Sumer

Nền văn minh cổ đại nằm ở phía nam của vùng Lưỡng Hà

Sumer (tiếng Akkad Šumeru; tiếng Sumer 𒆠𒂗𒂠 ki-en-ĝir15[a])[1] là một nền văn minh cổ đại và cũng để chỉ vùng đất lịch sử ở phía nam Lưỡng Hà, Nam Iraq ngày nay, tồn tại trong thời kỳ đồ đồng đáthời kỳ đồ đồng sớm, và là một trong những nền văn minh đầu tiên trên thế giới, cùng với Ai Cập cổ đại, Norte Chicovăn minh lưu vực sông Ấn.

Sumer

Cities of Sumer (en).svg
Các thành phố Sumer cổ đại với đường bờ biển cũ
Phạm vi địa lýLưỡng Hà, Cận Đông, Trung Đông
Thời kỳĐồ đá mới sau, Đồ đồng giữa
Thời điểmk. 4500 – k. 1900 BC
Tiền nhiệmThời kỳ Ubaid
Kế nhiệmĐế chế Akkad

Tên gọiSửa đổi

 
Nhân chủng học của người Sumer

Thuật ngữ "người Sumer" là cái tên thông dụng được đặt cho nhóm người định cư phi Semit ở Lưỡng Hà bởi người Akkad nói tiếng Đông Semit. Người Sumer tự gọi mình là ùĝ saĝ gíg-ga (chữ hình nêm: 𒌦 𒊕 𒈪 𒂵, phiên âm /uŋ saŋ giga/, nghĩa đen "người đầu đen"),[2] và gọi vùng đất của họ là ki-en-gi(-r) (chữ hình nêm: 𒆠𒂗𒄀, nghĩa đen 'đất' + 'chúa' + 'cao quý'), nghĩa là "vùng đất của Lãnh chúa". Người Akkad cũng gọi người Sumer là "người đầu đen", hay tsalmat-qaqqadi trong tiếng Akkad.[3]

Từ Shumer trong tiếng Akkad có thể là tên gọi địa lý trong phương ngữ, nhưng chưa thể xác định chắc chắn về sự phát triển âm vị dẫn đến thuật ngữ šumerû trong tiếng Akkad.[1][4] Từ Shinar trong tiếng Hebrew, từ Sngr trong tiếng Ai Cập, và Šanhar(a) trong tiếng Hitti, đều để chỉ vùng nam Lưỡng Hà, có thể là những biến thể phương tây của Sumer.[4]

Nguồn gốcSửa đổi

Phần lớn các nhà sử học cho rằng Sumer có người định cư đầu tiên từ k. 5500 đến 4000 TCN bởi một nhóm người Tây Á nói tiếng Sumer (thể hiện ở tên của các thành phố, dòng sông, nghề nghiệp cơ bản...), một loại ngôn ngữ biệt lập phi Semit, phi Ấn-Âu.[5][6][7][8][9] Trái ngược với ngôn ngữ Semit lân cận, tiếng Sumer không có biến tố.[5]

Những học giả khác đề xuất rằng người Sumer là một nhóm người Bắc Phi, di cư từ Sahara thời chưa hoang hóa đến Trung Đông, và đưa canh tác nông nghiệp tới khu vực này.[10] Lazaridis et al. 2016 mặc dù không nhắc đến người Sumer nhưng cho rằng văn hóa tiền-Semit ở Trung Đông có nguồn gốc Bắc Phi.[11] Mặt khác, một số phân tích gần đây về mẫu gen từ hài cốt người Lưỡng Hà cổ đại cho thấy người Sumer có thể có liên quan với người Ấn Độ, hoặc là ít nhất một phần trong số họ có liên quan đến người Dravidia ở Ấn Độ.[12]

Những người tiền sử này hiện được gọi là "người tiền-Euphrates" hay "người Ubaid",[13] và được cho là đã phát triển từ văn hóa Samarra ở phía bắc Lưỡng Hà.[14][15][16][17] Người Ubaid, dù không được nhắc tới bởi người Sumer, được cho là nhóm dân cư văn minh đầu tiên tại Sumer. Họ đã biết thoát nước các đầm lầy để làm nông nghiệp, phát triển thương mại, và tạo nên các ngành công nghiệp, bao gồm kéo sợi, thuộc da, gia công kim loại, nghề nề và làm đồ gốm.[13]

Một số học giả bác bỏ ý tưởng về một ngôn ngữ tiền-Euphrates hay một ngôn ngữ nền; họ cho rằng, ngôn ngữ Sumer ban đầu là ngôn ngữ của những người săn bắn và đánh cá sống tại vùng đầm lầy và ven biển phía đông Ả Rập và là một phần của nền văn hóa rìu đá mài hai mặt Ả Rập.[18] Các sử liệu đáng tin cậy xuất hiện muộn hơn nhiều và không có dấu tích nào có niên đại từ trước thời Enmebaragesi (k. thế kỉ 26 TCN). Juris Zarins tin rằng người Sumer sống ở dọc bờ biển Đông Ả Rập, vịnh Ba Tư ngày nay, trước khi khu vực bị ngập vào cuối kỷ Băng hà.[19]

Nền văn minh Sumer hình thành trong giai đoạn Uruk (thiên niên kỷ 4 trước Công nguyên), tiếp tục tới các giai đoạn Jemdat Nasr và Sơ kỳ Triều đại. Trong thiên niên kỷ 3 trước Công nguyên, một sự cộng sinh văn hóa đã phát triển giữa người Sumer (nói một ngôn ngữ cô lập) và người Akkad, dẫn đến sự phổ biến của việc sử dụng song ngôn ngữ.[20] Có thể thấy ảnh hưởng rõ rệt của người Sumer đối với người Akkad (và ngược lại) ở mọi lĩnh vực, từ việc mượn từ vựng ở quy mô lớn cho tới cú pháp, hình thái học, và âm vị học.[20] Điều này đã khiến các học giả gọi tiếng Sumer và tiếng Akkad ở thiên niên kỷ 3 trước Công nguyên là một cặp sprachbund (liên minh ngôn ngữ).[20]

Sumer mất dần quyền kiểm soát vào tay các thành bang Semit từ phía và cuối cùng bị chinh phục bởi các vị vua nói tiếng Semit của Đế chế Akkad vào khoảng năm 2270 trước Công nguyên, nhưng tiếng Sumer vẫn tiếp tục như một ngôn ngữ linh thiêng. Người Sumer bản địa giành lại quyền cai trị trong khoảng một thế kỷ ở thời Triều đại thứ ba của Ur vào khoảng 2100-2000 trước Công nguyên, nhưng ngôn ngữ Akkad vẫn tiếp tục được sử dụng.

Thành phố Eridu của Sumer, nằm trên bờ biển vịnh Ba Tư, được xem là một trong những thành phố đầu tiên trên thế giới, nơi dung hợp ba nền văn hóa khác nhau: những người nông dân Ubaid sống trong những ngôi nhà xây bằng gạch bùn và biết làm thủy lợi; người chăn thả du mục Semit sống trong những lều trại màu đen và đi theo các đàn cừu hay dê; và những người đánh cá sống trong những chiếc lều bằng sậy tại các đầm lầy, tất cả họ đều có thể là tổ tiên của người Sumer.[21]

Các thành bang tại Lưỡng HàSửa đổi

Tới cuối thiên niên kỷ 4 trước Công nguyên, Sumer được chia thành nhiều thành bang độc lập, được ngăn cách bởi các con kênh đào và các bức tường bao bằng đá. Mỗi thành bang có trung tâm là một ngôi đền thờ một thần bảo trợ riêng và được cai trị bởi một tu sĩ tổng trấn (ensi) hay một vị vua (lugal) có mối liên hệ đặc biệt với đền thờ.

Năm thành bang "đầu tiên" được cho là theo chế độ vương quyền tiền triều đại, trước trận lụt, theo Danh sách vua Sumer:

  1. Eridu (Tell Abu Shahrain)
  2. Bad-tibira (có thể là Tell al-Madain)
  3. Larsa (Tell as-Senkereh)
  4. Sippar (Tell Abu Habbah)
  5. Shuruppak (Tell Fara)

Các thành bang lớn khác:

  1. Uruk (Warka)
  2. Kish (Tell Uheimir & Ingharra)
  3. Ur (Tell al-Muqayyar)
  4. Nippur (Afak)
  5. Lagash (Tell al-Hiba)
  6. Girsu (Tello or Telloh)
  7. Umma (Tell Jokha)
  8. Hamazi 1
  9. Adab (Tell Bismaya)
  10. Mari (Tell Hariri) 2
  11. Akshak 1
  12. Akkad 1
  13. Isin (Ishan al-Bahriyat)

(1địa điểm không chắc chắn)
(2một thành bang phía ngoài ở phía bắc Lưỡng Hà)

Các thành bang nhỏ (từ nam ra bắc):

  1. Kuara (Tell al-Lahm)
  2. Zabala (Tell Ibzeikh)
  3. Kisurra (Tell Abu Hatab)
  4. Marad (Tell Wannat es-Sadum)
  5. Dilbat (Tell ed-Duleim)
  6. Borsippa (Birs Nimrud)
  7. Kutha (Tell Ibrahim)
  8. Der (al-Badra)
  9. Eshnunna (Tell Asmar)
  10. Nagar (Tell Brak) 2

(2một thành bang phía ngoài ở phía bắc Lưỡng Hà)

Ngoài Mari, nằm cách 330 km (205 mi) phía tây bắc Agade nhưng được xếp vào danh sách vua vì theo "chế độ vương quyền" ở Sơ kỳ Triều đại II, và Nagar, một tiền đồn, những thành phố này đều nằm trong đồng bằng phù sa Euphrates-Tigris, phía nam Baghdad, hiện nay là các vùng tổng trấn Bābil, Diyala, Wāsit, Dhi Qar, Basra, Al-MuthannāAl-Qādisiyyah của Iraq.

