm 1635, Hoàng Thái Cực, Hoàng đế khai quốc của nhà Thanh thu phục Mông Cổ khi Lâm Đan Hãn, Đại Hãn cuối cùng của Mông Cổ chết trên đường trốn chạy. Con trai ông ta là Ngạch Triết đầu hàng, dâng ngọc tỷ truyền quốc của nhà Nguyên cho Hoàng Thái Cực, và được Hoàng Thái Cực phong làm Sát Cáp Nhĩ thân vương. Sau khi Ngạch Triết mất, tước vị Sát Cáp Nhĩ thân vương giao lại cho em trai A Bố Nại. Nhưng A Bố Nại bất mãn với nhà Thanh, cộng với việc 2 con trai của ông ta tạo phản, khiến cả gia đình ông ta bị tru di vào năm Khang Hy thứ 6 (1675).

Bí ẩn lăng mộSửa đổi

 
Lăng tẩm tượng trưng của Thành Cát Tư Hãn

Nhiều năm trước khi qua đời, Thành Cát Tư Hãn đã tiên liệu việc xây lăng mộ cho mình. Ông hạ lệnh xây một ngôi mộ vô danh theo phong tục Mông Cổ, và tuyệt đối giữ bí mật về vị trí lăng mộ. Sử chép sau khi băng hà, thi thể Thành Cát Tư Hãn được đưa về cố hương ở Khentii, nơi nhiều người cho rằng ông được chôn cất gần sông Oát Nan và núi Bất Nhi Hãn.

Theo truyền thuyết, để đảm bảo tuyệt đối bí mật, quân lính diễu hành linh cữu giết tất cả những gì họ thấy trên đường đi, kể cả người, động vật. Sau khi khâm liệm, hàng ngàn con ngựa sẽ giày xéo và biến khu đất trở nên bằng phẳng. Sau tang lễ, những ai tham gia diễu hành linh cữu, trừ các thành viên hoàng tộc, đều bị giết hoặc tự sát trong bí mật. Chỉ vài người sống sót để ở lại canh giữ đến khi cỏ mọc lên, xóa mọi dấu vết đào bới, biến khu đất trở lại như trước khi đào mộ. Và những binh lính này cũng phải thề giữ bí mật đến tận lúc qua đời.

Nhiều năm sau, lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn được dựng lên để tôn vinh những cống hiến của ông. Nhưng lăng mộ này chỉ mang tính biểu trưng, bên trong không có thi thể.

Ngày 6/10/2004, một dự án khảo cổ đã khám phá ra nơi được cho là cung điện của Thành Cát Tư Hãn ở vùng nông thôn Mông Cổ, làm tăng khả năng xác định vị trí chôn cất của ông. Có người cho rằng, lăng mộ được đặt ở Kherem, cách cung điện khoảng 322 km. Số khác lại cho là ở gần hai con sông Oát Nan và Kerulen và núi Bất Nhi Hãn

Tuy nhiên, sau gần 800 năm, chưa ai xác định được vị trí ngôi mộ, trở thành một trong những "bài toán khảo cổ" lớn nhất chưa có lời giải của thế kỷ 21. Thậm chí, chính người dân Mông Cổ cũng không bao giờ có ý định khai quật lăng mộ. Họ cho rằng hãy để vị Đại Hãn tối cao của họ được ngủ yên và việc khai quật lăng mộ bị họ xem là không tôn trọng người đã khuất và là sự báng bổ thần linh.

Tài năngSửa đổi

Chính trị, văn hóa, và kinh tếSửa đổi

Thành Cát Tư Hãn tạo ra bộ luật bằng chữ viết của người Mông Cổ mà mọi người trong đế chế phải tuân thủ. Vì sự đa dạng tôn giáo và sắc tộc, ông đã truyền lại sự trung thành chỉ với Đại Hãn. Để giữ vững và bổ sung chi phí cho quân đội cũng như các hoạt động khác, ông cho phép các thủ lĩnh duy trì quyền lực khi họ còn cung cấp được sức mạnh quân sự, nộp cống phẩm và cung cấp nhân lực trong các cơ sở cố định. Chiếm đóng được một vùng đất, ông khuyến khích thương nghiệp và trao đổi hàng hóa. Các thương nhân, giáo sĩ, đặc sứ được đảm bảo an toàn và hướng dẫn cần thiết. Dưới thời ông, “mọi cá nhân và tôn giáo là bình đẳng trước pháp luật Mông Cổ".

Thành Cát Tư Hãn có ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa nhiều quốc gia châu Á, chủ yếu là Trung Hoa và Nga. Ông tiêu diệt tầng lớp quý tộc hiện thời và tạo ra tầng lớp trí thức thô sơ. Ông cũng tạo ra hệ thống bưu chính rộng lớn và mở rộng sự phổ biến của việc sử dụng hệ thống chữ cái thế giới, mặc dù trong nhiều năm người ta vẫn tin rằng ông thất học. Tuy nhiên, theo các phát kiến của các nhà sử học Mông Cổ và Trung Quốc thì ông có học thức cao. Các văn bản viết tay được cho là của ông cho thấy ông có thể đọc các bài thuyết pháp của Lão giáo.[12] Thương mại, du lịch tại Trung Hoa, châu Âu và Trung Cận Đông phát triển mạnh mẽ bởi sự ổn định chính trị mà Mông Cổ đem lại khi thiết lập lại Con đường tơ lụa. Ông giảm hình phạt, miễn giảm thuế cho lang y và thầy đồ, thiết lập tự do tôn giáo. Quân Mông Cổ về sau bao gồm rất nhiều người của các nền di sản khác nhau. Mông Cổ giúp châu Á biết đến bàn tínhla bàn cũng như cho châu Âu biết đến thuốc súng, thuốc nổ và các công cụ phục vụ chiến tranh vây hãm mà người Trung Hoa phát triển. Người ta cũng cho rằng ông là người đầu tiên ngăn chặn phân chia bắc - nam Trung Quốc bắt đầu từ thời nhà Tống. Với thành tựu thống nhất Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn giành được sự tôn trọng và hậu thuẫn sâu rộng của họ.

