Phiến đất sét Đại hồng thủy từ Sử thi Gilgamesh, lấy từ tàn tích thư viện Ashurbanipal, thế kỉ thứ 7 TCN, hiện đang trưng bày ở Bảo tàng Anh

Sử thi Gilgamesh [a] là một thiên anh hùng ca Lưỡng Hà, thường được xem là tác phẩm văn học cổ nhất còn tồn tại và là thư tịch tôn giáo lâu đời thứ hai, chỉ sau Văn tự Kim tự tháp. Sử thi Gilgamesh khởi nguồn từ năm bài thơ Sumer về Bilgamesh (Tiếng Sumer cho "Gilgamesh"), vua của Uruk, có niên đại từ Triều đại thứ ba của Ur (k. 2100 BC). Người Akkad sau này đã sử dụng chất liệu từ các câu chuyện độc lập này để soạn thành Sử thi Gilgamesh. Phiên bản đầu tiên còn sót lại của thiên sử thi hợp nhất này, được gọi là phiên bản "Cựu Babylonia" có từ thế kỷ 18 trước Công nguyên và được đặt tên theo incipit (lời mở đầu) của , Shūtur eli sharrī ("Vượt qua tất cả các vị vua khác"), chỉ còn lại một vài phiến đất sét. Các phiên bản "chuẩn" sau này được biên soạn bởi Sin-lēqi-unninni, trong khoảng từ thế kỉ 13 đến thế kỷ 10 trước Công nguyên và mang incipit Sha naqba īmuru ("Người đã Nhìn thấy Vực thẳm", trong thuật ngữ hiện đại: "Người Thấy Những điều chưa biết"). Khoảng hai phần ba trong số mười hai phiến đất sét của phiên bản này đã được phục hồi. Một số bản sao nguyên vẹn nhất được phát hiện trong tàn tích thư viện của Ashurbanipal, vị vua Assyria ở thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên.

Nửa đầu của câu chuyện nói về Gilgamesh, vua của UrukEnkidu, một người hoang dã được tạo ra bởi các vị thần tạo ra để ngăn chặn sự bạo ngược của Gilgamesh. Enkidu được khai hóa sau khi tiếp xúc với một nữ tư tế. Anh ta tới Uruk để thách đấu Gilgamesh. Gilgamesh đã chiến thắng; tuy nhiên, sau đó hai người trở thành bạn bè. Họ cùng nhau thực hiện một cuộc hành trình kéo dài sáu ngày đến Rừng tuyết tùng huyền bí, nơi họ giết chết Kẻ gác rừng, Humbaba Khủng khiếp và đốn hạ cây tuyết tùng linh thiêng.[5] Nữ thần Ishtar muốn Gilgamesh trở thành chồng của mình, nhưng anh từ chối. Cảm thấy bị sỉ nhục, nữ thần đã cử Thiên ngưu đến để trừng phạt Gilgamesh. Anh và Enkidu giết chết Thiên ngưu, khiến cho các vị thần quyết định phán Enkidu tội chết.

Trong nửa sau của thiên anh hùng ca, đau đớn trước cái chết của người bạn thân, Gilgamesh quyết định thực hiện một hành trình dài và nguy hiểm để khám phá bí mật của cuộc sống vĩnh cửu. Đến cuối cùng, anh nhận ra "Cuộc sống mà ngươi kiếm tìm, ngươi sẽ không bao giờ tìm thấy. Vì khi các vị thần tạo ra con người, họ đã ban tặng cái chết kèm theo, và giữ lại sự sống cho riêng mình". [6] [7]

Lịch sửSửa đổi

 
Phù điêu Assyria cổ đại hiện đang được trưng bày ở Louvre, có thể mô tả Gilgamesh.

