Mở trình đơn chính

Wikipedia β

Châu Á hay Á Châuchâu lục lớn nhất và đông dân nhất thế giới nằm ở Bắc bán cầuĐông bán cầu. Châu Á chiếm 8.6% tổng diện tích bề mặt Trái Đất (chiếm 29.9% diện tích mặt đất) và có 4 tỉ người, chiếm 60% dân số hiện nay của thế giới.

Châu Á
Asia (orthographic projection).svg
Diện tích 44.579.000 km2 (17.212.000 dặm vuông)
Dân số 4.164.252.000 (Thứ 1)[1]
Mật độ dân số 87/km2 (225/sq mi)]
Quốc gia 48
Phần phụ thuộc
Vùng không thừa nhận
Múi giờ UTC+2 đến UTC+12
Tên miền Internet .asia
Thành phố lớn nhất

Sự phân chia ranh giới giữa châu Á và châu Phieo đất Suez (mặc dù bán đảo Sinai, một phần của Ai Cập, nằm về phía đông của kênh đào này thông thường về mặt địa lý-chính trị được coi là một phần của châu Phi). Ranh giới giữa châu Á và châu Âu chạy qua eo biển Dardanelles, biển Marmara, eo biển Bosphorus, tới Biển Đen, dãy núi Kavkaz, Biển Caspi, dọc theo dãy núi Ural tới Biển Kara của Nga.

Châu Á, khi được xem xét theo khía cạnh chính trị, bao gồm một phần của đại lục Á-Âu và các quần đảo gần kề trong Ấn Độ DươngThái Bình Dương, và thông thường không bao gồm Nga. Một số quốc gia châu Á có lãnh thổ vượt ra ngoài châu Á.


Mục lục

Từ nguyênSửa đổi

Tên gọi trong tiếng Việt của châu Á bắt nguồn từ tên gọi tiếng Trung “亞洲” (âm Hán Việt: Á châu). Chữ “Á” 亞 trong “Á châu” 亞洲 là gọi tắt của “Á Tế Á” 亞細亞.[2][3] “Á Tế Á” 亞細亞 là phiên âm tiếng Trung của danh xưng tiếng Bồ Đào Nha “Asia”.[2]

Từ “Asia” trong tiếng Bồ Đào Nha bắt nguồn từ tên gọi tiếng La-tinh “Asia”.[2]

Từ "Asia" lại bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại Ασία (Asia), lần đầu tiên được chứng thực ở Herodotus, ở đó nó được nói đến như là Tiểu Á, hoặc trong các kết quả của các cuộc chiến tranh Ba Tư, đối với đế chế Ba Tư như là sự tương phản với Hy LạpAi Cập. Homer đã biết đồng minh của người Troia (Tờ roa) có tên gọi là Asios, con trai của Hyrtacus, một người cai trị nhiều thành thị.

Thuật ngữ Hy Lạp có lẽ có từ Assuwa, liên minh của nhiều quốc gia vào thế kỷ 14 TCN ở Anatolia cổ đại. Trong tiếng Hittite assu- "tốt" có lẽ là một thành phần trong tên gọi này. Ngoài ra, ngôn từ cơ bản của thuật ngữ này có thể có nguồn gốc từ chữ asu trong tiếng Akkad, có nghĩa là "đi ra ngoài" hay "mọc", ám chỉ tới hướng của Mặt Trời khi nó mọc ở Trung Đông. So sánh giả thiết này với giả thiết về ngôn từ học của châu Âu trong tiếng Semit erebu "lặn" có thể thấy lý do đặt tên của châu Á và Châu Âu là sự tương phản với nhau, tương tự như các thuật ngữ orientoccident (tên gọi của AnatoliaLevant cũng là dấu hiệu của "mặt trời mọc"). Tuy được viện dẫn nhiều nhưng giả thuyết này bị phản đối do thực tế là Anatolia ở Akkad hoặc Semit nói chung không nằm ở phía đông.