Lịch sửSửa đổi

Các thành bang Sumer nổi lên nắm quyền lực trong các giai đoạn tiền sử Ubaid và Uruk. Lịch sử bằng chữ viết của người Sumer có từ thế kỷ 27 trước Công nguyên và trước đó, nhưng dữ liệu lịch sử vẫn còn chưa sáng tỏ cho tới đầu giai đoạn Tiền Triều đại III, khoảng thế kỷ 23 trước Công nguyên, khi một hệ thống chữ viết âm tiết cổ được phát triển, đã cho phép các nhà khảo cổ học đọc được những dữ liệu lịch sử và văn bản thời đó. Sumer cổ đại kết thúc với sự trỗi dậy của Đế chế Akkad ở thế kỷ 23 trước Công nguyên. Tiếp theo giai đoạn Gutium, có một thời kỳ Phục hưng Sumer ngắn ở thế kỷ 21 trước Công nguyên, bị ngắt đoạn chỉ sau một thời gian ngắn ở thế kỷ 20 trước Công nguyên bởi những cuộc xâm lược của người Semit Amorite. "Triều đại Isin" Amorite tồn tại tới khoảng năm 1700 trước Công nguyên khi Lưỡng Hà được thống nhất dưới sự cai trị của Babylonia. Người Sumer cuối cùng bị hấp thụ vào trong dân số Akkad (Assyria-Babylonia).

  • Giai đoạn Ubaid: 5300 – 4100 trước Công nguyên (đồ gốm Đồ đá mới tới Đồ đồng đá)
  • Giai đoạn Uruk: 4100 – 2900 trước Công nguyên (Cuối Đồ đồng đá tới Đồ đồng mới I)
    • Uruk XIV-V: 4100 – 3300 trước Công nguyên
    • Giai đoạn Uruk IV: 3300 – 3000 trước Công nguyên
    • Giai đoạn Jemdet Nasr (Uruk III): 3000 – 2900 trước Công nguyên
  • Giai đoạn Tiền Triều đại (Đồ đồng mới II-IV)
    • Giai đoạn Tiền Triều đại I: 2900–2800 trước Công nguyên
    • Giai đoạn Tiền Triều đại II: 2800–2600 trước Công nguyên (Gilgamesh)
    • Giai đoạn Tiền Triều đại IIIa: 2600–2500 trước Công nguyên
    • Giai đoạn Tiền Triều đại IIIb: khoảng 2500–2334 trước Công nguyên
  • Giai đoạn Đế chế Akkad: khoảng 2334–2218 trước Công nguyên (Sargon)
  • Giai đoạn Gutium: khoảng 2218–2047 trước Công nguyên (Đầu thời kỳ đồ đồng IV)
  • Giai đoạn Ur III: khoảng 2047–1940 trước Công nguyên
 
Bát Samarra, tại Bảo tàng Pergamonm, Berlin. Chữ thập ngoặc ở giữa được khôi phục lại.[22]

Giai đoạn UbaidSửa đổi

Giai đoạn Ubaid được đánh dấu bằng một phong cách riêng biệt với đồ gốm màu chất lượng cao trải dài suốt Lưỡng Hà và vịnh Ba Tư. Trong thời gian này, khu định cư đầu tiên ở nam Lưỡng Hà được thành lập tại Eridu (Chữ hình nêm: NUN.KI), khoảng năm 5300 trước Công nguyên, bởi những người đã mang theo họ văn hóa Hadji Muhammed, lần đầu áp dụng nông nghiệp có thủy lợi. Nền văn hóa này có vẻ như xuất phát từ văn hóa Samarra từ phía bắc Lưỡng Hà. Chưa rõ liệu đây có phải là những người Sumer gắn với văn hóa Uruk sau này hay không. Eridu tiếp tục là một trung tâm tôn giáo quan trọng khi nó dần bị vượt qua về kích cỡ bởi thành phố Uruk lân cận. Truyền thuyết về các me (những nền tảng của văn minh) được trao cho Inanna, nữ thần bảo trợ của Uruk và là vị thần tình yêu và chiến tranh, từ Enki, vị thần trí tuệ của Eridu, có thể phản ánh sự dịch chuyển quyền lực nói trên.[23]

Giai đoạn UrukSửa đổi

 
Con dấu hình trụ của thời kỳ Uruk và bản ấn, k.3100 TCN. Bảo tàng Louvre .

Sự chuyển tiếp khảo cổ từ giai đoạn Ubaid tới giai đoạn Uruk được đánh dấu bởi sự chuyển đổi từ đồ gốm vẽ màu làm tại nhà bằng bàn xoay chậm sang đồ gốm không màu được sản xuất hàng loạt bởi thợ thủ công chuyên nghiệp bằng bàn xoay tốc độ nhanh.

Tới thời điểm giai đoạn Uruk (khoảng 4100–2900 trước Công nguyên), hàng hóa trao đổi được vận chuyển dọc theo những con kênh đào và sông phía nam Lưỡng Hà với khối lượng lớn đã tạo điều kiện thuận lợi cho trỗi dậy của nhiều thành bang lớn có phân chia đẳng cấp xoay quanh đền thờ (với dân số hơn 10,000 người), nơi chính quyền tập trung sử dụng những nhân công chuyên nghiệp. Khá chắc chắn rằng trong giai đoạn Uruk, các thành bang Sumer bắt đầu sử dụng lao động nô lệ bị bắt từ miền núi, và có nhiều bằng chứng về việc nô lệ bị bắt làm lao động trong những văn bản thời kỳ đầu. Các đồ thủ công, thậm chí các thuộc địa của văn minh Uruk đã được tìm thấy trên một khu vực rộng lớn — từ dãy núi Taurus ở Thổ Nhĩ Kỳ cho tới Địa Trung Hải ở phía tây, và xa về phía đông tới tận Trung Iran.[24]

Nền văn minh giai đoạn Uruk được lan rộng bởi các thương nhân và thực dân Sumer (như nền văn minh được tìm thấy tại Tell Brak), đã có ảnh hưởng trên những dân tộc xung quanh, những người dần phát triển các nền văn hóa và kinh tế cạnh tranh tương tự. Các thành bang Sumer đã không thể duy trì các thuộc địa ở xa bằng vũ lực.[24]

Các thành phố Sumer trong giai đoạn Uruk có thể theo thần quyền và được cai trị bởi một vị vua tu sĩ (ensi), được trợ giúp bởi một hội đồng nguyên lão, gồm cả nam giới và nữ giới.[25] Nhiều khả năng là hệ thống thần linh sau này của Sumer dựa theo mô hình chính trị này. Có ít bằng chứng về chiến tranh có tổ chức hay những binh sĩ chuyên nghiệp trong giai đoạn Uruk, và các thị trấn nói chung đều có tường bao. Trong giai đoạn này Uruk trở thành thành phố có mức độ đô thị hóa cao nhất trên thế giới, là nơi đầu tiên có dân số vượt quá 50.000 người.

Danh sách những vị vua Sumer gồm cả những Triều đại thời kỳ đầu của nhiều thành bang nổi tiếng từ giai đoạn này. Bộ tên đầu tiên trên danh sách là những vị vua được cho là đã cai trị trước trận đại hồng thủy. Những cái tên ban đầu này có thể là hư cấu, và bao gồm một số nhân vật thần thoại và huyền thoại như AlulimDumuzid.[26]

Sự kết thúc giai đoạn Uruk trùng với dao động Piora, một giai đoạn khô hanh khoảng từ năm 3200–2900 trước Công nguyên đánh dấu sự kết thúc của một thời kỳ ẩm ướt dài, giai đoạn khí hậu ấm hơn từ khoảng 9.000 tới 5.000 năm trước, được gọi là giai đoạn thời tiết thuận lợi Holocen.[27]

Giai đoạn Tiền Triều đạiSửa đổi

 
Mũ trụ bằng vàng của Meskalamdug, có thể là người sáng lập Vương triều Ur đầu tiên, thế kỷ 26 TCN.

Giai đoạn Tiền Triều đại bắt đầu khoảng năm 2900 trước Công nguyên, gắn liền với việc chuyển đổi từ tổ chức đền thờ cai trị bởi một hội đồng nguyên lão đứng đầu là "En" (là nam giới nếu ngôi đền thờ nữ thần, hoặc là nữ giới nếu ngôi đền thờ nam thần)[28] sang một lãnh tụ thế tục hơn là Lugal (Lu = ông, Gal = lớn) và bao gồm những nhân vật huyền thoại như Enmerkar, LugalbandaGilgamesh — những người cai trị một khoảng thời gian ngắn trước khi những ghi chép lịch sử bắt đầu khoảng năm 2700 trước Công nguyên, khi mà hệ thống âm tiết mã hóa bắt đầu phát triển từ chữ tượng hình sơ khai. Trung tâm văn hóa của Sumer vẫn ở phía nam Lưỡng Hà, dù những nhà cai trị sớm bắt đầu bành trướng tới những vùng xung quanh, và các dân tộc Semit đã tiếp thu phần lớn văn hóa Sumer.

Vị vua Triều đại đầu tiên trong danh sách vua Sumer có tên được nhắc đến trong các nguồn huyền thoại khác là Etana, vị vua thứ 13 của Triều đại thứ nhất của Kish. Vị vua đầu tiên được xác nhận qua bằng chứng khảo cổ là Enmebaragesi của Kish (khoảng thế kỷ 26 trước Công nguyên), tên của ông cũng được đề cập đến trong Sử thi Gilgamesh — dẫn tới suy đoán rằng chính Gilgamesh có thể đã là một vị vua lịch sử của Uruk. Như Sử thi Gilgamesh cho thấy, giai đoạn này gắn liền với sự chiến tranh leo thang. Các thành bang được xây tường bao, và gia tăng về kích cỡ trong khi những làng mạc không được bảo vệ ở phía nam Lưỡng Hà biến mất. (Cả Enmerkar và Gilgamesh đều được gắn với việc xây dựng tường thành Uruk[29]).

Triều đại thứ nhất của LagashSửa đổi

 
Mảnh bia chim kền kền của Eannatum

Khoảng 2500–2270 trước Công nguyên.

Triều đại của Lagash, mặc dù không có trong danh sách vua Sumer, đã được chứng thực với một số đền đài quan trọng và nhiều phát hiện khảo cổ.

Dù có thời gian tồn tại ngắn, một trong những đế chế đầu tiên được biết đến trong lịch sử là đế chế Eannatum của Lagash, người trên thực tế đã thống nhất toàn bộ Sumer, gồm cả Kish, Uruk, Ur, và Larsa, và bắt thành bang Umma, một đối thủ lớn của Lagash, phải thần phục. Thêm vào đó, vương quốc của ông mở rộng tới một số phần của Elam và dọc theo vịnh Ba Tư. Ông nổi tiếng với chính sách khủng bố kẻ thù một cách tàn bạo. Tấm bia chim kền kền được tìm thấy khắc họa cảnh thi thể quân địch của Eannatum bị đàn kền kền rỉa xác.[30] Đế chế của ông sụp đổ một thời gian ngắn sau khi ông qua đời.

