Tatar (tiếng Tatar: татарлар, tatarlar, تاتارلار; tiếng Tatar Krym: tatarlar, tiếng Turk cổ: 𐱃𐱃𐰺‎, chuyển tự Tatar; phiên âm cũ: Tác-ta hay Thát Đát) là tên gọi chung các bộ lạc hỗn hợp Đột Quyết, Mông CổThanh Tạng sống rải rác ở miền thảo nguyên Bắc-Trung Á trước khi Đế quốc Mông Cổ xuất hiện, họ nói tiếng Tatar. Quan niệm cũ coi các dân tộc du mục lập nên những triều đại ở Bột Hải, Liêu, Kim và nhóm Kazakh cũng là những thành phần của cộng đồng Tatar, ở Trung Quốc gọi là người Tháp Tháp Nhĩ tộc (塔塔尔) là một tộc người. Sử cũ Việt Nam và một số nước thường gọi chung người Mông Cổ và người Tatar là người Thái Đát hay Thát Đát tộc.

Người Tatar
(Tatarlar / Татарлар)
RIAN archive 477235 U.S. Secretary of State Hillary Clinton visits Tatarstan.jpg
Tổng số dân
6,800,000 triệu [1]
Khu vực có số dân đáng kể
 Nga(trừ bán đảo Krym):5,319,877

 Uzbekistan :477,875

 Ukraine: 319,377

 Kazakhstan: 240,000

 Thổ Nhĩ Kỳ :175,500

 Turkmenistan: 36,355

 Kyrgyzstan :28,334

 Azerbaijan :25,900

 Romania:20,282

 Mông Cổ :18,567

 Israel :15,000

 Belarus :7,300

 Pháp: 7,000

 Litva :6,800-7,200
Ngôn ngữ
Tiếng Nga, tiếng Tatar và những thứ tiếng khác của cộng đồng người di cư
Tôn giáo
Đạo Hồi, Thuyết vô thần, Chính Thống giáo Đông phương
Sắc tộc có liên quan
Người Thổ

Vào thế kỷ 13 khi đế chế Mông Cổ trỗi dậy dưới sự trị vì của Thành Cát Tư Hãn thì đây cũng là giai đoạn hoàng kim trong lịch sử của dân tộc này cùng với đế chế Mông Cổ liên minh với nhau (Liên minh Tatar) và họ từng giày xéo khắp châu Âu và nước Nga rồi cai trị ở đó. Sau đó, qua quá trình diễn tiến lịch sử, dân tộc này ngày càng suy tàn và tản mác và bị sát nhập vào các dân tộc, quốc gia khác theo những thăng trầm biến cố lịch sử. Sau cuộc sát nhập bán đảo Krym vào Nga năm 2014, người Tatar được nhắc đến với nhóm người Tatar Krym sống trên bán đảo Krym khi mà quy chế cho họ còn là vấn đề thời sự, gợi nhớ lại sự kiện trục xuất người Tatar Krym trước đây.

Lịch sửSửa đổi

Ngày nay, phần lớn cộng đồng người Tatar theo Hồi giáo và đa số người Tatar sống tản mác ở nhiều nơi, nhưng tập trung ở nước Nga, nơi mà dân tộc nhà cũng chia làm nhiều nhánh. Vào thế kỷ 13, đây là thời kỳ hoàng kim của họ, tổ tiên của các bộ tộc người Tatar này hợp chủng bằng hôn nhân với quân Mông Cổ lúc đó đang thống trị châu Á và nước Nga. Do đó, sử sách cổ thường nhầm lẫn giữa người Tarta và người Mông Cổ, nhiều sử liệu gọi chung là người Tatar. Ở Việt Nam thế kỷ 13 gọi họ là người Thát Đát, nhiều người còn thích lên mình chữ Sát Thát để tỏ quyết tâm chống quân xâm lược phương Bắc. Người Thát Đát tộc thích tranh đấu người giỏi và chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh được gọi là Dũng sĩ, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, lấy săn bắn làm thú vui, lấy chăn nuôi để sinh sống. Không giống tiếng Mông Cổ, ngôn ngữ của người Tatar thuộc nhánh gốc Thổ của hệ Ural-Altai (Tiếng Tatar).

Cho đến năm 1783, người Tatar cai trị Hãn quốc Krym (hiện giờ là nước Cộng hòa tự trị Krym thuộc Nga). Trong thời kỳ giao tranh với Nga thì lãnh thổ giữa Crimea và nhà nước Nga trong thế kỷ XVI là một cánh đồng hoang vắng mênh mông với đất đai màu mỡ và con sông Oka là biên giới chính và cuối cùng trên con đường của người Tatar hướng đến Moscow. Cách thức chiến tranh của người Tatar là chia thành nhiều nhóm nhỏ và cố gắng thu hút người Nga đến một hoặc hai nơi trên biên giới, sau đó họ đột kích biên giới và cướp bóc, đốt, tàn sát những người chống cự và dẫn đi không chỉ đàn ông, phụ nữ, trẻ em mà còn cả bò, ngựa, cừu, dê ở bất kỳ nơi nào không có binh lính bảo vệ. Trong khi những kỵ binh Tatar đánh lạc hướng sự chú ý của các lực lượng biên phòng của Nga, các đơn vị nhỏ khác đã có thể tàn phá và quay trở lại mà không bị thiệt hại nhiều. Các cuộc đột kích của người Tatar ngày càng yếu ớt và người Nga bắt đầu phản công thắng lợi sau đó.

Hiệu kìSửa đổi

Ảnh hìnhSửa đổi

Hoạ hìnhSửa đổi

Ngữ hệSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Tatars facts, information, pictures - Encyclopedia.com articles about Tatars”. www.encyclopedia.com.