Ranh giớiSửa đổi

Người Hy LạpSửa đổi

 
Phép chiếu đồng khoảng cách 2 điểm của châu Á và các vùng đất xung quanh

Người Hy Lạp cổ đại đã phân định ranh giới rõ ràng giữa châu Âu và châu Á, là biển Aegea, Dardanelles, biển Marmara, Bosporus, biển Đen, eo biển Kerch, và biển Azov. Sông Nile đã từng được sử dụng làm ranh giới giữa châu Á và châu Phi (lúc đó được gọi là Libya), mặc dù một số nhà địa lý Hy Lạp đề nghị ranh giới này là biển Đỏ thì tốt hơn.[4]

Châu Á - châu Đại DươngSửa đổi

Ranh giới giữa châu Á và châu Đại Dương được xem là thuộc quần đảo Malay. Thuật ngữ Đông Nam Á và châu Đại Dương được tách ra vào thế kỷ 19 do có sự khác biệt lớn về ý mặt địa lý. Đặc điểm chính để xác định các đảo nào của quần đảo Malay thuộc châu Á là vị trí của quá trình thuộc địa hóa của nhiều đế chế khác nhau tại đây (không phải hoàn toàn từ châu Âu). Lewis và Wigen viết rằng "sự thu hẹp của 'Đông Nam châu Á' đến ranh giới hiện tại đã diễn ra từ từ."[4]

Địa lýSửa đổi

Bài chi tiết: Địa lý châu Á

Châu Á tự nó được phân chia thành các bộ phận khu vực như sau:

Bắc ÁSửa đổi

Thuật ngữ này ít được các nhà địa lý sử dụng, và thông thường nó được nhắc đến để chỉ phần châu Á lớn hơn của Nga, còn được biết đến như là Siberi. Đôi khi các phần miền bắc của các quốc gia châu Á khác, như Kazakhstan cũng được tính vào Bắc Á.

Khu vực này bao gồm:

  • Liên Bang Nga (phía đông dãy Uran)
  • Mông Cổ

Trung Á (Trung Đông)Sửa đổi

Không có sự nhất trí tuyệt đối trong sử dụng thuật ngữ này. Thông thường, Trung Á bao gồm:

Trung Á hiện nay là quan trọng về địa lý chính trị do các tranh chấp và mâu thuẫn quốc tế về các ống dẫn dầu, Nagorno-KarabakhChechnya cũng như là sự có mặt của quân đội Mỹ tại Afghanistan.

Đông Bắc Á/Đông ÁSửa đổi

Khu vực này bao gồm:

Đông Nam ÁSửa đổi

Khu vực này bao gồm bán đảo Mã Lai, Bán đảo Trung-Ấn và các đảo trong Ấn Độ DươngThái Bình Dương. Các quốc gia nằm ở đây bao gồm:

Nước Malaysia bị chia thành hai phần qua biển Đông và vì thế có cả hai phần: lục địa và hải đảo.

Nam Á (tiểu lục địa Ấn Độ)Sửa đổi

Nam Á còn được nói đến như là tiểu lục địa Ấn Độ. Nó bao gồm:

Tây Nam Á (Tây Á)Sửa đổi

Cũng được gọi là Trung Đông hay Trung Cận Đông. Trung Đông thông thường cũng được sử dụng để chỉ một số quốc gia ở Bắc Phi (trong một số diễn giải). Tây Nam Á có thể chia nhỏ thành:

Kinh tếSửa đổi

Bài chính: Kinh tế châu Á

 
Singapore có một trong những cảng bận rộn nhất trên thế giới và là trung tâm giao dịch ngoại hối lớn thứ tư thế giới..

Châu Á có GDP danh nghĩa lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau châu Âu, nhưng lại là lớn nhất khi được tính bằng sức mua tương đương (PPP).

Xếp hạng Nước GDP (PPP, 2016)
Triệu USD
1   Trung Quốc 20,853,331
2   Ấn Độ 8,642,758
3   Nhật Bản 4,901,102
4   Nga 3,684,643
5   Indonesia 3,010,746
6   Hàn Quốc 1,928,602
7   Ả Rập Saudi 1,720,027
8   Thổ Nhĩ Kỳ 1,665,332
9   Iran 1,439,295
10   Thái Lan 1,108,111

Trong những năm gần đây theo GDP (PPP) thì châu Á những nền kinh tế lớn nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn QuốcIndonesia.