Sau này, Lugal-Zage-Si, vị vua tu sĩ của Umma, đã lật đổ sự thống trị của Triều đại Lagash, sau đó chinh phục Uruk, biến nó thành thủ đô của mình, và tuyên bố xác lập một đế chế trải dài từ vịnh Ba Tư tới Địa Trung Hải. Ông là vị vua cuối cùng người Sumer trước Sargon của Akkad.[21]

Đế chế AkkadSửa đổi

Khoảng 2270 đến 2083 trước Công nguyên (biên niên sử rút gọn).

Ngôn ngữ Đông Semit, tiếng Akkad, lần đầu được xác thực qua tên của các vị vua Kish k.2800 trước Công nguyên[31] trong những danh sách vua sau này. Có những văn bản được viết hoàn toàn bằng tiếng Akkad có niên đại từ khoảng năm 2500 trước Công nguyên. Việc sử dụng tiếng Akkad cổ phổ biến nhất ở thời Sargon Đại đế (k. 2270–2215 trước Công nguyên), nhưng hầu hết các văn bản hành chính tiếp tục được viết bằng tiếng Sumer, ngôn ngữ được sử dụng bới các kinh sư. Gelb và Westenholz phân biệt ba giai đoạn của tiếng Akkad cổ: giai đoạn thời kỳ tiền Sargon, giao đoạn đế chế Akkad, và giai đoạn "Phục hưng Tân-Sumer" tiếp theo nó. Tiếng Akkad và tiếng Sumer cùng tồn tại như các ngôn ngữ bản địa trong khoảng một nghìn năm, nhưng vào khoảng năm 1800 trước Công nguyên, tiếng Sumer dần trở thành ngôn ngữ văn chương chủ yếu được sử dụng bởi các học giả và kinh sư. Thorkild Jacobsen đã cho rằng có ít sự gián đoạn trong tính tiếp nối lịch sử giữa các giai đoạn tiền và hậu Sargon, và các nghiên cứu nhấn mạnh quá mức vào quan niệm Semit xung đột với Sumer".[32] Tuy nhiên, có thể chắc chắn rằng tiếng Akkad đã được áp đặt một thời gian ngắn tại các vùng lân cận của Elam bị chinh phục trước đó bởi Sargon.

Giai đoạn GutiumSửa đổi

Khoảng 2083–2050 trước Công nguyên (biên niên sử rút gọn)

Triều đại thứ hai của LagashSửa đổi

Khoảng 2093–2046 trước Công nguyên (biên niên sử rút gọn)

Sau sự suy tàn của Đế chế Akkad dưới bàn tay của người Gutium, một nhà cai trị người Sumer khác, Gudea của Lagash, nổi lên và tiếp tục thực hiện những ước muốn thần thánh của các vị vua Sargonid. Giống Triều đại Lagash trước đó, Gudea và những hậu duệ của ông cũng khuyến khích phát triển nghệ thuật và để lại một số lượng đồ vật khảo cổ lớn.

Giai đoạn Ur IIISửa đổi

 
Đại Ziggurat của Ur, gần Nasiriyah, Iraq

Khoảng 2047–1940 trước Công nguyên (biên niên sử rút gọn)

Sau này, Triều đại thứ ba của Ur dưới sự cai trị của Ur-Nammu và Shulgi, mà sức mạnh mở rộng tới tận miền bắc Lưỡng Hà, là sự "Phục hưng Sumer" vĩ đại cuối cùng, nhưng khi ấy khu vực này đã trở nên Semit nhiều hơn là Sumer, với sự nổi lên nắm quyền của những người Akkad nói tiếng Semit, và làn sóng người Semit Martu (Amorite) tràn vào, trong bối cảnh nhiều trung tâm quyền lực địa phương cạnh tranh lẫn nhau bao gồm Isin, Larsa, và Babylon. Cuối cùng Babylon thống lĩnh phía nam Lưỡng Hà trở thành Đế chế Babylon, giống như Đế chế Assyria đã từng thực hiện ở phía bắc. Ngôn ngữ Sumer tiếp tục được coi là ngôn ngữ của giới tăng lữ được dạy trong các trường học ở Babylon và Assyria, cũng như tiếng Latin được dùng trong giai đoạn Trung cổ, khi chữ hình nêm vẫn được sử dụng.

Suy tànSửa đổi

Giai đoạn này nói chung diễn ra trùng khớp với một sự dịch chuyển dân số lớn từ phía nam tới phía bắc Lưỡng Hà. Về sinh thái học, sản lượng nông nghiệp của các vùng đất Sumer bị ảnh hưởng vì độ mặn ngày càng tăng của đất. Tình trạng mặn hóa đất trong vùng này đã được ghi nhận từ lâu như một vấn đề nghiêm trọng. Những vùng đất được tưới tiêu kém, trong một khu vực khí hậu khô cằn với tỷ lệ bốc hơi cao, dẫn tới việc tích tụ muối hòa tan trong đất, cuối cùng làm giảm mạnh sản lượng nông nghiệp. Trong các giai đoạn Akkad và Ur III, đã có sự dịch chuyển từ trồng lúa mì sang lúa mạch là loại cây chịu muối tốt hơn, nhưng điều này là không đủ, và trong giai đoạn từ năm 2100 tới 1700 trước Công nguyên, ước tính dân số trong khu vực này đã giảm tới ba phần năm.[33] Điều này làm suy yếu mạnh sự cân bằng quyền lực trong vùng, làm giảm vị thế các khu vực nói tiếng Sumer, và vì thế khiến những khu vực nói tiếng Akkad trở nên mạnh hơn. Vì vậy, tiếng Sumer chỉ còn lại là một thứ ngôn ngữ dùng trong văn học và tôn giáo, tương tự như vị thế của tiếng Latin ở châu Âu thời Trung Cổ.

Sau một cuộc xâm lược của người Elam và cướp bóc Ur trong thời cai trị của Ibbi-Sin (khoảng 1940 trước Công nguyên), Sumer nằm dưới sự cai trị của người Amorite (bắt đầu giữa thời kỳ đồ đồng). Nền độc lập của các quốc gia Amorites ở các thế kỷ XX và XVIII trước Công nguyên được gọi tóm tắt là "Triều đại của Isin" trong danh sách các vị vua Sumer, chấm dứt với sự nổi lên của Babylon dưới sự cai trị của Hammurabi khoảng năm 1700 trước Công nguyên.

Dân cưSửa đổi

 
Những người nông dân đầu tiên từ Samarra di cư tới Sumer, và xây dựng các điện thờ cùng các khu định cư tại Eridu.

Người Sumer là giống người phi Semit, và nói một ngôn ngữ cô lập; một số nhà ngôn ngữ tin rằng có thể tìm thấy dấu vết của một ngôn ngữ nền cổ bên dưới tiếng Sumer, bởi vì tên của một số thành phố lớn của Sumer không phải từ tiếng Sumer, cho thấy những ảnh hưởng của dân cư sống trước đó.[34] Tuy nhiên, bằng chứng khảo cổ cho thấy sự tiếp nối rõ ràng, không bị ngắt quãng từ thời Tiền giai đoạn Ubaid (5300 – 4700 trước Công nguyên C-14) của những khu định cư phía nam Lưỡng Hà. Người Sumer đã định cư ở đây canh tác trên những mảnh đất trong vùng đã được họ làm màu mỡ bằng trầm tích phù sa hai con sông TigrisEuphrates.

Một số nhà khảo cổ học cho rằng những người nói tiếng Sumer là những nông dân đã di cư xuống từ phía bắc, sau khi hoàn thiện hệ thống tưới tiêu nông nghiệp ở đó (lưu ý không có sự thống nhất giữa các học giả về nguồn gốc của người Sumer). Bình gốm Ubaid ở phía nam Lưỡng Hà đã được kết nối thông qua đồ gốm chuyển tiếp Choga Mami với đồ gồm của văn hóa giai đoạn Samarra (khoảng 5700 – 4900 trước Công nguyên C-14) ở phía bắc, người đầu tiên thực hiện một hình thức tưới tiêu nông nghiệp nguyên thủy dọc theo trung bộ sông Tigris và các phụ lưu của nó. Sự kết nối được nhìn thấy rõ nhất tại Tell Awayli (Oueilli, Oueili) gần Larsa, được người Pháp khai quật vào thập niên 1980, nơi tám cấp sản phẩm gốm tiền Ubaid giống với đồ gốm Samara. Những người nông dân tràn xuống về phía nam Lưỡng Hà bởi họ đã phát triển một tổ chức xã hội với đền đài làm trung tâm để huy động nhân lực và kỹ thuật cho việc kiểm soát thủy lợi, cho phép họ tồn tại và phát triển trong một môi trường khác biệt.[cần dẫn nguồn]

Những người khác đã cho rằng một sự tiếp nối của người Sumer, từ những truyền thống săn bắn – đánh bắt bản xứ, đi liền với những sự tụ tập hai mặt của người Ả rập được tìm thấy ở ven biển Ả rập. Chính người Sumer tuyên bố có quan hệ họ hàng với người Dilmun, liên kết với Bahrein tại vịnh Ba Tư. Giáo sư Juris Zarins tin rằng người Sumer có thể đã từng là người sống tại vùng vịnh Ba Tư trước khi nó bị ngập vào cuối Thời kỳ băng hà.[35]

Xã hội SumerSửa đổi

Đời sốngSửa đổi

 
Một bản tái dựng của Bảo tàng Anh về chiếc mũ và vòng cổ của phụ nữ trong một số ngôi mộ Sumer

Ở giai đoạn Sumer sớm (ví dụ như Uruk), những chữ tượng hình nguyên thủy cho thấy[36] rằng

  • "Có rất nhiều bình gốm, và các hình thức bình, bát và đĩa rất đa dạng; có những bình riêng biệt cho mật ong, bơ, dầu và rượu, có lẽ được làm từ quả chà là, và một loại bình có vòi ở một phía. Một số bình có chân, và được đặt trên những cái giá chân chéo; những chiếc khác có đáy phẳng, và được đặt trên khung hình vuông hay chữ nhật. Các bình đựng dầu – và có lẽ cả những loại bình khác – được gắn kín bằng đất sét, đúng như kiểu ở Ai Cập thời kỳ đầu. Các bình và đĩa đá được làm theo kiểu bình, đĩa đất sét, và những chiếc giỏ được bện bằng cói hay da."
  • "Họ đội một loại mũ lông chim. Giường, ghế đẩu và ghế dựa đã được sử dụng, với chân được đẽo giống chân bò mộng. Có nơi để nhóm lửa và nơi thờ lửa."
  • "Dao, khoan, nêm và một dụng cụ nhìn giống như cưa đã xuất hiện, trong khi giáo, cung, tên và dao găm (nhưng không có kiếm) đã được sử dụng trong chiến tranh."
  • "Các phiến đất sét được dùng để viết lên. Những chiếc dao găm với lưỡi kim loại và cán gỗ được sử dụng, và đồng được cán thành đĩa, trong khi vòng cổ và chuỗi hạt được làm từ vàng."
  • "Thời gian được tính theo lịch mặt trăng."