Quân sựSửa đổi

Thành Cát Tư Hãn tổ chức quân đội Mông Cổ theo cơ số 10. Thập hộ tướng quản lý 10 lính. Bách hộ tướng quản lý 10 thập hộ tướng. Thiên hộ tướng quản lý 10 bách hộ tướng. Vạn hộ tướng quan lý 10 thiên hộ tướng. Cơ cấu này tạo ra sự uyển chuyển và cho phép quân Mông Cổ tấn công ồ ạt, chia thành nhóm nhỏ để bao vây, dẫn kẻ thù vào trong mai phục hay áp chế tàn quân. Mỗi người lính Mông Cổ có 2 - 4 con ngựa, cho phép họ phi nước đại trong vài ngày mà không mệt mỏi. Binh sĩ Mông Cổ cũng có thể sống vài ngày chỉ cần uống máu ngựa và ăn thịt bò khô khi thời tiết khắc nghiệt.

Khi bổ sung binh lính mới, Thành Cát Tư Hãn chia họ thành nhiều nhóm dưới quyền các thủ lĩnh để tránh tình trạng có quan hệ sắc tộc hay xã hội. Trong mọi chiến dịch, binh sĩ được phép đem theo gia đình của họ. Chỉ những chiến binh dũng cảm nhất mới được thăng chức. Mỗi thủ lĩnh của một nhóm phải chịu trách nhiệm về binh lính dưới quyền tại bất kỳ thời điểm nào và có thể bị thay thế nếu như phát hiện được sự tắc trách.

Quân Mông Cổ được xây dựng chủ yếu là kỵ binh và quân trang của binh sĩ được tinh giảm đến tối thiểu. Kỵ binh nhẹ không mang giáp trụ, chỉ mặc một lớp áo da thú bên ngoài, một lớp áo lụa bên trong và đội một chiếc mũ da rủ xuống sau gáy, rất hiệu quả trong phòng ngự tầm xa. Kỵ binh nặng có thêm giáp trụ làm bằng lông chim, khá nhẹ và mềm. Mỗi người lính mang theo đồ ăn nhẹ, cung tên và mã tấu. Nhờ trang bị gọn nhẹ mà quân Mông Cổ có thể tấn công và rút lui nhanh chóng. Một trong những chiến thuật kinh điển là giả vờ rút lui, dụ kẻ địch vào bẫy, rồi bất ngờ quay lại, dồn toàn lực phản công. Trong chiến trận, quân Mông Cổ sử dụng cờ hay kèn làm hiệu lệnh. Với quân Mông Cổ, chiến thắng là quan trọng nhất và họ không chấp nhận thất bại cũng như mất người bởi họ thua sút về tiếp viện, cũng như phải di chuyển xa. Một quy tắc được làm rõ là nếu có 2 binh sĩ trở lên tách khỏi nhóm của họ mà không có sự chấp thuận của thủ lĩnh thì họ phải chết.

Triết lý quân sự của Thành Cát Tư Hãn là đánh bại kẻ thù với ít tổn thất và rủi ro nhất. Do đó, chiến tranh tâm lý rất được ưa chuộng, đặc biệt trong việc mở rộng sự đe dọa, khủng bố. Quan điểm của ông với kẻ thù là: đầu hàng hoặc chết. Khi một thành phố đầu hàng, ông sẽ giữ thành phố đó nguyên vẹn và đảm bảo an toàn cho người dân để họ trở thành nguồn nhân lực và quân nhu trong tương lai. Nếu họ chống lại, ông sẽ thiêu hủy thành phố và tàn sát toàn bộ người dân. Thậm chí, sau khi hạ một thành phố, quân Mông Cổ vẫn truy sát thủ lĩnh của thành phố đó đến khi họ chắc chắn rằng kẻ đó đã chết. Nhờ kiểu chiến tranh tâm lý này mà quân Mông Cổ được giảm thiểu tổn thất về nhân lực và có thể tiết kiệm cho các chiến dịch sau này.

Công nghệ cũng là một phần quan trọng với các thiết bị vây hãm được chế tạo bới các kỹ sư Trung Quốc. Các thiết bị này được tháo rời và vận chuyển bằng ngựa và được lắp ráp lại ở nơi cần sử dụng.

Những cuộc tàn sátSửa đổi

Theo các sử gia, Thành Cát Tư Hãn đã trực tiếp tham gia 32 trận đánh lớn, 65 trận đánh nhỏ, và thực hiện nhiều cuộc tàn sát đẫm máu, đến độ người ta phải than rằng: "Cỏ không mọc được dưới vó ngựa Mông Cổ". Theo nhiều số liệu, quân Mông Cổ đã làm sụt giảm 11% dân số thế giới thời điểm đó[13], tương đương với khoảng 45 triệu người.

Mông CổSửa đổi

Năm 10 tuổi, Thành Cát Tư Hãn đã giết chết người em trai cùng cha khác mẹ trong một vụ tranh giành thức ăn.

Năm 20 tuổi, Thành Cát Tư Hãn đánh bại bộ lạc Thát Đát đã gây ra cái chết của cha mình. Ông trả thù bằng cách trói toàn bộ nam giới vào trục bánh xe, người nào cao hơn trục bánh xe đều bị chém đầu. Hàng vạn người Thát Đát đã bị chém đầu theo cách này.