Xếp Hạng Nước GDP (Danh nghĩa, 2016)
Triệu USD
1   Trung Quốc 11,383,030
2   Nhật Bản 4,412,600
3   Ấn Độ 2,288,720
4   Hàn Quốc 1,404,400
5   Nga 1,132,740
6   Indonesia 936,955
7   Thổ Nhĩ Kỳ 751,186
8   Ả Rập Saudi 618,274
9   Đài Loan 508,849
10   Thái Lan

Vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã phát triển vượt bậc, cả hai có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 8%. Các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao các năm gần đây ở châu Á bao gồm:  IsraelMalaysiaIndonesiaBangladeshPakistanThái LanViệt NamMông CổUzbekistanSíp, Philippines, các nước giàu khoáng sản như KazakhstanTurkmenistanIranBruneiCác Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhấtQatarKuwaitẢ Rập SaudiBahrain và Oman.

Theo GDP (PPP) thì Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới sau nền kinh tế của EU và Mỹ, tiếp theo là Nhật BảnẤn Độ với vị trí thứ tư và thứ năm (sau đó là các quốc gia trong EU: Đức, Anh Quốc, PhápÝ). Theo thuật ngữ của tỷ giá hối đoái thì Nhật Bản lại là nền kinh tế lớn nhất ở châu Á và là thứ ba trên thế giới. Hàn Quốc cũng là một trong những nền kinh tế lớn của châu Á, trong khi Bắc Triều Tiên lại là một trong những nước nghèo nhất.

Theo dự đoán của các chuyên gia thì GDP danh nghĩa của Ấn Độ sẽ vượt Nhật Bản vào năm 2020 [5]. Đến năm 2027, theo Goldman Sachs, Trung Quốc sẽ là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Một số khối thương mại tồn tại, với sự phát triển nhất là Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á.

Các khối thương mại:

Các nguồn tài nguyên thiên nhiênSửa đổi

Châu Á theo ranh giới (được cho là như thế) là lục địa lớn nhất thế giới và nó rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như dầu mỏsắt.

Với năng suất cao trong nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất lúa gạo, đã cho phép mật độ dân số cao của các quốc gia trong các khu vực nóng ẩm. Các sản phẩm nông nghiệp chính còn có lúa mìthịt gà.

Lâm nghiệp cũng phát triển trong phạm vi rộng của châu Á, ngoại trừ khu vực Trung và Tây Nam Á. Nghề cá là một nguồn chủ yếu cung cấp thực phẩm ở châu Á, cụ thể là ở Nhật Bản.

Công nghiệpSửa đổi

Sản xuất công nghiệp ở châu Á theo truyền thống là mạnh nhất ở khu vực Đông và Đông Nam Á, cụ thể là ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn QuốcSingapore. Các ngành nghề công nghiệp dao động từ sản xuất các mặt hàng rẻ tiền như đồ chơi tới các mặt hàng công nghệ cao như máy tínhô tô. Nhiều công ty ở châu Âu, Bắc MỹNhật Bản có các sự hợp tác đáng kể ở châu Á đang phát triển để tận dụng các lợi thế so sánh về sức lao động rẻ tiền.

Một trong các lĩnh vực chính của sản xuất công nghiệp ở châu Á là công nghiệp may mặc. Phần lớn việc cung cấp quần áo và giày dép hiện nay của thế giới có nguồn gốc từ Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á.

Tài chính và các dịch vụ khácSửa đổi

Châu Á có 3 trung tâm tài chính lớn. Chúng nằm ở Hồng Kông, SingaporeTokyo. Các trung tâm mới nổi ở Ấn Độ hay Trung Quốc là do sự bùng nổ về sản xuất công nghiệp theo hình thức gia công ở các quốc gia này cũng như sự có được của nhiều người trẻ có học vấn cao và nói tiếng Anh

Lịch sử sơ kỳSửa đổi

Bài chính: Lịch sử châu Á

Lịch sử châu Á có thể được xem xét như là các lịch sử riêng biệt của một số vùng ngoại biên ven biển như Đông Á, Nam ÁTrung Đông được liên kết bằng các vùng thảo nguyên Á-Âu lớn bên trong.

Những vùng ngoại biên ven biển có thể coi như là quê hương của các nền văn minh, với mỗi nền văn minh trong ba khu vực này đã phát triển rất sớm quanh lưu vực các con sông màu mỡ. Các nền văn minh ở Lưỡng Hà, lưu vực sông ẤnHoàng Hà chia sẻ nhiều điểm tương đồng và có lẽ đã trao đổi với nhau các ý tưởng và công nghệ chẳng hạn như toán học và bánh xe. Các khái niệm khác như khái niệm về chữ viết có lẽ đã phát triển riêng biệt trong từng khu vực. Các thành thị, nhà nước và đế chế đã phát triển trong các vùng đất thấp này.