Có những bằng chứng đáng chú ý cho thấy người Sumer yêu âm nhạc, thứ dường như đã là một phần quan trọng của tôn giáo và đời sống dân sự tại Sumer. Đàn lia khá phổ biến tại Sumer, một trong những ví dụ đáng chú ý nhất là những chiếc đàn lia của Ur.

Những đoạn văn khắc miêu tả những cuộc cải cách của vua Urukagina của Lagash (khoảng 2300 trước Công nguyên) nói rằng ông đã xóa bỏ phong tục đa phu cũ trong vương quốc của mình, quy định một phụ nữ lấy nhiều chồng sẽ bị ném đá, trên đá có khắc tội lỗi của bà ta.[37]

Xã hội Sumer là xã hội phụ quyền và phân chia đẳng cấp. Bộ luật Ur-Nammu, bộ luật cổ nhất loại này từng được phát hiện, có niên đại từ thời Ur-III, tiết lộ ít nhiều về cấu trúc xã hội trong luật lệ Sumer. Bên dưới lu-gal ("ông-lớn" hay vua), tất cả thành viên xã hội thuộc về một trong hai đẳng cấp căn bản: "lu" hay người tự do, và nô lệ (nam giới, arad; phụ nữ geme). Con trai của một lu được gọi là một dumu-nita cho tới khi lấy vợ. Một phụ nữ (munus) khi chưa kết hôn là dumu-mi, khi làm vợ là dam, nếu là quả phụ - numasu thì có thể tái hôn với người trong cùng tộc.

Tôn giáoSửa đổi

 
Điêu khắc tạ ơn Tell Asmar 2750-2600 trước Công nguyên

Người Sumer coi các vị thần của họ là người chịu trách nhiệm cho tất cả các vấn đề liên quan đến các trật tự tự nhiên và xã hội.[38]:3–4

Trước khi xuất hiện vương quyền ở Sumer, các thành bang được cai trị một cách hiệu quả bởi các tu sĩ và chức sắc tôn giáo. Sau đó, vai trò này dần dần bị thay thế bởi các vị vua, nhưng các tu sĩ vẫn có ảnh hưởng lớn đến xã hội Sumer. Thời kỳ đầu, các ngôi đền Sumer là những công trình có cấu trúc một phòng đơn giản, thường được xây dựng trên nền đất cao. Đến thời kỳ cuối của nền văn minh Sumer, những ngôi đền này đã phát triển thành các ziggurat, cấu trúc cao dạng kim tự tháp với nơi thờ tự ở trên đỉnh.

Người Sumer tin rằng vũ trụ được sinh ra từ các thực thể khởi thủy. Có hai hệ thống thần thoại sáng thế riêng biệt. Ở hệ thống thứ nhất, Nammu, vùng biển nguyên thủy, sinh ra An (trời) và Ki (đất). Hai người giao phối và sinh ra Enlil. Enlil tách trời ra khỏi đất và trị vì mặt đất. Con người được cho là tạo ra bởi Enki, con trai của An và Nammu. Hệ thống thứ hai được nói đến trong sử thi Akkad sau này Enuma Elish, trong đó thế giới được tạo thành từ sự kết hợp giữa nước ngọt và nước mặn, nam thần Abzu và nữ thần Tiamat, tạo ra Lahm và Lahmu, rồi dần dần tạo ra các vị thần khác.

Tôn giáo Sumer có ảnh hưởng lớn đến niềm tin tôn giáo của các dân tộc Lưỡng Hà sau này; nhiều yếu tố của nó được lưu giữ trong các thần thoại và tôn giáo của người Hurri, người Akkad, người Babylon, người Assyria và các nhóm văn hóa Trung Đông khác. Nhiều học giả đã nhận thấy nhiều điểm tương đồng giữa những câu chuyện của người Sumer cổ đại và những ghi chép sau này trong phần đầu của Kinh thánh tiếng Do Thái..

Thần linhSửa đổi

Người Sumer tin vào đa thần. Không có một hệ thống thần linh chung cho toàn thể khu vực; mỗi thành bang có vị thần bảo trợ, đền đài và vị vua thầy tu riêng biệt. Các vị thần chính trong hệ thống thần Sumer bao gồm: An, thần của thiên giới; Enlil, thần gió và bão; Enki, thần nước và văn hóa nhân loại, Ninhursag, nữ thần đất và sinh sản, Utu, thần của mặt trời và công lý, và cha của ông Nanna, thần mặt trăng. Kể từ thời Akkad trở về sau, Inanna, nữ thần tình dục, sắc đẹp và chiến tranh, được tôn sùng rộng rãi trên khắp Sumer và xuất hiện trong nhiều huyền thoại, bao gồm cả truyền thuyết nổi tiếng về việc bà đi xuống Địa ngục.

 
Hệ thống thần Sumer-Akkad

Các vị thần này tạo nên một hệ thống thần cơ bản; ngoài ra còn có hàng trăm các vị thần nhỏ hơn khác. Các vị thần Sumer được gắn với các thành phố khác nhau và vai trò tôn giáo của họ thường hòa trộn với quyền lực chính trị của các thành phố đó. Các vị thần được cho là đã tạo ra con người từ đất sét để phục vụ họ. Trên thực tế, các đền thờ điều hành các dự án thủy lợi lớn yêu cầu một lượng lớn nhân công và các công dân nghĩa vụ lao động công ích phụng sự đền thờ, mặc dù có thể trả một số bạc để được miễn. Các cộng đồng nông nghiệp xoay quanh một đền thờ trung tâm ở Sumer duy trì một sự ổn định xã hội cho phép họ tồn tại qua bốn nghìn năm.

Thế giới quan vũ trụSửa đổi

Người Sumer hình dung vũ trụ là một mái vòm khép kín được bao quanh bởi một vùng biển nước mặn nguyên thủy.[39] Mái vòm úp lên trên mặt đất. Bên dưới mặt đất là địa phủ và vùng biển nước ngọt gọi là Apsû. Vị thần của vòm trời là An; vị thần của mặt đất là Ki. Ban đầu thế giới dưới lòng đất được cho là một phần mở rộng của nữ thần Ki, nhưng sau này đã dần phát triển khái niệm về Địa phủ Kur. Biển nước mặn nguyên thủy được đặt tên là Nammu, đến thời phục hưng hưng Sumer trở đi thì được biết đến như là Tiamat. Thiên giới chỉ dành riêng cho các vị thần còn tất cả linh hồn của người phàm sau khi chết, bất kể hành vi của họ khi còn sống, được cho là đi xuống Kur, một hang động tối tăm, lạnh lẽo nằm sâu dưới lòng đất, được cai trị bởi nữ thần Ereshkigal và loại thức ăn duy nhất ở đó là bụi đất. Sau này, Ereshkigal được cho là cai trị cùng với chồng là thần chết Nergal.[40]

Đền thờ và tổ chức đền thờSửa đổi

Các ziggurat (đền thờ Sumer) gồm một sân trước, với một cái ao ở giữa làm nơi tẩy rửa.[41] Đền có một gian giữa ở trung tâm với các hành lang dọc theo mỗi cạnh. Phía ngoài các hành lang là những phòng cho các tu sĩ. Ở một đầu cuối sẽ có bục và một bệ bằng gạch bùn để hiến tế động vật và thực vật. Các kho thócnhà kho thường được đặt ở gần đền thờ. Dần dần người Sumer bắt đầu đặt nơi thờ phụng trên đỉnh một cấu trúc lập phương nhiều tầng, xây theo dạng bậc thang nâng cao dần, và phong cách Ziggurat trở nên phổ biến.[42]

Kinh tế nông nghiệpSửa đổi

Nông nghiệp và săn bắtSửa đổi

Người Sumer đã áp dụng đời sống nông nghiệp có lẽ từ khoảng năm 5000 - 4500 trước Công nguyên. Trong vùng có dấu tích của một số kỹ thuật nông nghiệp cơ bản, bao gồm thủy lợi có tổ chức, trồng cấy tập trung trên quy mô lớn, chuyên canh có sử dụng cày và sử dụng nhân công chuyên nghiệp có quan lại quản lí. Nhu cầu trong công việc quản lý đền cùng với tổ chức hoạt động nông nghiệp đã dẫn tới sự phát triển của chữ viết (khoảng 3500 trước Công nguyên).

 
Từ những ngôi mộ hoàng gia của Ur, được làm từ đá xanh da trời và vỏ sò, thể hiện thời gian thái bình

Trong giai đoạn Uruk sớm, những chữ tượng hình nguyên thủy cho thấy cừu, , gia súc, và lợn đã được thuần hóa. Họ dùng bò đực làm súc vật thực hiện những công việc nặng và lừa hay súc vật họ ngựa làm phương tiện vận chuyển chính và "áo quần cũng như chăn len được làm từ len hay lông động vật... Bên cạnh nhà là một khu vườn có rào trồng cây và các loại thực vật khác; lúa mì và có lẽ các loại ngũ cốc khác được gieo trên các cánh đồng, và shaduf (cần múc nước) đã được dùng cho mục đích tưới tiêu. Các loại cây cũng được trồng trong chậu hay trong bình."[36]

Người Sumer là một trong những xã hội đầu tiên uống bia. Nguồn ngũ cốc dồi dào là thành phần chính làm nên những loại bia ban đầu. Họ nấu nhiều loại bia từ lúa mì, lúa mạch và các loại ngũ cốc hỗn hợp. Nấu bia là một công việc quan trọng đối với người Sumer. Trong Sử thi Gilgamesh, Enkidu được làm quen với thức ăn và bia từ những người dân của Gilgamesh: "Uống bia, vì đó là phong tục của vùng đất này... Anh ta uống bảy cốc bia! và trở nên sôi nổi và ca hát vui vẻ!"[43]

 
Một bản kê về việc phân chia lúa mạch được cấp hàng tháng cho những người trưởng thành và trẻ em được viết bằng chữ hình nêm trên bảng đất sét, viết vào năm thứ tư của Vua Urukagina, khoảng 2350 trước Công nguyên

Người Sumer thực hiện các kỹ thuật tưới tiêu tương tự như kỹ thuật được dùng tại Ai Cập.[44] Nhà nhân chủng học người Mỹ Robert McCormick Adams nói rằng sự phát triển thủy lợi đi liền với sự đô thị hóa,[45] và rằng 89% dân số sống trong các thành phố.[46]

Họ trồng lúa mạch, đậu xanh, đậu lăng, lúa mì, chà là, hành, tỏi, rau diếp, tỏi tâymù tạc. Người Sumer đánh bắt nhiều loại cá và săn bắt linh dương.[47]

Nông nghiệp Sumer phụ thuộc nhiều vào thủy lợi. Thủy lợi được thực hiện bằng cách sử dụng shaduf, kênh, mương, sông đào, đập nước, và hồ chứa. Những trận lụt lớn thường xuyên của sông Tigris, và ở tần suất thấp hơn của sông Euphrates, khiến các con kênh cần được tu sửa thường xuyên để nạo vét phù sa, và thay thế các cột tiêu và kè đá. Chính quyền yêu cầu người dân có nghĩa vụ lao dịch trên các con kênh, mặc dù người giàu có thể trả tiền để được miễn.