Trung ÁSửa đổi

Năm 1219, sau vụ việc 500 thương nhân Mông Cổ bị sát hại tại Khwarezm và Sultan Muhammad II giết sứ giả Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn đã xua quân hủy diệt đế chế này, tàn sát toàn bộ quân đội cùng 4 triệu thường dân Khwarezm:

  • Năm 1220, thành Bukhara, một trung tâm nổi tiếng ở Trung Á bị thiêu rụi. Nhà sử học Ipanaxia đã viết như sau: "Đó là một ngày vô cùng bất hạnh, chỉ nghe tiếng khóc bi ai vĩnh việt của già trẻ trai gái. Bọn man rợ (quân Mông Cổ) làm nhục phụ nữ trước mặt những người bất hạnh... Có người thà chết không muốn chứng kiến thảm cảnh ấy."[14]
  • Từ Bukhara, Thành Cát Tư Hãn tiến đánh kinh đô Samarkand và hạ được thành phó này chỉ trong 5 ngày. 3/4 dân cư thành phố bị giết.
  • Năm 1220, quân Mông Cổ tới thị trấn Urgenc trên bờ sông Amu-Darya, phía nam biển Aral. Ở đấy diễn ra một trận tàn sát dã man, người ta nói rằng có tới 100 ngàn người trong thành bị giết. Quân Mông Cổ đào kênh, phá đê dẫn nước vào dìm chết toàn bộ người trong thành.
  • Tại thành Nishapur, Ba Tư vào tháng 4/1221, con rể của Thành Cát Tư Hãn không may tử trận. Để trả thù, Thành Cát Tư Hãn ra lệnh tàn sát toàn bộ người dân trong thành. Theo các nhà sử học Iran như Rashid-ad-Din Fadl Allah thì quân Mông Cổ đã giết hơn 1 triệu dân ở Nishapur, kể cả phụ nữ, trẻ em, trẻ sơ sinh, thậm chí cả súc vật. Sau đó, để an ủi con gái vừa góa chồng, Thành Cát Tư Hãn hạ lệnh chặt đầu người dân và xếp chồng chất thành những kim tự tháp sọ người.
  • Đầu năm 1221, ở Merv (thành phố Mary tại Turkmenistan ngày nay), quân Mông Cổ đã giết hơn 700.000 dân, chỉ tha cho 400 thợ thủ công và một số trẻ nhỏ bị bắt làm nô lệ. Người ta phải mất 13 ngày liền mới đếm hết các xác chết.
  • Thành BalkhAfghanistan cũng chung số phận: già trẻ lớn bé đều bị bắt xếp hàng 10, hàng 100 như quân đội, rồi lính Mông Cổ cầm dao, cầm giáo giết từng loạt.
  • Nhiều công trình nghệ thuật, thư viện, cung điện và giáo đường cũng bị tàn phá nặng nề.

Trung QuốcSửa đổi

Trung Quốc cũng phải hứng chịu những cuộc tàn sát đãm máu và cướp bóc trên quy mô lớn của quân Mông Cổ trong thời gian Mông Cổ đánh Tây Hạ, Kim và Nam Tống (từ 1211 tới 1279)[15]:

  • Năm 1214, sau 3 năm tàn phá nước Kim, Thành Cát Tư Hãn cho rút quân về Mông Cổ, bắt đi hàng vạn tù binh và chiến lợi phẩm, nhưng số tù binh này không còn đủ sức vượt qua sa mạc Gobi. Thành Cát Tư Hãn chọn lại những nho sĩ, nghệ sĩ và thợ giỏi, số còn lại đều bị giết.
  • Năm 1215, quân Mông Cổ sau khi đánh hạ Trung Đô đã đốt phá và tàn sát toàn bộ 5 vạn quân Kim cùng khoảng 50 vạn dân. 10 vạn phụ nữ tự tử vì sợ bị hãm hiếp. Trong 3 tháng, Trung Đô vẫn còn bốc cháy.
  • Năm 1227, sau khi đánh bại Tây Hạ và tàn sát kinh đô Ngân Xuyên, Thành Cát Tư Hãn để lại di chiếu hạ lệnh hành quyết toàn bộ hoàng tộc Tây Hạ để trừng phạt việc họ dám thách thức ông.
  • Sau khi nhà Kim diệt vong vào năm 1234, khu vực Hoa Bắc ước tính có 1,1 triệu hộ với 6 triệu người, chỉ bằng 13% so với mức 53,5 triệu người vào năm 1208.[16]
  • Trước khi Mông Cổ xâm lược, Trung Quốc có khoảng 100 triệu dân; sau khi nhà Nguyên thu phục toàn bộ Trung Quốc vào năm 1279, điều tra dân số năm 1290 cho thấy chỉ còn khoảng 58,8 triệu dân.

Gia quyếnSửa đổi

Phụ mẫuSửa đổi

Thê thiếpSửa đổi

Thành Cát Tư Hãn có khoảng 40 thê thiếp, sống trong 4 "Oát nhi đóa":

Đệ nhất Oát Nhi ĐóaSửa đổi

  • Đại Hoàng hậu Bột Nhi Thiếp (孛兒帖; tiếng Mông Cổ: ᠪᠥᠷᠲᠡ, Chuyển tự Latinh: Börte, chữ Mông Cổ: Бөртэ; 1161 - 1236), Hoằng Cát Lạt thị (弘吉剌氏; Хонгирад; Onggirat). Năm 1206 lập làm Hoàng hậu. Năm 1266 được truy thụy Quang Hiến Hoàng hậu (光献皇后). Năm 1310 được gia thụy thành Quang Hiến Dực Thánh Hoàng hậu (光献翼圣皇后).
  • Hoàng hậu Hốt Lỗ Hồn (忽鲁浑皇后; Хулухун хатан)
  • Hoàng hậu Khoát Lý Kiệt (闊里桀皇后; Хөлигэ хатан)
  • Hoàng hậu Thoát Hốt Tư (脱忽思皇后; Төгс хатан)
  • Hoàng hậu Thiếp Mộc Luân (帖木倫皇后; Тэмүлүн хатан)
  • Hoàng hậu Diệc Liên Chân Bát Lạt (亦憐真八剌皇后; Ринчинбал хатан)
  • Hoàng hậu Bất Nhan Hỗn Thốc (不顏渾禿皇后; Буян хутуг[17])
  • Cung phi Hỗn Thắng Hải (忽勝海妃子; Хушэнхай татвар)