Sử thi được tổng hợp từ các nguồn khác nhau trong khoảng thời gian hơn 2000 năm. Những bài thơ Sumer ban đầu hiện nay thường được coi như những câu chuyện riêng biệt, chứ không nằm trong cùng mạch truyện.[8]:45 Chúng có niên đại từ đầu triều đại thứ ba của Ur (k. 2100 BC).:41–42 :41–42 Các phiến đất sét Cựu Babylon (k. 1800 BC),:45 là những phiến đất sét lâu đời nhất còn tồn tại có một mạch truyện Gilgamesh thống nhất. [9] Các phiến đất sét Cựu Babylon và phiên bản tiếng Akkad (Akkadian) sau này là nguồn quan trọng cho các bản dịch hiện đại, còn các văn bản cổ hơn chủ yếu được sử dụng để lấp vào các khoảng trống (lacunae) trong các văn bản sau này. Mặc dù có một số phiên bản chỉnh sửa lại dựa trên những khám phá mới đã được xuất bản, sử thi vẫn chưa được phục dựng hoàn chỉnh.[10] Phân tích về văn bản tiếng Babylon cổ đã được sử dụng để tái hiện các hình thức có thể có trước đây của Sử thi Gilgamesh.[11] Phiên bản Akkadian gần đây nhất (k. 1200 BC), còn được gọi là phiên bản tiêu chuẩn, bao gồm mười hai phiến đất sét, đã được Sin-liqe-unsinni[12] biên tập và được tìm thấy tại di tích Thư viện AshurbanipalNineveh.[13]

Sử thi Gilgamesh được phát hiện bởi Austen Henry Layard, Hormuzd RassamW.K. Loftus vào năm 1853.[14] Nhân vật trung tâm của Gilgamesh ban đầu được công bố là "Izdubar", trước khi các kí tự hình nêm trong tên của ông được phát âm chính xác. Bản dịch hiện đại đầu tiên được xuất bản vào đầu những năm 1870 bởi George Smith.[15] Smith sau đó đã khám phá thêm nhiều về các đoạn văn bản trong các cuộc thám hiểm sau này của mình, mà đỉnh cao là bản dịch cuối cùng của ông được giới thiệu trong cuốn sách Phiên bản Sáng thế kí Chaldaea (1880).

Bản dịch hiện đại chính xác nhất là một công trình nghiên cứu gồm hai tập của Andrew George, được xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Oxford năm 2003. Một học giả Cambridge, Eleanor Robson, cho rằng tác phẩm của George là công trình nghiên cứu quan trọng nhất về Gilgamesh trong suốt 70 năm qua.[16]

Việc phát hiện ra các cổ vật (k. 2600 BC) liên quan đến Enmebaragesi của Kish, người được nhắc đến trong các truyền thuyết với tư cách là vua cha của một trong những kẻ thù của Gilgamesh, đã khiến nhiều nhà sử học tin rằng Gilgamesh là nhân vật có thật trong lịch sử. [8] :40–41

Năm 1998, nhà sử học người Mỹ Theodore Kwasman đã phát hiện ra một mảnh vỡ được cho là chứa những dòng sử thi đầu tiên trong kho của Bảo tàng Anh. Mảnh vỡ được tìm thấy vào năm 1878 và có niên đại từ 600 TCN đến 100 TCN, không hề được nghiên cứu kể từ khi được khai quật.[17] Chữ viết trên mảnh vỡ: "Người nhìn thấy tất cả, người là nền móng của đất nước, người biết (mọi thứ), thông thái trong mọi vấn đề: Gilgamesh."[18]

Phiên bảnSửa đổi

Từ các nguồn khác nhau được tìm thấy, hai phiên bản chính của sử thi đã phần nào được phục dựng: phiên bản Akkadian tiêu chuẩn, hay Người đã Nhìn thấy Vực thẳm, và phiên bản Cựu Babylon, hay Vượt qua tất cả các vị vua khác. Năm bài thơ tiếng Sumer trước đó về Gilgamesh đã được phục hồi một phần, một số có viết các phiên bản nguyên thủy của một số đoạn trong phiên bản Akkadian, một số viết những câu chuyện không liên quan khác.

Phiên bản Akkadian tiêu chuẩnSửa đổi

Phiên bản tiêu chuẩn được phát hiện bởi Hormuzd Rassam tại thư viện Ashurbanipal ở Nineveh năm 1853. Nó được viết theo một phương ngữ của Akkadian vốn được sử dụng cho mục đích văn chương. Phiên bản này được Sin-liqe-unlinni biên soạn vào khoảng năm 1300 đến 1000 trước Công nguyên từ các văn bản trước đó.