Khu vực thảo nguyên đã có thời gian dài là nơi sinh sống của các bộ lạc dân

cư miền núi, và từ các thảo nguyên trung tâm thì họ có thể đi tới tất cả các khu vực khác của châu Á. Sự mở rộng như thế ra ngoài các thảo nguyên sớm nhất được biết là của người Ấn-Âu, những người đã truyền bá ngôn ngữ của mình tới Trung Đông, Ấn Độ và tới người Tochari ở biên giới Trung Quốc. Phần phía bắc của châu Á, phần lớn là vùng Siberi, đã là không thể đi tới được đối với những người dân du mục vùng thảo nguyên do mật độ dày của rừng cũng như các lãnh nguyên. Các khu vực này có rất ít dân cư.

Khu vực trung tâm và ngoại biên đã bị cách biệt là do các dãy núi và các sa mạc. Các dãy núi như dãy Kavkaz, dãy Himalaya hay sa mạc Karakumsa mạc Gobi tạo ra các cản trở chính làm cho những kỵ binh du mục rất khó khăn trong việc vượt qua chúng. Về mặt kỹ thuật và văn hóa thì những người sống ở các khu vực đồng bằng và đô thị là có ưu thế hơn nhưng về quân sự thì họ làm được ít hơn để bảo vệ khu vực sinh sống và chống lại các bộ lạc du cư miền núi. Tuy nhiên, các vùng đất thấp có rất ít đồng cỏ để duy trì một lượng lớn ngựa. Vì thế các bộ lạc đã xâm lăng các quốc gia ở Trung Quốc, Ấn Độ và Trung Đông khi đó đã sớm phải học cách làm quen với sinh hoạt của cộng đồng địa phương.

Toàn bộ Ai Cập, Nga, Kazakhstan, Gruzia, Azerbaijan và Thổ Nhĩ Kỳ được nói đến trong bảng này, mặc dù các nước này chỉ có một phần nằm ở châu Á.

Các quốc gia và vùng lãnh thổSửa đổi

Năm Số dân ±%
1500 243.000.000 —    
1700 436.000.000 +79.4%
1900 947.000.000 +117.2%
1950 1.402.000.000 +48.0%
1999 3.634.000.000 +159.2%
Nguồn: "UN report 2004 data" (PDF).

Dân số châu Á trong tương laiSửa đổi

Năm Dân số Mật độ (km²) Tỉ lệ tăng lên % Dân số thế giới
2020 4.598.426.260 148,178 0.8161% 65.69%
2025 4.774.708.304 153,858 0.664% 68.21%
2030 4.922.829.661 158,631 0.5371% 70.33%
2035 5.045.488.373 162,584 0.4271% 72.08%
2040 5.143.850.426 165,754 0.326% 73.48%
2045 5.218.032.708 168,144 0.226% 74.54%
2050 5.266.848.432 169,717 0.1278% 75.24%
2055 5.290.517.068 170,480 0.0325% 75.58%
2060 5.290.029.643 170,464 -0.0483% 75.57%
2065 5.270.626.348 169,839 -0.106% 75.29%
2070 5.237.952.908 168,785 -0.1516% 74.83%
2075 5.194.086.547 167,372 -0.192% 74.2%
2080 5.140.833.583 165,655 -0.2261% 73.44%
2085 5.080.577.103 163,715 -0.2463% 72.58%
2090 5.017.487.286 161,682 -0.2532% 71.68%
2095 4.953.893.193 159,632 -0.2595% 70.77%

Nguồn:World Population Review,http://worldpopulationreview.com/continents/asia-population/