Đệ nhị Oát Nhi ĐóaSửa đổi

  • Nhị hoàng hậu Hốt Lan (忽蘭; tiếng Mông Cổ: ᠬᠤᠯᠠᠨ, Chuyển tự Latinh: qulan, chữ Mông Cổ: Хулан), Miệt Nhĩ thị (蔑兒乞氏; Мэргид; Merkit).
  • Hoàng hậu Cáp Nhi Bát Chân (哈儿八真皇后; Харбажин хатан) hay Hoàng hậu Cổ Nhi Biệt Tốc (古儿别速)
  • Hoàng hậu Diệc Khất Lặc Chân (亦乞剌真皇后; Ихиржин хатан)
  • Hoàng hậu Thoát Hốt Tư (脱忽思皇后; Төгс хатан)
  • Cung phi Dã Chân (也真妃子; Ижин татвар эм)
  • Cung phi Dã Lý Hốt Thốc (也里忽秃妃子; Илихутуг татвар эм)
  • Cung phi Sát Chân (察真妃子; Чажин татвар эм)
  • Cung phi Cát Lạp Chân (哈剌真妃子; Харжин татвар эм)

Đệ tam Oát Nhi ĐóaSửa đổi

  • Tam hoàng hậu Dã Toại (也遂皇后; Есүй хатан), Thát Đát thị (塔塔儿氏; Татарын).
  • Hoàng hậu Dã Tốc Can (也速干皇后; Есүгэн хатан). Chị gái Hoàng hậu Dã Toại.
  • Hoàng hậu Hốt Lỗ Cáp Lạt (忽鲁哈剌皇后; Хурхар хатан)
  • Hoàng hậu A Thất Luân (阿失伦皇后; Ашилун хатан)
  • Hoàng hậu Thốc Nhi Cáp Lạt (秃儿哈剌皇后; Турхал хатан)
  • Hoàng hậu Sát Hợp (察儿皇后; Чар хатан). Công chúa Tây Hạ, con gái của Tây Hạ Tương Tông Lý An Toàn.
  • Hoàng hậu A Tích Mê Thất (阿昔迷失皇后; Ашимиши хатан)
  • Hoàng hậu Hoàn Giả Hốt Đô (完者忽都皇后; Өлзийхуту хатан)
  • Cung phi Lạt Bá (剌伯妃子; Лавай татвар эм)
  • Cung phi Khố Nhĩ Hồ Đại (Хурхудай татвар эм)
  • Cung phi Hốt Lỗ Khôi (忽鲁灰妃子; Хулуху татвар эм)

Đệ tứ Oát Nhi ĐóaSửa đổi

  • Công chúa Hoàng hậu (公主皇后; Гүнж хатан); Hoàn Nhan thị (完顏氏). Kỳ Quốc Công chúa Nhà Kim, con gái của Hoàn Nhan Vĩnh Tế. Vì thân phận cao quý mà được xưng "Công chúa Hoàng hậu". Có tài liệu cho rằng bà được Thành Cát Tư Hãn ban cho riêng một Oát Nhi Đóa. Người đứng đầu Đệ tứ Oát Nhi Đóa là Hoàng hậu Dã Tốc Can.
  • Hoàng hậu Hợp Đáp An (合答安皇后; Хадаан хатан); Tốc Lặc Tốn Đô thị (速勒逊都氏; Сүлдүсний)
  • Hoàng hậu Oát Giả Hốt Tư (斡者忽思皇后; Үзэхүс хатан)
  • Hoàng hậu Yến Lý (燕里皇后; Яньли хатан)
  • Cung phi Thốc Cai (秃干妃子; Туган татвар)
  • Cung phi Hoàn Giả (完者妃子; Өлзий татвар)
  • Cung phi Kim Liên (金莲妃子; Жинлян татвар)
  • Cung phi Hoàn Giả Đài (完者台妃子; Өлзийтэй татвар)
  • Cung phi Nô Luân (奴伦妃子; Нурун татвар)
  • Cung phi Mão Chân (卯真妃子; Мажин татвар)
  • Cung phi Tỏa Lang Cáp (锁郎哈妃子; Суранхай татвар эм)

Các Hoàng hậu khácSửa đổi

  • Diệc Ba Hợp Biệt Khất (亦巴合別乞; Ибага бэхи); Khắc Liệt thị (克烈氏; Хэрээдийн). Con gái của Trát Hợp Cảm Bất (札合敢不; Жаха Хамбу), chị gái của Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni - Hoàng hậu của Đà Lôi, mẹ của Hốt Tất Liệt. Năm 1206, bà được Thành Cát Tư Hãn tặng cho Vữu Nhĩ Cơ Đức (尤尔基德; Жүрчидэй баатарт) của bộ lạc Ô Lỗ Đức (乌鲁德; Уруд).
  • Hoàng hậu Mạc Cách (Мөгэ хатан), sau trở thành Hoàng hậu của Oa Khoát Đài.