Như được biết đến trong "Niên lịch Nông dân Sumer", sau mùa lụt và sau Xuân phânAkitu (Lễ mừng năm mới), những người nông dân sẽ dẫn nước từ kênh để làm ngập ruộng rồi tháo nước. Sau đó họ dùng bò dẫm ruộng và diệt cỏ dại. Sau đó họ dùng cuốc chim để xới đất. Sau khi khô, họ cày, bừa, và cào đất ba lần, và làm tơi đất bằng cuốc chim, trước khi gieo hạt. Không may là độ bốc hơi nước cao khiến đất ngày càng bị mặn hóa. Tới giai đoạn Ur III, những người nông dân đã chuyển từ lúa mì sang lúa mạch, loại cây chịu mặn tốt hơn, làm cây trồng chính của mình.

Người Sumer thu hoạch vào mùa xuân với những tổ ba người gồm một người gặt, một người buộc lúa, và một người lượm.[48] Những người nông dân sau đó sẽ dùng máy đập do bò kéo để tách các hạt ngũ cốc khỏi thân lúa và sau đó dùng xe kéo để nghiền hạt. Rồi họ sàng sảy hỗn hợp hạt/trấu.

Kinh tế và thương mạiSửa đổi

 
Hóa đơn bán một nô lệ nam và một ngôi nhà tại Shuruppak, tấm thẻ Sumer, khoảng 2600 trước Công nguyên

Những khám phá về obsidian tại những vùng xa xôi ở Anatolialapis lazuli từ Badakhshan ở đông bắc Afghanistan, hạt cườm từ Dilmun (Bahrain hiện nay), và nhiều con dấu có ký tự Thung lũng sống Ấn cho thấy một mạng lưới thương mại cổ đại rất lớn tập trung quanh khu vực vịnh Ba Tư.

Sử thi Gilgamesh nhắc tới thương mại với những vùng đất xa xôi với những hàng hóa như gỗ là thứ khan hiếm ở Lưỡng Hà. Đặc biệt, cây tuyết tùng từ Liban được ưa chuộng. Việc tìm thấy nhựa thông trong mộ Hoàng hậu Puabi tại Ur, cho thấy nó đã được mua về từ tận Mozambique.

Người Sumer sử dụng nô lệ, mặc dù không phải là một thành phần lớn của nền kinh tế. Nữ nô lệ làm những việc như dệt vải, ép dầu, xay xát, và mang vác.

Những người thợ làm đồ gốm Sumer trang trí các bình gốm bằng sơn dầu tuyết tùng. Họ dùng một chiếc khoan cần cung để tạo ra lửa cần cho việc nung đồ gốm. Thợ nề và thợ kim hoàn Sumer đã biết sử dụng thạch cao (canxít), ngà voi, sắt, vàng, bạc, carnelian, và lưu ly.[49]

Giao thương với thung lũng sông ẤnSửa đổi

 
Chuỗi hạt có hoa văn được khắc màu trắng từ Nghĩa địa Hoàng gia, có niên đại từ Vương triều Ur đầu tiên, được cho là đến từ Thung lũng sông Ấn. Bảo tàng Anh.[50]
 
Các tuyến giao thương giữa Lưỡng Hà và Sông Ấn ngắn hơn đáng kể do mực nước biển thấp hơn trong thiên niên kỷ thứ 3 TCN.[51]

Bằng chứng cho việc nhập khẩu hàng hóa từ Thung lũng sông Ấn đến Ur có thể được tìm thấy từ khoảng 2350 TCN.[52] Nhiều vật dụng sử dụng vỏ sò là đặc trưng của bờ biển sông Ấn, đặc biệt là Trubinella PyrumFasciolaria Trapezium, đã được tìm thấy trong các địa điểm khảo cổ của Lưỡng Hà có niên đại khoảng 2500-2000 TCN.[53] Hạt Carnelian từ sông Ấn đã được tìm thấy trong khu lăng mộ Sumer ở Ur, Nghĩa trang Hoàng gia tại Ur, có niên đại 2600-2450 TCN.[54] Cụ thể, các hạt carnelian được chạm khắc màu trắng có lẽ được nhập từ Thung lũng Indus và được chế tạo bằng kỹ thuật khắc axit phát triển tại Harappans.[55][56][57] Lapis lazuli được Ai Cập nhập khẩu với số lượng lớn và đã được sử dụng trong nhiều ngôi mộ thời Naqada II (khoảng năm 3200 trước Công nguyên). Lapis lazuli có lẽ có nguồn gốc ở miền bắc Afghanistan, vì không có nguồn nào khác được biết, và phải được vận chuyển qua cao nguyên Iran đến Lưỡng Hà, và sau đó là Ai Cập.[58][59]

Một số con dấu sông Ấn với kí tự Harappa cũng đã được tìm thấy tại Lưỡng Hà, đặc biệt là ở Ur, BabylonKish.[60] [61] [62] [63] [64] [65]

Gudea, người cai trị Đế chế Tân Sumer tại Lagash, được ghi chép là đã nhập khẩu "carnelian mờ" từ Meluhha, thường được cho là khu vực Thung lũng sông Ấn. [66] Nhiều bản khắc khác nhau cũng đề cập đến sự hiện diện của các thương nhân và phiên dịch viên Meluhha ở Lưỡng Hà.[66] Khoảng hai mươi con dấu đã được tìm thấy từ các khu vực Akkad và Ur III, có mối liên hệ với Harappa và thường sử dụng các biểu tượng hoặc chữ viết của Harappa.[66]

Nền văn minh Thung lũng sông Ấn chỉ phát triển rực rỡ từ năm 2400 đến 1800 trước Công nguyên, nhưng tại thời điểm thực hiện những trao đổi này, nó là một thực thể lớn hơn nhiều so với nền văn minh Lưỡng Hà, có diện tích 1,2 triệu mét vuông với hàng ngàn khu định cư, so với đến một khu vực chỉ khoảng 65.000 mét vuông được sinh sống ở Lưỡng Hà, trong khi các thành phố lớn nhất có kích thước tương đương với khoảng 30-40.000 cư dân.[67]

Tiền và tín dụngSửa đổi

Các tổ chức lớn giữ tài khoản của họ bằng lúa mạchbạc, thường với một tỷ lệ cố định. Các nghĩa vụ, các khoản vay và giá cả nói chung thường được tính bằng các đơn vị này. Nhiều giao dịch liên quan đến nợ nần, ví dụ hàng hóa được đền thờ giao cho các thương nhân và bia được giao cho những "phụ nữ nấu bia". [68]

Tín dụng thương mại và cho vay tiêu dùng nông nghiệp là loại hình cho vay chính. Tín dụng thương mại thường được niêm yết bởi các đền thờ để tài trợ cho các cuộc thám hiểm thương mại và được yết giá bằng bạc. Lãi suất được đặt ở mức 1/60 một tháng (một shekel mỗi mina) từ khoảng trước năm 2000 trước Công nguyên và vẫn ở mức đó trong khoảng hai nghìn năm.[69] Các khoản vay nông thôn thường phát sinh do các nghĩa vụ chưa thanh toán với một tổ chức (chẳng hạn như một ngôi đền), trong trường hợp này các khoản nợ được coi là cho vay đối với con nợ.[69] Chúng được định giá bằng lúa mạch hoặc các loại cây trồng khác và lãi suất thường cao hơn nhiều so với các khoản vay thương mại và có thể lên tới 1/3 đến 1/2 số tiền gốc của khoản vay.[69]

Theo định kỳ, các nhà cai trị đã ký các sắc lệnh "phiến đá sạch" hủy bỏ tất cả các khoản nợ nông thôn (không phải thương mại) và cho phép các bên liên quan trở về nhà của họ. Theo thông lệ, các nhà cai trị thường làm điều đó vào đầu năm đầu tiên của triều đại của họ, nhưng cũng có thể tại thời điểm xung đột quân sự hoặc mất mùa. Những sắc lệnh đầu tiên được biết đến được thực hiện bởi Enmetena và Urukagina của Lagash vào năm 2400-2350 trước Công nguyên. Theo Hudson, mục đích của các sắc lệnh này là để ngăn chặn các khoản nợ gây ảnh hưởng đến lực lượng chiến đấu, điều này có thể xảy ra nếu nông dân bị mất đất sinh hoạt hoặc trở thành gia nô do không có khả năng trả nợ. [70]

Văn hóaSửa đổi

 
Dao găm vàng từ lăng mộ Sumerian PG 580, Nghĩa trang Hoàng gia tại Ur .