Nội dung của các phiến đất sét được tóm tắt dưới đây dựa trên bản dịch của Andrew George.[10]

Phiến thứ nhấtSửa đổi

Gilgamesh, vua của Uruk, với hai phần ba dòng máu thần và một phần ba dòng máu con người, là một bạo chúa đàn áp dân chúng. Họ cầu cứu sự giúp đỡ từ các vị thần. Đối với những phụ nữ trẻ của Uruk, hắn đòi hỏi quyền hưởng đêm đầu, hoặc "quyền của chúa tể", ngủ với cô dâu trong đêm tân hôn của họ. Đối với những chàng trai trẻ (phiến đất sét bị hư hại ở đoạn này), người ta phỏng đoán rằng Gilgamesh bắt họ tham gia các cuộc thi đấu đến kiệt sức hoặc là lao động cưỡng bức trong các công trình xây dựng. Các vị thần đáp lại lời cầu nguyện bằng cách tạo ra một người có sức mạnh ngang bằng với Gilgamesh từ bùn và đất sét. Đó là một người hoang dã, Enkidu, phủ đầy lông lá và sống trong rừng cùng với các loài động vật. Một người thợ săn phát hiện ra Enkidu giúp thú vật thoát khỏi bẫy rập khiến ông ta không săn bắt được gì, nên đã cầu xin Thần mặt trời Shamash cử Shamhat, một kĩ nữ/nữ tu ở đền thờ, đến để thuần hóa Enkidu. Sau sáu ngày bảy đêm (hoặc hai tuần, theo các học giả gần đây[19]) làm tình và dạy Enkidu cách sống khai hóa, nàng đưa Enkidu đến trại của người chăn cừu để học cách làm con người. Trong khi đó, Gilgamesh mơ thấy mình sắp có một người bạn đồng hành thân thiết mới nên nhờ mẹ của mình, nữ thần Ninsun, giúp giải thích những giấc mơ này.

Phiến thứ haiSửa đổi

Shamhat mang Enkidu đến trại chăn cừu, nơi chàng được hướng dẫn về cách ăn uống của con người và trở thành một người gác đêm. Sau khi biết từ một người qua đường về cách Gilgamesh đối xử với các cô dâu mới, Enkidu đã nổi giận và tới Uruk để ngăn cản Gilgamesh. Khi Gilgamesh định vào phòng tân hôn, Enkidu chặn đường hắn và họ giao đấu. Sau một trận chiến khốc liệt, Enkidu thừa nhận sức mạnh vượt trội của Gilgamesh và họ trở thành bạn bè. Gilgamesh đề xuất một cuộc hành trình đến Rừng tuyết tùng giết chết quái vật bán thần Humbaba để trở nên nổi tiếng. Bất chấp cảnh báo từ Enkidu và các bô lão, Gilgamesh không hề mảy may run sợ.

Phiến thứ baSửa đổi

Các bô lão cho Gilgamesh lời khuyên cho hành trình sắp tới. Gilgamesh đến thăm mẹ của mình, nữ thần Ninsun, và nhờ bà xin sự hỗ trợ và bảo vệ của thần mặt trời Shamash cho cuộc phiêu lưu của họ. Ninsun nhận Enkidu làm con trai, và Gilgamesh để lại những chỉ dẫn về việc cai trị Uruk lúc chàng vắng mặt.

Phiến thứ tưSửa đổi

Gilgamesh và Enkidu lên đường đến Rừng tuyết tùng. Cứ cách vài ngày, họ dựng lều trên một ngọn núi, và thực hiện một nghi lễ giấc mơ. Gilgamesh có năm giấc mơ kinh hoàng về những ngọn núi đổ sụp, giông bão, bò rừng và một con chim sấm sét thở ra lửa. Mặc dù có sự tương đồng giữa những nhân vật trong mơ và những mô tả trước đó về Humbaba, Enkidu diễn giải những giấc mơ này là điềm báo tốt, phủ nhận rằng những hình ảnh đáng sợ này đại diện cho Kẻ gác rừng. Khi đến gần ngọn núi tuyết tùng, họ nghe thấy tiếng Humbaba gầm lên, và động viên nhau đừng run sợ.

Phiến thứ nămSửa đổi
 
Phiến đất sét V của sử thi Gilgamesh
 
Mặt sau của phiến V mới được phát hiện của Sử thi Gilgamesh . Nó có niên đại từ thời Babylon cổ đại, 2003-1595 trước Công nguyên và hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Sulaymaniyah, Iraq.