Hậu duệSửa đổi

Sau mỗi cuộc chiến, Thành Cát Tư Hãn đều bắt và cưỡng bức những cô gái đẹp nhất tại các vùng đất vừa chiếm đóng. Vì vậy ông có thế có hàng trăm người con rải rác trên khắp các vùng đất ông đi qua. Dưới đây chỉ là những người con được ghi nhận chính thức của ông.

Con traiSửa đổi

(8 người, 4 người đầu tiên là đích tử do Đại hoàng hậu Bật Tê sinh ra)

  1. Truật Xích (术赤, tiếng Mông Cổ: ᠵᠥᠴᠢ, Chuyển tự Latinh: J̌öci, chữ Mông Cổ: Зүчи; 1181 - 1227), Hãn của Hãn quốc Kim Trướng.
  2. Sát Hợp Đài (察合台, tiếng Mông Cổ: ᠴᠠᠭᠠᠲᠠᠢ, Chuyển tự Latinh: Čaγatai, chữ Mông Cổ: Цагадай; 1183 - 1242), Hãn của Hãn quốc Sát Hợp Đài.
  3. Oa Khoát Đài (窩闊台, tiếng Mông Cổ: ᠣᠭᠡᠳᠡᠢ
    ᠬᠠᠭᠠᠨ
    , Chuyển tự Latinh: Ögedei qaγan, chữ Mông Cổ: Өгөдэй хаан; 1186 - 1241), Đại Hãn thứ 2 của Mông Cổ.
  4. Đà Lôi (拖雷, tiếng Mông Cổ: ᠲᠤᠯᠤᠢ, Chuyển tự Latinh: Tului, chữ Mông Cổ: Тулуй; 1191 - 1232). Làm Giám quốc trong 2 năm (1227-1229).
  5. Khoát Liệt Kiên (阔列坚, Хүлгэн ноён; ? - 1238), mẹ là Hốt Lan. Cùng đãi ngộ với 4 đích tử. Con trai Hốt Sát (忽察) được phong Hà Gian vương, hậu duệ là An Định vương.
  6. Ngột Lỗ Xích (兀鲁赤, Үрүчи; 1195 - 1211 ~ 1213), không rõ mẹ. Mất sớm.
  7. Sát Ngột Nhi (察兀儿, Харачар), mẹ là Dã Tốc Can. Mất sớm.
  8. Thuật Nhi Triệt (术儿彻, Журчидай), mẹ là một phụ nữ Nãi Man, có khả năng là Hoàng hậu Cổ Nhi Biệt Tốc.

Con gáiSửa đổi

(5 người, đều do Đại hoàng hậu Bột Nhi Thiếp sinh ra)

  1. Hỏa Thần Biệt Các (火臣别吉, tiếng Mông Cổ: ᠬᠣᠵᠢᠨ
    ᠪᠡᠬᠢ
    , Chuyển tự Latinh: Qoǰin Beqi, chữ Mông Cổ: Хожин бэхи) còn được dịch là Khoát Chân Biệt Khấc (豁真别乞). Ban đầu được hứa gả cho Ngốc Tát Hợp - cháu nội của Thoát Lý nhưng không thành. Sau này được gả làm Kế thất cho Bột Ngốc (孛秃) - con trai của Diệc Khấc Liệt Tư bộ Niết Quần. Năm 1321 được truy phong Xương Quốc Đại Trưởng Công chúa.
  2. Đồ Đồ Can (阇阇干, tiếng Mông Cổ: ᠴᠡᠴᠡᠢᠢᠬᠡᠨ, chữ Mông Cổ: Цэцэйхэн) hay Xả Xả Can (扯扯干) , Xả Xả Diệc Can (扯扯亦坚), Khoát Khoát Can (阔阔干), gả cho Thoát Liệt Lặc Xích (脱劣勒赤), con trai của Hốt Đô Hợp Biệt Khấc - thủ lĩnh Oát Diệc Lạc, một bộ lạc kết minh với Thành Cát Tư Hãn. Sau khi kết hôn, Thành Cát Tư Hãn giao cho bà quản lý Oát Diệc Lạc. Bà cùng các chị em của mình cùng nhau khống chế một phần quan trọng của Con đường tơ lụa. Được phong làm Duyên An Công chúa.
    • Con trai:
      1. Bất Hoa Thiếp Mộc Nhi (不花帖木儿)
      2. Bát Lập Thác (八立托)
      3. Ba Nhi Tư Bất Hoa (巴儿思不花)
    • Con gái:
      1. Ngột Lỗ Hốt Nãi (兀鲁忽乃)
  3. A Lạt Hải Biệt Các (阿剌海别吉, tiếng Mông Cổ: ᠠᠯᠠᠭ᠎ᠠ
    ᠪᠡᠬᠢ
    , Chuyển tự Latinh: Alaγa Beqi, chữ Mông Cổ: Алага бэхи) hay A Lạt Hợp Biệt Khấc (阿剌合·别乞), được gả cho Uông Cổ bộ. Vì bà chưởng quản Uông Cổ bộ mà được xưng là "Giám quốc Công chúa" (国公主的, Төр захирагч гүнж). Bà thống lĩnh Uông Cổ bộ 20 năm. Năm 1305 được truy phong làm Tề Quốc Đại Trưởng Công chúa. Năm 1311 được gia phong Triệu Quốc Đại Trưởng Công chúa.
  4. Ngốc Mãn Luân (秃满伦, tiếng Mông Cổ: ᠲᠦᠮᠡᠯᠦᠨ, Chuyển tự Latinh: Tümelün, chữ Mông Cổ: Түмэлүн) hay Ngốc Mã Luân (秃马伦), gả cho Xích Cổ của Hoàng Cát Lạt bộ. Năm 1236 được truy phong làm Vận Quốc Công chúa (郓国公主, Юань улсын гүнж).
  5. A Lặc Tháp Luân (阿勒塔伦, Алталун) hay A Lặc Tháp Lỗ Hãn (阿勒塔鲁罕), A Nhi Đáp Lỗ Hắc (阿儿答鲁黑), Án Tháp Luân (按塔伦), gả cho Tháp Suất (塔出) của Oát Lặc Hốt Nột Ngột Dịch bộ - nhà ngoại của Thành Cát Tư Hãn.
    • Con trai: Thuật Chân Bá (术真伯) hay Trát Ngột Nhi Tiết Thiện (扎兀儿薛禅), lần lượt cưới 2 con gái của Nguyên Hiến Tông Mông Kha là Thất Lân Công chúa và Tất Xích Hợp Công chúa.