Ngôn ngữ và chữ viếtSửa đổi

 
Bảng chữ viết thời kỳ đầu ghi lại việc phân phát bia, 3100-3000 trước Công nguyêm

Những khám phá khảo cổ học quan trọng nhất tại Sumer là một số lượng lớn các bảng đất sét với các chữ hình nêm. Chữ viết của Sumer là hệ thống chữ viết cổ nhất từng được phát hiện trên thế giới. Đây được xem như một bước ngoặt vĩ đại trong sự phát triển của nhân loại, bằng việc ghi chép lại lịch sử và sáng tạo ra các tác phẩm văn học cũng như luật lệ và tôn giáo. Ban đầu những bức tranh – tương đương với chữ tượng hình – được sử dụng, sau đó đã phát triển nhanh chóng thành dạng chữ hình nêm và chữ kí hiệu. Các que sậy có đầu hình tam giác hay hình nêm nhọn được dùng để khắc trên những tấm bảng đất sét ẩm. Hàng trăm nghìn văn bản tiếng Sumer vẫn còn tồn tại, như thư tín cá nhân hay thương mại, hóa đơn, bảng từ vựng, luật pháp, thánh ca, lời cầu nguyện, các câu chuyện, những ghi chép hàng ngày. Một thư viện lớn lưu trữ các bảng đất sét đã được tìm thấy. Những ghi chép tại các đền đài và những văn bản trên các vật thể khác nhau như những bức tượng hay các viên gạch cũng rất phổ biến. Nhiều văn bản vẫn còn nhiều bản sao bởi chúng được sao chép liên tục bởi các kinh sư trong quá trình học nghề. Tiếng Sumer tiếp tục là ngôn ngữ của tôn giáo và pháp luật ở Lưỡng Hà một thời gian dài kể cả sau khi những người nói tiếng Semit đã ở vị thế thống trị.

Một ví dụ tiêu biểu cho chữ viết hình nêm được sử dụng trong văn chương là các bài thơ về Bilgamesh được viết bằng chữ hình nêm Sumer chuẩn. Các câu chuyện kể về một vị vua từ thời đầu Triều đại II là Gilgamesh (hay "Bilgamesh" trong tiếng Sumer) và cuộc phiêu lưu của ông cùng với người bạn là Enkidu. Đây được xem như ví dụ cổ nhất về một tác phẩm văn học hư cấu viết được tìm thấy cho đến thời điểm hiện tại.

Ngôn ngữ Sumer nói chung được coi như một ngôn ngữ cô lập trong ngôn ngữ học bởi nó không thuộc một ngữ hệ nào từng biết; tiếng Akkad, trái lại thuộc nhánh Semit của ngữ hệ Phi-Á. Đã có nhiều nỗ lực bất thành để liên kết tiếng Sumer với các nhóm ngôn ngữ khác. Nó là một ngôn ngữ chấp dính; nói cách khác, các hình vị ("đơn vị nghĩa") được thêm vào nhau để tạo ra các từ, không giống như các ngôn ngữ phân tích trong đó các hình vị chỉ hoàn toàn được thêm vào với nhau để tạo ra câu.

Hiện nay việc hiểu các văn bản tiếng Sumer gặp nhiều khó khăn, nhất là những văn bản thời kỳ đầu, mà trong nhiều trường hợp không có cấu trúc ngữ pháp đầy đủ mà có vẻ như là các bản nháp ghi nhớ của các kinh sư.

Trong thiên niên kỷ 3 trước Công nguyên, một sự cộng sinh văn hóa giữa người Sumer và người Akkad đã được phát triển, và sử dụng song ngôn ngữ trở nên phổ biến.[20] Sự ảnh hưởng của tiếng Sumer trên tiếng Akkad (và ngược lại) được thể hiện rõ nét trong tất cả các lĩnh vực, từ việc vay mượn từ vựng ở quy mô lớn, tới cú pháp, hình thái, và hội tụ âm vị.[20] Điều này đã khiến các học giả coi tiếng Sumer và tiếng Akkad ở thiên niên kỷ 3 trước Công nguyên như một sprachbund (liên minh ngôn ngữ).[20]

Tiếng Akkad dần thay thế tiếng Sumer như là ngôn ngữ nói thông dụng ở khoảng cuối thiên niên kỷ 3 đầu thiên niên kỷ 2 trước Công nguyên,[71] nhưng tiếng Sumer tiếp tục được sử dụng như một ngôn ngữ linh thiêng, nghi lễ, văn học và khoa học tại BabyloniaAssyria cho tới thế kỷ thứ I.[72]

Nghệ thuậtSửa đổi

Người Sumer là những người sáng tạo tuyệt vời, thể hiện qua nghệ thuật của họ. Các đồ tạo tác của người Sumer thể hiện rất nhiều chi tiết và hoa văn, với những loại đá bán quý được nhập khẩu từ các vùng đất khác, chẳng hạn như lapis lazuli, đá cẩm thạch, và diorite, và các kim loại quý như vàng cán. Vì đá rất hiếm nên nó được dành để điêu khắc. Vật liệu phổ biến nhất ở Sumer là đất sét, kết quả là nhiều đồ vật Sumer được làm từ đất sét. Các kim loại như vàng, bạc, đồng đỏ và đồng, cùng với vỏ sò và đá quý, được sử dụng để điêu khắc và chạm khảm. Những viên đá nhỏ bao gồm nhiều loại đá quý hơn như lapis lazuli, alabaster và serpentine được sử dụng cho con dấu hình trụ.


Một số tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng nhất là Đàn lia của Ur, được coi là loại nhạc cụ có dây còn tồn tại lâu đời thứ hai trên thế giới. Chúng được Leonard Woolley phát hiện khi khai quật Lăng mộ Hoàng gia Ur từ năm 1922 đến 1934.

Kiến trúc SumerSửa đổi

 
Đại Ziggurat của Ur (Vùng tổng trấn Dhi Qar, Iraq), được xây dựng trong Triều đại thứ ba của Ur (Phục hưng Sumer), thờ thần mặt trăng Nanna

Đồng bằng Tigris-Euphrates không có khoáng vật và cây gỗ. Các công trình xây dựng Sumer được làm bằng gạch bùn phẳng-lồi, không trộn với vữa hay xi măng. Những công trình bằng gạch bùn sau cùng sẽ xuống cấp, vì thế theo định kì chúng bị phá hủy, đắp cao lên và xây lại trên cùng địa điểm. Công việc xây dựng liên tục này dần khiến nền của các thành phố cao lên, và trở nên cao hơn vùng đồng bằng xung quanh. Kết quả là những ngọn đồi, được gọi là các tell, xuất hiện trên khắp Cận Đông cổ đại.

Theo Archibald Sayce, những văn bản chữ tượng hình nguyên thủy của người Sumer thời kỳ đầu (ví dụ như Uruk) cho thấy rằng "Đá rất hiếm, nhưng đã được cắt thành khối và con dấu. Gạch là vật liệu xây dựng thông thường của các thành phố, pháo đài, đền và nhà cửa. Thành phố có các ngọn tháp và được xây trên những nền đắp cao; nhà cửa cũng có dạng hình tháp. Cửa nhà có bản lề, và có thể đóng mở bằng một loại khóa; cổng thành phố lớn hơn và có vẻ như như được làm hai lớp. Các viên đá hay gạch móng nhà được làm phép bằng một số vật thể chôn bên dưới."[36]

Các công trình ấn tượng và nổi tiếng nhất của Sumer là các ziggurat, cấu trúc nhiều lớp nền nâng đỡ các ngôi đền. Những con dấu hình trụ của Sumer cũng thể hiện những ngôi nhà dựng từ lau sậy, nhưng không giống như kiểu nhà sậy của người Ả Rập đầm lầy ở phía nam Iraq những năm 400. Người Sumer cũng đã biết làm nhịp vòm, khiến họ có thể dựng dược nhà mái vòm kiên cố. Họ xây nó bằng cách dựng và nối các vòm cuốn. Các ngôi đền và cung điện Sumer sử dụng các kỹ thuật và vật liệu tiên tiến hơn, như trụ ốp tường, hốc tường, bán cột, và đinh đất sét.

Toán họcSửa đổi

Người Sumer đã phát triển một hệ thống đo lường phức tạp vào khoảng năm 4000 trước Công nguyên. Hệ thống đo lường tiên tiến này dẫn tới sự ra đời của số học, hình học, và đại số. Từ khoảng năm 2600 trước Công nguyên trở về sau, người Sumer đã viết nhiều bảng tính nhân trên tấm đất sét và đã biết giải các bài hình học và bài tính chia. Những dấu vết sớm nhất của chữ số Babylon cũng có từ giai đoạn này.[73] Giai đoạn khoảng năm 2700–2300 trước Công nguyên chứng kiến sự xuất hiện lần đầu của bảng tính, và một bảng gồm các cột liên tục phân định các trật tự liên tục của độ lớn của hệ thống số lục phân.[74] Người Sumer là những người đầu tiên sử dụng một hệ thống số giá trị vị trí. Cũng có bằng chứng từ các giai thoại rằng người Sumer có thể đã sử dụng một kiểu thước trượt trong việc tính toán thiên văn học. Họ là người đầu tiên tính ra diện tích của một hình tam giác và thể tích của một khối trụ.[75]

Quân sựSửa đổi

 
Những chiếc xe ngựa thời kỳ đầu tiêu chuẩn của Ur, khoảng 2600 trước Công nguyên
 
Các đội hình chiến trận trên một mảnh bia kền kền

Những cuộc chiến tranh hầu như liên tục giữa các thành bang Sumer trong 2000 năm đã giúp phát triển các kỹ thuật và công nghệ chiến tranh của Sumer tới một mức độ cao.[76] Cuộc chiến đầu tiên được ghi chép đầy đủ là cuộc chiến giữa Lagash và Umma vào khoảng năm 2525 trước Công nguyên trên một chiếc bia được gọi là bia kền kền. Nó thể hiện vị vua của Lagash chỉ huy một đội quân Sumer gồm chủ yếu là bộ binh. Những lính bộ binh mang giáo, đội mũ trụ đồng và mang các tấm khiên bằng da hình chữ nhật. Những người cầm giáo được thể hiện trong đội hình giống với đội hình phalanx, vốn đòi hỏi việc huấn luyện và kỷ luật; điều này cho thấy rằng người Sumer có thể đã sử dụng các chiến binh chuyên nghiệp.[77]

Quân đội Sumer sử dụng xe kéo bằng lừa. Những chiếc xe chiến thời kỳ đầu này hoạt động kém hiệu quả trong chiến trận hơn so với những bản thiết kế sau này và một số người đã cho rằng chúng chủ yếu chỉ được dùng như phương tiện vận tải, dù những người trên xe có được trang bị rìu chiến và thương. Cỗ xe của người Sumer bao gồm một đầu xe có hai hay bốn bánh được thắng vào bốn con lừa. Cỗ xe có một giỏ đan và bánh xe ba nan chắc chắn.