Tên vùng[6]
lãnh thổ cùng quốc kỳ
Diện tích
(km²)
Dân số
(Thống kê 1 tháng 7 năm 2008)
Mật độ dân số
(theo km²)
Thủ đô
Trung Á:
  Kazakhstan[7] 2.724.900 15.666.533 5,7 Astana
  Kyrgyzstan 199.951 5.356.869 24,3 Bishkek
  Tajikistan 143.100 7.211.884 47,0 Dushanbe
  Turkmenistan 488.100 5.179.573 9,6 Ashgabat
  Uzbekistan 447.400 28.268.441 57,1 Tashkent
Đông Á:
  Nhật Bản 377.930 127.288.628 336,1 Tokyo
  Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên 120.538 23.479.095 184,4 Bình Nhưỡng
  Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa[8] 9.596.961 hay 9.640.011 1.322.044.605 134,0 Bắc Kinh
  Đài Loan [9] 36.188 22.920.946 626,7 Đài Bắc
  Hàn Quốc 99.678 hay 100.210[10] 49.232.844 490,7 Seoul
Bắc Á:
  Nga[11] 17.098.242 142.200.000 26,8 Moskva
  Mông Cổ 1.564.100 2.996.082 1,7 Ulaanbaatar
Đông Nam Á:[12]
  Brunei 5.765 381.371 66,1 Bandar Seri Begawan
  Myanma 676.578 47.758.224 70,3 Naypyidaw[13]
  Campuchia[14] 181.035 13.388.910 74 Phnôm Pênh
  Đông Timor[15] 14.874 1.108.777 73,8 Dili
  Indonesia[16] 1.919.440 230.512.000 120,1 Jakarta
  Lào 236.800 6.677.534 28,2 Viêng Chăn
  Malaysia 330.803 27.780.000 84,2 Kuala Lumpur
  Philippines 300.000 92.681.453 308,9 Manila
  Singapore 704 4.608.167 6.545,7 Singapore
  Thái Lan 513.120 65.493.298 127,4 Bangkok
  Việt Nam 331.212 95.261.021 259,6 Hà Nội
Nam Á:
  Afghanistan 652.090 32.738.775 42,9 Kabul
  Bangladesh 147.998 153.546.901 1040,5 Dhaka
  Bhutan 38.394 682.321 17,8 Thimphu
  Ấn Độ[17] 3.201.446 hay 3.287.263[18] 1.147.995.226 349,2 New Delhi
  Maldives 300 379.174 1.263,3 Malé
    Nepal 147.181 29.519.114 200,5 Kathmandu
  Pakistan 796.095 hay 801.912 [18] 167.762.049 208,7 Islamabad
  Sri Lanka 65.610 21.128.773 322,0 Sri Jayawardenepura Kotte
Tây Á:
  Armenia[19] Yerevan
  Azerbaijan[20] 86.600 8.845.127 102,736 Baku
  Bahrain 750 718.306 987,1 Manama
  Síp[21] 9.251 792.604 83,9 Nicosia
  Gruzia[22] 69.700 64,0 Tbilisi
  Iraq 438.371 28.221.181 54,9 Baghdad
  Iran 1.628.750 70.472.846 42,8 Tehran
  Israel 22.072 7.112.359 290,3 Jerusalem[23]
  Jordan 89.342 6.198.677 57,5 Amman
  Kuwait 17.818 2.596.561 118,5 Thành phố Kuwait
  Liban 10.452 3.971.941 353,6 Beirut
  Oman 309.500 3.311.640 12,8 Muscat
  Palestine 6.257 4.277.000 683,5 Ramallah
  Qatar 11.586 928.635 69,4 Doha
  Ả Rập Saudi 2.149.690 23.513.330 12,0 Riyadh
  Syria 185.180 19.747.586 92,6 Damas
  Thổ Nhĩ Kỳ[24] 783.562 Ankara
  Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 83.600 4.621.399 29,5 Abu Dhabi
  Yemen 527.968 23.013.376 35,4 Sanaá
Tổng cộng 43.810,582 4.162.966.086 89,07
Ghi chú: Một phần của Ai Cập (Bán đảo Sinai) thuộc về Tây Á về mặt địa lý.

Tôn giáoSửa đổi

Phần lớn dân số thế giới theo các niềm tin tôn giáo khởi nguồn từ châu Á.