Người "truyền giống"Sửa đổi

Sau khi nghiên cứu mẫu gene của 16 dân tộc ở châu Á, chương trình nghiên cứu gene của ĐH Leicester (Anh) tin rằng, có tới 16 triệu hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn còn sống tới ngày nay. Điều này đồng nghĩa ông đã phải "gây giống" cho hàng ngàn phụ nữ.

Theo một số tư liệu, Thành Cát Tư Hãn có một chính sách rất đặc biệt: thu phục và bắt giữ tất cả những cô gái xinh đẹp nhất ở mỗi vùng đất mà ông chiếm đóng. Với mỗi lần hành quân trở về, Thành Cát Tư Hãn cùng các tướng tá khác ngồi trong lều, ăn một mâm đầu thịt ngựa và xem mặt những cô gái tù binh.

Thành Cát Tư Hãn được chọn lựa mỹ nữ trước tiên và tiêu chí hàng đầu của ông là mũi nhỏ, hông trái lê, tóc dài như suối, môi đỏ như hoa hồng và giọng nói trong trẻo như tiếng chim ca. Cô nào không đạt yêu cầu sẽ bị đẩy xuống cho binh sĩ cấp dưới.

Một lần nọ, một tướng của Thành Cát Tư Hãn tranh cãi với minh chủ của mình ở đời điều gì là thú vị nhất. Đại đa số người có mặt trong lều cho rằng thú nuôi chim ưng là tuyệt vời nhất. Cần biết rằng Thành Cát Tư Hãn sở hữu tới 800 con chim ưng các loại. Nhưng Thành Cát Tư Hãn đứng lên và dõng dạc tuyên bố: "Thú vui lớn nhất đời ta là chinh phục quân thù, đuổi chúng chạy bán sống bán chết, cướp hết tài sản, xem chúng khóc lóc xin tha mạng, cưỡi ngựa của chúng và véo mông những bà vợ, cô gái xinh đẹp" - theo tác giả Christopher Hudson từ báo Daily Mail.

Dù vậy nhiều nhà di truyền cho rằng con số 16 triệu người sống trải dài từ Trung Quốc tới Trung Đông có chung gene với Thành Cát Tư Hãn là điều không thể. Dù ông có thể "năng suất" nhưng con số này là quá lớn với một người bình thường.

Nhiều sử gia thì cho rằng con số 16 triệu là chính xác với phạm vi ảnh hưởng của Thành Cát Tư Hãn trong thế kỷ 13. Cần nhớ rằng ông đã lãnh đạo đội quân Mông Cổ thiện chiến tới những vùng xa xôi nhất của châu Âu, giết hại quân thù và bắt cóc rất nhiều phụ nữ đẹp.

Thành Cát Tư Hãn trong thế giới hiện đạiSửa đổi

Nhận thức về ôngSửa đổi

Thành Cát Tư Hãn là nhân vật bị phân cực nhiều nhất trong cách đánh giá của người phương Đông và phương Tây. Ở phương Tây và Trung Đông, hình ảnh của ông không được tích cực lắm vì ông đã giết quá nhiều người cũng như là mối đe dọa đối với cuộc sống và tài sản của họ. Tuy nhiên, ở phương Đông thì ông là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng to lớn đối với lịch sử. Ngày nay, những người Mông Cổ tìm thấy ở ông như là người sáng lập ra và thống nhất Mông Cổ, là điều mà họ không thể có được trước khi có ông. Ngược lại, ở Trung Đông, người ta có cách đánh giá hơi pha trộn về ông và các hậu duệ của ông vì quân đội của họ đã xâm chiếm và tiêu hủy thành Baghdad, nhưng cuối cùng thì một số trong quân đội Mông Cổ đã chuyển sang theo đạo Hồi và có cuộc sống pha trộn với dân bản xứ. Một số trường phái và các nhà khoa học, phụ thuộc vào gốc gác của họ, cho rằng những người Mông Cổ là những người xây dựng hay những kẻ hủy diệt vĩ đại nhất.

Thành Cát Tư Hãn và những người Mông Cổ là một trong những chủ đề trái ngược nhau theo các cách hiểu khác nhau tùy theo vị trí mà ta xem xét, trong đó tiêu cực nhất là từ châu Âu và Trung Đông là những nơi đã từng bị đe dọa và tiêu diệt như Ba Lan, Hungary, một phần của Nga.

Sự nhìn nhận mâu thuẫn về Thành Cát Tư Hãn ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày nay bởi vì các nhà sử học Trung Quốc vừa nhìn thấy ở ông mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực. Trong khi người ta nhận thức được những tổn thất nặng nề mà ông gây ra, thì hình ảnh của ông trong một phương diện nào đó lại được nhìn nhận tốt hơn do ông đã kết thúc sự chia rẽ bắc-nam Trung Hoa có từ thời Nhà Tống đi vào dĩ vãng. Bên cạnh đó, sự phỉ báng Thành Cát Tư Hãn là một sự xúc phạm ghê gớm đối với các công dân Trung Quốc có nguồn gốc Mông Cổ, là những người coi Thành Cát Tư Hãn như một người anh hùng dân tộc trong khi xu hướng lịch sử Trung Quốc hiện đại tránh nói tới điều đó.