Các thành phố Sumer được bao quanh bởi tường thành. Chiến tranh của người Sumer thường có chiến lược vây thành, nhưng những bức tường thành làm bằng gạch bùn cũng có thể ngăn chặn một số kẻ thù

Công nghệSửa đổi

 
Một trò chơi bàn cờ của người Sumer

Những ví dụ về công nghệ của người Sumer bao gồm: bánh xe, chữ hình nêm, số họchình học, các hệ thống thủy lợi, những con tàu Sumer, lịch mặt trăng, lịch mặt trời, đồng, da, cưa, đục, búa, nẹp, hàm thiếc, đinh, ghim, nhẫn, cuốc, rìu, dao, mũi giáo, đầu mũi tên, kiếm, keo, dao găm, túi da đựng nước, túi xách, dây nịt, áo giáp, ống tên, xe ngựa chiến tranh, bao kiếm, ủng, dép, harponsbia.

Di sảnSửa đổi

Bằng chứng về các phương tiện có bánh xe đã xuất hiện từ giữa thiên niên kỷ thứ 4 trước Công nguyên, gần đồng thời tại Lưỡng Hà, Bắc Kavkaz (văn hóa Maikop) và Trung Âu. Bánh xe bắt đầu ở dạng bàn xoay đồ gốm. Ý tưởng này nhanh chóng được áp dụng vào các phương tiện di chuyển và cối xay. Sau chữ tượng hình Ai Cập, hệ thống chữ hình nêm của Sumer là hệ thống cổ thứ hai đã được giải mã (tình trạng của những hệ thống chữ viết còn cổ hơn như các biểu tượng Jiahu và các phiến đá Tartaria đang còn gây tranh cãi). Người Sumer là một trong số những nhà thiên văn học đầu tiên, đã vẽ bản đồ sao và nhóm vào các chòm sao, nhiều chòm sao vẫn còn tồn tại trong hoàng đạo và được người Hy Lạp cổ đại công nhận.[78] Họ cũng nhận biết được năm hành tinh có thể quan sát thấy bằng mắt thường.[79]

Người Sumer đã phát minh và phát triển số học bằng cách sử dụng nhiều hệ thống số khác nhau bao gồm một hệ cơ số hỗn hợp với một hệ thập phân thay thế và lục phân. Hệ lục phân này trở thành hệ thống số tiêu chuẩn tại Sumer và Babylon. Có thể họ đã phát minh ra các đội hình quân sự và đưa ra hệ thống phân chia căn bản giữa bộ binh, kỵ binh, và cung thủ. Họ phát triển các hệ thống hành chính và luật pháp sớm nhất được biết tới, được hoàn thiện bởi tòa án, nhà tù và lưu kí của chính quyền. Những thành bang thật sự đầu tiên đã xuất hiện ở Sumer, gần như đồng thời với những thực thể tương tự ở những nơi hiện nay là SyriaLiban. Nhiều thế kỷ sau khi phát minh chữ hình nêm, việc sử dụng chữ viết đã lần đầu tiên được mở rộng ra khỏi phạm vi các chứng nhận nợ/thanh toán và các bảng kiểm kê vào khoảng năm 2600 trước Công nguyên, để gửi thư từ, ghi chép lịch sử, huyền thoại, toán học, thiên văn học và các mục đích khác. Cùng với sự phổ biến của chữ viết, những trường học chính quy đầu tiên đã được thành lập, thường được lập ra bởi ngôi đền chính của thành bang.

Cuối cùng, người Sumer đã khởi đầu việc thuần hóa với nông nghiệpthủy lợi trên quy mô lớn. Lúa mì Emmer, lúa mạch, cừu (khởi đầu là cừu rừng), và gia súc (khởi đầu là bò rừng) là những loài đầu tiên được trồng và nuôi trên quy mô lớn.

Xem thêmSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Tiếng Akkad: Šumeru; Tiếng Sumer: kig̃ir, viết 𒆠𒂗𒄀 ki-en-gi và 𒆠𒂗𒂠 ki-en-ĝir15, tương đương với "Vùng đất của Lãnh chúa" hay "Quê hương". ĝir15 nghĩa là "bản địa" theo Từ điển Sumer Pennsylvania). Stiebing (1994) dịch là "Vùng đất của những Lãnh chúa Ánh sáng" (William Stiebing, Ancient Near Eastern History and Culture). Postgate (1994) dịch là "Vùng đất của những trái tim Sumer" (John Nicholas Postgate (1994). Early Mesopotamia: Society and Economy at the Dawn of History. Routledge (UK).