Các anh hùng bước vào khu rừng tuyết tùng. Humbaba, kẻ bảo vệ Rừng tuyết tùng, lăng mạ và đe dọa họ. Hắn gọi Enkidu là kẻ phản bội thiên nhiên, và thề sẽ mổ bụng Gilgamesh rồi ném cho chim ăn. Gilgamesh lo sợ, nhưng được Enkidu khích lệ, chàng bắt đầu trận chiến. Những ngọn núi ầm ầm rung chuyển và bầu trời biến thành màu đen. Thần Shamash đã gửi tới 13 cơn gió để trói Humbaba, và hắn ta bị bắt. Humbaba cầu xin được sống, khiến Gilgamesh mủi lòng thương. Hắn mời Gilgamesh làm Chúa tể của rừng, hứa sẽ đốn cây cho chàng và làm nô lệ của chàng. Tuy nhiên Enkidu cho rằng Gilgamesh nên giết Humbaba để lưu danh thiên cổ. Humbaba nguyền rủa cả hai và Gilgamesh chém đầu hắn, cùng với bảy đứa con trai.[19] Hai anh hùng đã chặt hạ nhiều cây tuyết tùng, trong đó có một gốc cây khổng lồ mà Enkidu định dùng làm cổng cho ngôi đền thờ Enlil. Họ đóng một chiếc bè và xuôi thuyền trở về dọc theo sông Euphrates cùng với cái cây khổng lồ và (có thể là) thủ cấp của Humbaba.

Phiến thứ sáuSửa đổi

Gilgamesh khước từ nữ thần Ishtar vì nàng nổi tiếng cư xử tàn ác với với những tình nhân trước đây, như Dumuzid. Để trả thù, Ishtar hỏi cha mình, thần Anu, cử Thiên ngưu Gugalanna xuống để trừng phạt Gilgamesh. Khi Anu không đồng ý, Ishtar đe dọa sẽ làm người chết sống dậy, "áp đảo số người sống" và "nuốt chửng họ". Anu trở nên sợ hãi và nhượng bộ. Ishtar dẫn Gugalanna đến Uruk và tàn phá mọi thứ. Nó uống cạn nước sông Euphrates, làm đầm lầy khô cằn. Nó đào những cái hố khổng lồ nuốt chửng 300 người đàn ông. Không dùng đến bất kỳ sự trợ giúp thần thánh nào, Enkidu và Gilgamesh tấn công và giết chết con bò, và dâng trái tim của nó cho Shamash. Nhìn thấy Ishtar khóc, Enkidu ném một phần xác con bò vào mặt nàng và quát mắng nàng. Thành phố Uruk ăn mừng chiến thắng, nhưng Enkidu có một giấc mơ đáng sợ về tương lai của mình.

Phiến thứ bảySửa đổi

Trong giấc mơ của Enkidu, các vị thần đã phán quyết một trong hai vị anh hùng phải chết vì đã giết chết Humbaba và Gugalanna. Bất chấp sự phản đối của Shamash, Enkidu bị phán tội chết. Enkidu nguyền rủa cánh cổng khổng lồ mà chàng đã dựng cho đền thờ Extil. Chàng cũng nguyền rủa người thợ săn và Shamhat vì đã tách rời chàng khỏi tự nhiên. Shamash nhắc nhở Enkidu về cách Shamhat cho chàng ăn, mặc cho chàng quần áo, và dẫn chàng đến với Gilgamesh. Shamash nói với chàng rằng, Gilgamesh sẽ cho chàng những vinh dự lớn lao nhất trong lễ tang chàng, và sẽ lang thang cô độc trong thế giới hoang dã, gặm nhấm nỗi đau mất đi người bạn thân. Enkidu trở nên hối hận về những lời nguyền rủa của mình và cầu phúc cho Shamhat. Tuy nhiên, trong giấc mơ thứ hai, chàng thấy mình bị giam cầm tại Cõi âm bởi một vị thần chết đáng sợ. Cõi âm là một nơi đầy bụi và bóng tối, cư dân ở đó ăn đất sét và mặc áo lông chim, bị giám sát bởi những sinh vật đáng sợ. Suốt 12 ngày, tình trạng của Enkidu trở nên ngày một tồi tệ. Chàng than rằng mình đã không chết như một người hùng giữa một trận chiến, rồi trút hơi thở cuối cùng. Gilgamesh ôm lấy cơ thể của Enkidu suốt nhiều ngày, phủ nhận rằng chàng đã chết, cho tới khi chàng thấy một con giòi rơi ra từ mũi của xác chết.