Di sảnSửa đổi

Các hậu duệ của ông đã mở rộng quốc gia của ông rộng hơn về phía nam Trung Quốc, Nga, Iraq, Triều Tiên và Tây Tạng. Người Mông Cổ cuối cùng đã xâm chiếm Ba Lan và Hungary dưới triều đại của Bạt Đô nhưng hoàn toàn thất bại trong các cuộc xâm lược Syria, Nhật BảnViệt Nam vì thời tiết như đối với các cuộc xâm lược Nhật Bản; vì khí hậu nóng bức, nhất là ở Trung Đông như Ả Rập Xê Út; vì khó khăn do địa hình rừng núi và mạng lưới sông ngòi dày đặc cùng với chiến thuật "vườn không nhà trống" của Việt Nam trong suốt ba cuộc xâm lược. Việc mở rộng về phía châu Âu bị ngừng lại do nhiều lý do như các thành viên cao cấp của người Mông Cổ phải quay về Mông Cổ để bầu đại hãn mới hay do sự kháng cự của người châu Âu quá mạnh. Nếu không gặp những trở ngại này, người Mông Cổ đã có thể xâm chiếm toàn bộ châu Âu như họ đã xâm chiếm Ba Lan và Hungary chỉ trong thời gian khoảng một vài tháng. Đế chế Mông Cổ đạt tới cực đại của nó vào thời của cháu nội ông, đại hãn Hốt Tất Liệt, vua triều Nguyên, nhưng sau đó đã bị chia sẻ thành nhiều hãn quốc nhỏ và ít sức mạnh hơn.

Vào thời cực thịnh, Đế chế Mông Cổ đạt tới diện tích lớn nhất trong lịch sử loài người, trải dài từ Đông Nam Á tới châu Âu trên một diện tích 35 triệu km vuông (13,8 triệu dặm vuông). Theo một số nguồn, đế chế này chiếm tới gần 50% dân số thế giới và bao gồm các dân tộc đông dân và văn minh nhất thời kỳ đó như Trung Quốc và phần lớn các quốc gia của thế giới Hồi giáo ở Iraq, Ba Tư và Tiểu Á.

Không thể phủ nhận là những cuộc chiến tranh của Thành Cát Tư Hãn được đặc trưng bởi sự phá hủy toàn bộ với một mức độ chưa hề có cũng như sự thay đổi lớn trong phân bố dân cư châu Á.[18][19] Theo như các số liệu của các nhà sử học Iran như Rashid-ad-Din Fadl Allah, thì người Mông Cổ đã giết khoảng trên 70.000 dân ở Merv và trên một triệu dân ở Nishapur. Trung Quốc cũng chịu sự suy giảm bi thảm về dân số. Trước khi người Mông Cổ xâm lược Trung Quốc có khoảng 100 triệu dân; sau khi hoàn thành việc xâm lấn năm 1279, điều tra dân số năm 1300 cho thấy chỉ còn khoảng 60 triệu dân. Điều này không có nghĩa là quân đội của Thành Cát Tư Hãn phải chịu trách nhiệm trực tiếp đối với cái chết của 40 triệu người nhưng nó cho thấy mức độ của sự tàn bạo trong các cuộc giao tranh.

Trong thời gian gần đây, Thành Cát Tư Hãn đã trở thành biểu tượng của những cố gắng vươn tới của người Mông Cổ để thế giới thấy được hình ảnh của họ sau những năm dài ngủ quên. Hình ảnh Thành Cát Tư Hãn xuất hiện trên những đồng tiền Mông Cổ và nhãn mác của các loại rượu mạnh. Trong thế giới phương Tây ông thường được gắn với sự khát máu và man rợ. Các hãn Mông Cổ sau này cổ vũ dân chúng tưởng niệm tới ông như một vị thánh thần tôn giáo trong toàn đế chế. Không có Thành Cát Tư Hãn có lẽ đã không có Mông Cổ, bởi vì đế chế Mông Cổ đã co lại từ vương quốc mà Thành Cát Tư Hãn đã dựng lên từ năm 1206. Sự miêu tả có ý nghĩa về Thành Cát Tư Hãn và những người Mông Cổ (dẫu cho không phải thực tế lắm) được viết trong cuốn sách "Những bí mật của lịch sử Mông Cổ".

Cuộc thẩm tra di truyền gần đây[20] tìm thấy các đoạn nhiễm sắc thể Y với những đặc trưng không bình thường trong 8% đàn ông trong khu vực thuộc đế chế Mông Cổ và 0,5% đàn ông trên thế giới. Tuổi của các đoạn này, tương ứng với tỷ lệ của sự biến đổi, đã đưa nguồn gốc của chúng về thời đại của Thành Cát Tư Hãn, và nó đặc biệt là chung trong những người Hazara, là những người tự nhận là hậu duệ của ông.

Ông được nhớ đến vì sự hủy diệt toàn bộ, sức mạnh ý chí mãnh liệt, khả năng thuyết phục và đặc trưng Mông Cổ của mình đối với mọi người.

Thành Cát Tư Hãn trong đời sống văn hóaSửa đổi

Tiểu thuyết hoáSửa đổi

Thành Cát Tư Hãn được tiểu thuyết hoá trở thành một nhân vật trong truyện kiếm hiệp Anh hùng xạ điêu của Kim Dung. Theo truyện này, ông rất yêu quý nhân vật chính Quách Tĩnh, từng hứa gả con gái Hoa Tranh cho chàng, phong cho chàng tước Kim Đao phò mã. Thành Cát Tư Hãn cũng là người bức tử Lý Bình, mẹ của Quách Tĩnh. Trong truyện, Thành Cát Tư Hãn mất sau khi nói chuyện với Quách Tĩnh trên thảo nguyên.