Dẫn nguồnSửa đổi

  1. ^ a ă “Sumerian Questions and Answers”. Sumerian.org. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  2. ^ W. Hallo, W. Simpson (1971). The Ancient Near East. New York: Harcourt, Brace, Jovanovich. tr. 28. 
  3. ^ Diakonoff, I. M.; D'I︠A︡konov, Igor' Mik︠h︡aílovich (1991). Early Antiquity (bằng tiếng Anh). University of Chicago Press. tr. 72. ISBN 978-0-226-14465-8. 
  4. ^ a ă K. van der Toorn, P. W. van der Horst (tháng 1 năm 1990). “Nimrod before and after the Bible”. The Harvard Theological Review 83 (1): 1–29. 
  5. ^ a ă Kramer, Samuel Noah (1988). In the World of Sumer: An Autobiography. Wayne State University Press. tr. 44. ISBN 9780814321218. 
  6. ^ “Ancient Mesopotamia. Teaching materials”. Oriental Institute in collaboration with Chicago Web Docent and eCUIP, The Digital Library. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2015. 
  7. ^ "The Ubaid Period (5500–4000 B.C.)" In Heilbrunn Timeline of Art History. Department of Ancient Near Eastern Art. The Metropolitan Museum of Art, New York (October 2003)
  8. ^ "Ubaid Culture", The British Museum”. 
  9. ^ "Beyond the Ubaid", (Carter, Rober A. and Graham, Philip, eds.), University of Durham, April 2006” (PDF). 
  10. ^ Arnaiz-Villena, Antonio; Martínez-Laso, Jorge; Gómez-Casado, Eduardo (31 tháng 1 năm 2000). Prehistoric Iberia: Genetics, Anthropology, and Linguistics : [proceedings of an International Conference on Prehistoric Iberia : Genetics, Anthropology, and Linguistics, Held November 16-17, 1998, in Madrid, Spain]. Springer Science & Business Media. tr. 22. ISBN 9780306463648. 
  11. ^ "Craniometric analyses have suggested an affinity between the Natufians and populations of north or sub-Saharan Africa, a result that finds some support from Y chromosome analysis which shows that the Natufians and successor Levantine Neolithic populations carried haplogroup E, of likely ultimate African origin, which has not been detected in other ancient males from West Eurasia. However, no affinity of Natufians to sub-Saharan Africans is evident in our genome-wide analysis, as present-day sub-Saharan Africans do not share more alleles with Natufians than with other ancient Eurasians" in Reich, David; Pinhasi, Ron; Patterson, Nick; Hovhannisyan, Nelli A.; Yengo, Loic; Wilson, James F.; Torroni, Antonio; Tönjes, Anke; Stumvoll, Michael (tháng 8 năm 2016). “Genomic insights into the origin of farming in the ancient Near East”. Nature 536 (7617): 419–424. Bibcode:2016Natur.536..419L. ISSN 1476-4687. PMC 5003663 Kiểm tra giá trị |pmc= (trợ giúp). doi:10.1038/nature19310. 
  12. ^ Płoszaj, Tomasz; Chaubey, Gyaneshwer; Jędrychowska-Dańska, Krystyna; Tomczyk, Jacek; Witas, Henryk W. (11 tháng 9 năm 2013). “mtDNA from the Early Bronze Age to the Roman Period Suggests a Genetic Link between the Indian Subcontinent and Mesopotamian Cradle of Civilization”. PLOS ONE (bằng tiếng Anh) 8 (9): 1–20. ISSN 1932-6203. PMC 3770703. doi:10.1371/journal.pone.0073682. 
  13. ^ a ă “Sumer (ancient region, Iraq)”. Britannica Online Encyclopedia. Britannica.com. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  14. ^ Kleniewski, Nancy; Thomas, Alexander R (ngày 26 tháng 3 năm 2010). “Cities, Change, and Conflict: A Political Economy of Urban Life”. ISBN 978-0-495-81222-7. 
  15. ^ Maisels, Charles Keith (1993). “The Near East: Archaeology in the "Cradle of Civilization". ISBN 978-0-415-04742-5. 
  16. ^ Maisels, Charles Keith (2001). “Early Civilizations of the Old World: The Formative Histories of Egypt, the Levant, Mesopotamia, India and China”. ISBN 978-0-415-10976-5. 
  17. ^ Shaw, Ian; Jameson, Robert (2002). “A dictionary of archaeology”. ISBN 978-0-631-23583-5. 
  18. ^ Margarethe Uepermann (2007), "Structuring the Late Stone Age of Southeastern Arabia" (Arabian Archaeology and Epigraphy Arabian Archaeology and Epigraphy Volume 3, Issue 2, pages 65–109)
  19. ^ Hamblin, Dora Jane (tháng 5 năm 1987). “Has the Garden of Eden been located at last?” (PDF). Smithsonian Magazine 18 (2). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2014. 
  20. ^ a ă â b c d Deutscher, Guy (2007). Syntactic Change in Akkadian: The Evolution of Sentential Complementation. Oxford University Press US. tr. 20–21. ISBN 978-0-19-953222-3. 
  21. ^ a ă Leick, Gwendolyn (2003), "Mesopotamia, the Invention of the City" (Penguin)
  22. ^ Stanley A. Freed, Research Pitfalls as a Result of the Restoration of Museum Specimens, Annals of the New York Academy of Sciences, Volume 376, The Research Potential of Anthropological Museum Collections pages 229–245, December 1981.
  23. ^ Wolkstein, Dianna and Kramer, Samuel Noah "Innana: Queen of Heaven and Earth".
  24. ^ a ă Algaze, Guillermo (2005) "The Uruk World System: The Dynamics of Expansion of Early Mesopotamian Civilization", (Second Edition, University of Chicago Press)
  25. ^ Jacobsen, Thorkild (Ed) (1939),"The Sumerian King List" (Oriental Institute of the University of Chicago; Assyriological Studies, No. 11.)
  26. ^ Jacobsen, Thorkild (1939) "Sumerian King List" (Univ of Chicago)
  27. ^ Lamb, Hubert H. (1995). Climate, History, and the Modern World. London: Routledge. ISBN 0-415-12735-1
  28. ^ Jacobsen, Thorkild (1976), "The Harps that Once...; Sumerian Poetry in Translation" and "Treasures of Darkness: a history of Mesopotamian Religion"
  29. ^ George, Andrew (Translator)(2003), "The Epic of Gilgamesh" (Penguin Classics)
  30. ^ Roux, Georges (1993), "Ancient Iraq" (Penguin)
  31. ^ Roux, Georges "Ancient Iraq" (Penguin Harmondsworth)
  32. ^ Toward the Image of Tammuz and Other Essays on Mesopotamian History and Culture by T. Jacobsen
  33. ^ Thompson, William R.; Hay, ID (2004). “Complexity, Diminishing Marginal Returns and Serial Mesopotamian Fragmentation” (PDF). Journal of World Systems Research 10 (3): 612–652. PMID 15517490. doi:10.1007/s00268-004-7605-z. 
  34. ^ Karen Rhea Nemet-Nejat (ngày 30 tháng 9 năm 1998). Daily life in ancient Mesopotamia. Greenwood Publishing Group. tr. 13. ISBN 978-0-313-29497-6. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2011. 
  35. ^ [1]
  36. ^ a ă â Sayce, Rev. A. H. (1908). The Archaeology of the Cuneiform Inscriptions (ấn bản 2). London, Brighton, New York: Society for Promoting Christian Knowledge. tr. 98–100. 
  37. ^ Gender and the Journal: Diaries and Academic Discourse p. 62 by Cinthia Gannett, 1992
  38. ^ Kramer, Samuel Noah (1963). The Sumerians: Their History, Culture, and Character. The Univ. of Chicago Press. ISBN 0-226-45238-7. 
  39. ^ “The Firmament and the Water Above” (PDF). Westminster Theological Journal 53 (1991), 232-233. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2010. 
  40. ^ Gods, Demons, and Symbols of Ancient Mesopotamia. Google Books. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  41. ^ Leick, Gwendolyn (2003), Mesopotamia: The Invention of the City' (Penguin)
  42. ^ Crawford, Harriet (1993), "Sumer and the Sumerians" (Cambridge University Press, (New York 1993)), ISBN 0-521-38850-3.
  43. ^ Gately, Iain (2008). Drink: A Cultural History of Alcohol. Gotham Books. tr. 5. ISBN 978-1-59240-303-5. 
  44. ^ Mackenzie, Donald Alexander (1927). Footprints of Early Man. Blackie & Son Limited. 
  45. ^ Adams, R. McC. (1981). Heartland of Cities. University of Chicago Press. 
  46. ^ http://cniss.wustl.edu/workshoppapers/gatpres2a.pdf[liên kết hỏng]
  47. ^ Tannahill, Reay (1968). The fine art of food. Folio Society. [cần số trang]
  48. ^ By the sweat of thy brow: Work in the Western world, Melvin Kranzberg, Joseph Gies, Putnam, 1975
  49. ^ Diplomacy by design: Luxury arts and an "international style" in the ancient Near East, 1400-1200 BCE, Marian H. Feldman, University of Chicago Press, 2006, pp. 120-121
  50. ^ British Museum notice: "Gold and carnelians beads. The two beads etched with patterns in white were probably imported from the Indus Valley. They were made by a technique developed by the Harappan civilization" Photograph of the necklace in question
  51. ^ Reade, Julian E. (2008). The Indus-Mesopotamia relationship reconsidered (Gs Elisabeth During Caspers). Archaeopress. tr. 12–14. ISBN 978-1-4073-0312-3. 
  52. ^ Reade, Julian E. (2008). The Indus-Mesopotamia relationship reconsidered (Gs Elisabeth During Caspers). Archaeopress. tr. 14–17. ISBN 978-1-4073-0312-3. 
  53. ^ Gensheimer, T. R. (1984). The Role of shell in Mesopotamia : evidence for trade exchange with Oman and the Indus Valley. tr. 71–72. 
  54. ^ McIntosh, Jane (2008). The Ancient Indus Valley: New Perspectives. ABC-CLIO. tr. 182–190. ISBN 9781576079072. 
  55. ^ For the etching technique, see MacKay, Ernest (1925). “Sumerian Connexions with Ancient India”. The Journal of the Royal Asiatic Society of Great Britain and Ireland (4): 699. JSTOR 25220818. 
  56. ^ British Museum notice: "Gold and carnelians beads. The two beads etched with patterns in white were probably imported from the Indus Valley. They were made by a technique developed by the Harappan civilization" Photograph of the necklace in question
  57. ^ Guimet, Musée (2016). Les Cités oubliées de l'Indus: Archéologie du Pakistan (bằng tiếng Pháp). FeniXX réédition numérique. tr. 355. ISBN 9782402052467. 
  58. ^ Demand, Nancy H. (2011). The Mediterranean Context of Early Greek History. John Wiley & Sons. tr. 71–72. ISBN 9781444342345. 
  59. ^ Rowlands, Michael J. (1987). Centre and Periphery in the Ancient World. Cambridge University Press. tr. 37. ISBN 9780521251037. 
  60. ^ For a full list of discoveries of Indus seals in Mesopotamia, see Reade, Julian (2013). Indian Ocean In Antiquity. Routledge. tr. 148–152. ISBN 9781136155314. 
  61. ^ For another list of Mesopotamian finds of Indus seals: Possehl, Gregory L. (2002). The Indus Civilization: A Contemporary Perspective. Rowman Altamira. tr. 221. ISBN 9780759101722. 
  62. ^ “Indus stamp-seal found in Ur BM 122187”. British Museum. “Indus stamp-seal discovered in Ur BM 123208”. British Museum. “Indus stamp-seal discovered in Ur BM 120228”. British Museum. 
  63. ^ Gadd, G. J. (1958). Seals of Ancient Indian style found at Ur. 
  64. ^ Podany, Amanda H. (2012). Brotherhood of Kings: How International Relations Shaped the Ancient Near East. Oxford University Press. tr. 49. ISBN 978-0-19-971829-0. 
  65. ^ Joan Aruz; Ronald Wallenfels (2003). Art of the First Cities: The Third Millennium B.C. from the Mediterranean to the Indus. tr. 246. ISBN 978-1-58839-043-1. Square-shaped Indus seals of fired steatite have been found at a few sites in Mesopotamia. 
  66. ^ a ă â McIntosh, Jane (2008). The Ancient Indus Valley: New Perspectives. ABC-CLIO. tr. 182–190. ISBN 9781576079072. 
  67. ^ Cotterell, Arthur (2011). Asia: A Concise History. John Wiley & Sons. tr. 42. ISBN 9780470829592. 
  68. ^ Hudson, Michael (1998). Michael Hudson and Marc Van De Mieroop, biên tập. Debt and Economic Renewal in the Ancient Near East. Bethesda, Maryland: CDL. tr. 23–35. ISBN 978-1-883053-71-0. 
  69. ^ a ă â Hudson, Michael (1998). Michael Hudson and Marc Van De Mieroop, biên tập. Debt and Economic Renewal in the Ancient Near East. Bethesda, Maryland: CDL. tr. 23–35. ISBN 978-1-883053-71-0. 
  70. ^ Hudson, Michael (1998). Michael Hudson and Marc Van De Mieroop, biên tập. Debt and Economic Renewal in the Ancient Near East. Bethesda, Maryland: CDL. tr. 23–35. ISBN 978-1-883053-71-0. 
  71. ^ Woods C. 2006 "Bilingualism, Scribal Learning, and the Death of Sumerian". In S.L. Sanders (ed) Margins of Writing, Origins of Culture: 91-120 Chicago
  72. ^ Campbell, Lyle; Mauricio J. Mixco (2007). A glossary of historical linguistics. Edinburgh University Press. tr. 196. ISBN 978-0-7486-2379-2. 
  73. ^ Duncan J. Melville (2003). Third Millennium Chronology, Third Millennium Mathematics. St. Lawrence University.
  74. ^ Ifrah 2001:11
  75. ^ Anderson, Marlow; Wilson, Robin J. (ngày 14 tháng 10 năm 2004). Sherlock Holmes in Babylon: and other tales of mathematical history. Google Books. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  76. ^ Roux, Georges (1992), "Ancient Iraq" (Penguin)
  77. ^ Winter, Irene J. (1985). "After the Battle is Over: The 'Stele of the Vultures' and the Beginning of Historical Narrative in the Art of the Ancient Near East". In Kessler, Herbert L.; Simpson, Marianna Shreve. Pictorial Narrative in Antiquity and the Middle Ages. Center for Advanced Study in the Visual Arts, Symposium Series IV 16. Washington, DC: National Gallery of Art. pp. 11–32. ISSN 0091-7338
  78. ^ Gary Thompson. “History of Constellation and Star Names”. Members.optusnet.com.au. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. [nguồn không đáng tin]
  79. ^ “Sumerian Questions and Answers”. Sumerian.org. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 

Đọc thêmSửa đổi

Ascalone, Enrico. 2007. Mesopotamia: Assyrians, Sumerians, Babylonians (Dictionaries of Civilizations; 1). Berkeley: University of California Press. ISBN 0-520-25266-7 (paperback).
Bottéro, Jean, André Finet, Bertrand Lafont, and George Roux. 2001. Everyday Life in Ancient Mesopotamia. Edingurgh: Edinburgh University Press, Baltimore: Johns Hopkins University Press.
Crawford, Harriet E. W. 2004. Sumer and the Sumerians. Cambridge: Cambridge University Press.
Leick, Gwendolyn. 2002. Mesopotamia: Invention of the City. London and New York: Penguin.
Lloyd, Seton. 1978. The Archaeology of Mesopotamia: From the Old Stone Age to the Persian Conquest. London: Thames and Hudson.
Nemet-Nejat, Karen Rhea. 1998. Daily Life in Ancient Mesopotamia. London and Westport, Conn.: Greenwood Press.
Kramer, Samuel Noah (1963). The Sumerians: Their History, Culture and Character. University of Chicago Press. ISBN 0-226-45238-7. 
Kramer, Samuel Noah. Sumerian Mythology: A Study of Spiritual and Literary Achievement in the Third Millennium BC.
Roux, Georges. 1992. Ancient Iraq, 560 pages. London: Penguin (earlier printings may have different pagination: 1966, 480 pages, Pelican; 1964, 431 pages, London: Allen and Urwin).
Schomp, Virginia. Ancient Mesopotamia: The Sumerians, Babylonians, And Assyrians.
Sumer: Cities of Eden (Timelife Lost Civilizations). Alexandria, VA: Time-Life Books, 1993 (hardcover, ISBN 0-8094-9887-1).
Woolley, C. Leonard. 1929. The Sumerians. Oxford: Clarendon Press.

Liên kết ngoàiSửa đổi

Địa lý
Ngôn ngữ