Các tôn giáo lớn trên thế giới hầu hết đều khởi nguồn từ châu Á và với phần lớn những người theo ngày nay đang sống ở châu Á bao gồm:

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ List of continents by population
  2. ^ a ă â An Chi. Rong chơi miền chữ nghĩa, tập 2. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016. ISBN 9786045852118. Trang 142.
  3. ^ Trần Văn Chánh, Lê Anh Minh. Toàn thư tự học chữ Hán. Tái bản lần thứ hai. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. Năm 2013. Trang 220 và 221.
  4. ^ a ă Lewis & Wigen 1997, tr. 170–173
  5. ^ “Commonwealth Business Council-Asia”. 
  6. ^ Continental regions as per UN categorisations (map), except 12. Depending on definitions, various territories cited below (notes 6, 11-13, 15, 17-19, 21-23) may be in one or both of Asia and Europe, Africa, or Oceania.
  7. ^ Kazakhstan đôi khi được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Trung Á và Đông Âu; số liệu diện tích và dân số chỉ tính phần thuộc châu Á.
  8. ^ "Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" thường được gọi một cách vắn tắt là "Trung Quốc". Số liệu chỉ tính Trung Quốc đại lục, không bao gồm Hồng Kông, Ma CaoĐài Loan.
  9. ^ Số liệu cho khu vực nằm dưới quyền kiểm soát trên thực tế của Trung Hoa Dân Quốc, thường được gọi là Đài Loan
  10. ^ Cục thống kê Hàn Quốc
  11. ^ Russia được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Đông Âu và Bắc Á; số liệu dân số và diện tích tính trên bình diện cả nước.
  12. ^ Không tính Đảo ChristmasQuần đảo Cocos (Keeling)
  13. ^ Thủ đô hành chính của Myanma chính thức chuyển từ Yangon (Rangoon) tời một khu vực phía tây Pyinmana vào năm 2005.
  14. ^ General Population Census of Cambodia 2008 - Provisional population totals, National Institute of Statistics, Ministry of Planning, released 3rd September, 2008
  15. ^ Đông Timor được coi là một quốc gia xuyên lục địa giữa Đông Nam Á và châu Đại Dương.
  16. ^ Indonesia thường được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Đông Nam Á và châu Đại Dương; số liệu không bao gồm Irian Jayaquần đảo Maluku, thường được liệt là thuộc châu Đại Dương (Melanesia/Australasia).
  17. ^ Bao gồm Jammu and Kashmir, lãnh thổ tranh cãi giữa Ấn Độ, Pakistan, và Trung Quốc.
  18. ^ a ă Theo UN 2007
  19. ^ Armenia đôi khi được coi là một quốc gia xuyên lục địa: về mặt địa lý thuộc Tây Á, song có liên kết về lịch sử và chính trị-xã hội với châu Âu.
  20. ^ Azerbaijan thường được coi là một quốc gia xuyên lục địa giữa Tây Á và Đông Âu; số liệu dân số và diện tích chỉ tính phần thuộc châu Á. Số liệu bao gồm cả Nakhchivan, một lãnh thổ bị tách rời của Azerbaijan giáp với Armenia, IranThổ Nhĩ Kỳ.
  21. ^ Hòn đảo Cộng hòa Síp đôi khi được coi là một lãnh thổ xuyên lục địa. Nằm ở Đông Địa Trung Hải, phía nam Thổ Nhĩ Kỳ, phía bắc củaSinai, và phía tây của LibanSyria, có một số liên kết xã hội-chính trị với châu Âu. Tuy nhiên, Liên Hiệp Quốc coi Síp thuộc Tây Á, trong khi CIA xem quốc đảo thuộc vùng Trung Đông.
  22. ^ Gruzia thường được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Tây Á và Đông Âu; số liệu dân số và diện tích chỉ tính phần thuộc châu Á.
  23. ^ Năm 1980, Jerusalem được tuyên bố là thủ đô của nước Israel thống nhất, sau sự thôn tính của nước này với khu vực do người Ả Rập chiếm ưu thế tại Đông Jerusalem trong Chiến tranh Sáu ngày 1967. Liên Hiệp Quốc và nhiều quốc gia khác không công nhận điều này, hầu hết các nước duy trì đại sứ quán tại Tel Aviv.
  24. ^ Thổ Nhĩ Kỳ thường được coi là một quốc gia xuyên đại lục tại Tây Á và Nam Âu; số liệu diện tích và dân số chỉ tính phần thuộc châu Á, không bao gồm tỉnh Istanbul.

Tài liệuSửa đổi

  • Lewis, Martin W.; Wigen, Kären (1997), The myth of continents: a critique of metageography, Berkeley and Los Angeles: University of California Press, ISBN 0-520-20743-2 
  • Ventris, Michael; Chadwick, John (1973). Documents in Mycenaean Greek (ấn bản 2). Cambridge: University Press. 

Liên kết ngoàiSửa đổi