Điện ảnhSửa đổi

Năm Tên phim Diễn viên vai
Thành Cát Tư Hãn
Đạo diễn Ghi chú
1950 Thành Cát Tư Hãn Manuel Conde Manuel Conde, Lou Salvador
2007 Mongol: The Rise of Genghis Khan Tadanobu Asano Sergei Bodrov Phim được đề cử Giải Oscar cho Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất năm 2007

Phim truyền hìnhSửa đổi

Thành Cát Tư Hãn 2004 do diễn viên người Nội Mông là Ba Sâm (tên Mông Cổ là Batdorj-in Baasanjab, hậu duệ của Sát Hợp Đài, con thứ hai của Thành Cát Tư Hãn) trong vai Thành Cát Tư Hãn.

Âm nhạcSửa đổi

Năm 1979, nhóm nhạc Nhật Bản Berryz Koubou cho ra mắt đĩa đơn Dschinghis Khan. Bài hát nói về sự dũng mãnh đến đáng sợ của quân đội Mông Cổ lãnh đạo bởi Thành Cát Tư Hãn và được đánh giá rất cao bởi âm điệu bắt tai người nghe. Năm 2016, Miike Snow cũng cho ra mắt MV Genghis Khan và gây được tiếng vang cho sự nghiệp của anh. Đó còn chưa kể đến những bản dân ca vốn đã được truyền tụng của người Mông Cổ.

Trò chơiSửa đổi

Cuộc đời và những thành quả của ông và các thế hệ sau khi ông qua đời từ lúc khởi đầu cho tới lúc xâm chiếm được Hungary đã được mô phỏng lại trong game dàn trận chiến thuật Age of Empires II, chế độ chơi Chiến dịch (Campaign).

Hình ảnhSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Top sự thật gây sốc về tội ác Thành Cát Tư Hãn
  2. ^ Chapitre 1: «Gengis Khan» dans Gengis Khan et l'Empire mongol de Jean-Paul Roux, Découvertes Gallimard, 2002.
  3. ^ Gia tộc Borjigin là gia tộc lâu đời của Mông Cổ, sống quanh vùng núi Burkhan Khaldun. Các thủ lĩnh của gia tộc này là: Kharchu, Borjigidai Mergen, Dobun Mergen, Butunchar Munkhag, Nữ hoàng Monolun (1000 - 1055), Khaidu (1040-1100), Tumbinai Setsen (1100 - 1130), Khabul Khan (1130 - 1146), Ambaghai Khan (1148 - 1156), Hotula Khan (1156 - 1160), Yesükhei (1160 - 1171), Genghis Khan: 1171 - 1206
  4. ^ Morgan David (1990). The Mongols (Peoples of Europe). tr. 58.
  5. ^ Theo Mông Cổ bí sử
  6. ^ Tuổi lấy vợ theo truyền thống Mông Cổ
  7. ^ The secret history of Mongols: A Mongolian epic chronicle of thirteen century, Igor de Rachewiltz (2015), chapter 2, p.18
  8. ^ Man John (2004). Genghis Khan: Life, Death and Resurrection. Luân Đôn; New York: Bantam Press. ISBN 0-593-05044-4.
  9. ^ “Genghis Khan (1165-1227)”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2002.
  10. ^ De Hartog Leo (1988). Genghis Khan: Conqueror of the World. Luân Đôn, UK: I.B. Tauris. Trang 122–123.
  11. ^ Kiến thức ngày nay số 707, Di chúc của Thành Cát Tư Hãn trang 23
  12. ^ www.guardian.co.uk
  13. ^ 10 điều ít biết về thủ lĩnh Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn khét tiếng
  14. ^ Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.47-48
  15. ^ 清朝光绪年间《潼川府志》卷五所载明人王维贤《九贤祠记》
  16. ^ 《中国人口发展史》,第201页和第211页。 作者:葛剑雄 福建人民出版社,1991年出版。
  17. ^ хутуг tức Khả đôn, tương đương với Hoàng hậu
  18. ^ (tiếng Anh) Ahmad Kamron Jabbari; "The Legacy of Genghis Khan" at Los Angeles County Museum of Art--again; Payvand.com; 14 juin 2003
  19. ^ (tiếng Anh) Azar Mahloujian; Phoenix From the Ashes: A Tale of the Book in Iran; Iran Chamber Society, 2002
  20. ^ Tatiana Zerjal et al. 2003,Các trang báo dạng *.pdf: The Genetic Legacy of the Mongols bản lưu 20/9/2003

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Nguồn thứ cấpSửa đổi

Đọc thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

Thành Cát Tư Hãn
Sinh: , khoảng 1162 Mất: , 1227
Tước hiệu
Tiền nhiệm
(Không)
Khả Hãn của Đế quốc Mông Cổ
1206–1227
Kế nhiệm
Đà Lôi
(nhiếp chính)
Sửa Khả hãn của Đế quốc Mông Cổ
Thành Cát Tư Hãn (1206-1227) | Đà Lôi (nhiếp chính) (1227-1229) | Oa Khoát Đài (1229-1241) | Nãi Mã Chân (nhiếp chính) (1241-1245) | Quý Do (1246-1248) | Hải Mê Thất (nhiếp chính) (1248-1251)| Mông Kha (1251-1259) | Hốt Tất Liệt (1260-1294)
Hốt Tất LiệtMông KhaOghul GhaymishQuý DoBột Lạt Cáp ChânOa Khoát ĐàiĐà LôiThành Cát Tư Hãn