Phiến thứ támSửa đổi

Gilgamesh đọc một bài điếu văn cho Enkidu, và kêu gọi khắp núi rừng, ruộng đồng, sông hồ, muông thú và toàn thể Uruk khóc than cho bạn mình. Nhớ lại cuộc phiêu lưu cùng nhau, Gilgamesh rơi lệ ướt đẫm tóc và quần áo. Chàng cho dựng một bức tượng lớn, và lấy từ trong kho báu của mình những báu vật quý giá nhất để bồi táng theo Enkidu. Một bữa tiệc lớn được tổ chức để dâng các báu vật lên cho những vị thần Cõi âm. Đoạn tiếp theo phiến đất sét bị vỡ, người ta đoán rằng nói về một khúc sông được đắp đập, ám chỉ việc thủy táng, như trong bài thơ Sumerian tương ứng, Cái chết của Gilgamesh .

Phiến thứ chínSửa đổi

Phiến thứ chín mở đầu với cảnh Gilgamesh đi lang thang trên đồng hoang, khoác da thú, khóc than cho Enkidu. Chàng trở nên sợ hãi trước cái chết của chính mình, nên đã quyết định đi tìm kiếm ngài Utnapishtim ("Người Xa xôi") để tìm hiểu bí mật của cuộc sống vĩnh cửu. Nằm trong số ít những người sống sót sau trận đại hồng thủy, Utnapishtim và vợ là những người duy nhất được các vị thần ban cho sự bất tử. Gilgamesh băng qua một ngọn núi vào ban đêm và chạm trán một đàn sư tử. Trước khi ngủ, chàng cầu nguyện sự bảo vệ từ thần mặt trăng Sin. Sau khi nhận được những lời khích lệ từ một giấc mơ, chàng tỉnh dậy và giết hết đàn sư tử, lột da của chúng để làm áo. Sau một hành trình dài và đầy nguy hiểm, Gilgamesh đến đỉnh núi song sinh Mashu ở nơi tận cùng thế giới. Chàng đi qua một đường hầm chưa từng có ai bước vào, được bảo vệ bởi hai con quái vật bọ cạp, dường như là một cặp vợ chồng. Người chồng cố ngăn cản Gilgamesh, nhưng người vợ đã mủi lòng thương trước nỗi niềm của Gilgamesh, và (theo bản biên tập của Benjamin Foster) cho phép chàng đi qua. Chàng băng qua những ngọn núi dọc theo Con đường Mặt trời. Suốt "12 giờ gấp đôi" chàng đi trong bóng tối, cố gắng đến nơi trước khi bị Mặt trời bắt kịp. Cuối cùng chàng đến được đến Khu vườn của các vị thần, một chốn tiên cảnh trĩu trịt những cây quả ngọc.

Phiến thứ mườiSửa đổi

Gilgamesh gặp người đàn bà nấu bia Siduri. Nàng cho rằng chàng ta hoặc là kẻ cắp hoặc là sát nhân vì vẻ ngoài nhếch nhác của chàng. Gilgamesh nói cho nàng hay mục đích của cuộc hành trình của mình. Nàng cố gắng can ngăn, nhưng đưa chàng đến chỗ Urshanabi người lái đò, người sẽ giúp chàng vượt biển đến chỗ Utnapishtim. Gilgamesh, trong cơn thịnh nộ bộc phát, đã đập vỡ những mảnh đá phép của Urshanabi. Chàng kể cho ông ta câu chuyện của mình, nhưng khi chàng nhờ giúp đỡ, Urshanabi cho hay chàng vừa phá hủy những thứ có thể giúp họ băng qua Biển Chết, với thứ nước độc chết người. Urshanabi chỉ dẫn Gilgamesh đốn hạ 120 cái cây và biến chúng thành những cây cột để vượt biển. Khi họ đến được hòn đảo nơi Utnapishtim sống, Gilgamesh kể lại câu chuyện của mình và nhờ ông ta giúp đỡ. Utnapishtim trách cứ chàng, tuyên bố rằng chiến đấu với số phận chung của con người là vô ích và đánh mất niềm vui trong cuộc sống.

Phiến thứ mười mộtSửa đổi
 
George Smith, người đã đọc và chuyển ngữ "Câu chuyện Đại hồng thủy Babylon" của phiến đất sét XI

Gilgamesh thấy Utnapishtim dường như không khác gì mình, và hỏi ông ta làm thế nào mà có được sự bất tử. Utnapishtim giải thích rằng các vị thần đã quyết định gây ra một trận Đại hồng thủy. Thần Ea đã bảo Utnapishtim đóng một con thuyền với kích thước chính xác, trám bằng nhựa thônghắc ín. Cả nhà ông lên thuyền cùng với những người thợ thủ công và "tất cả các động vật trên cánh đồng". Sau đó một cơn bão dữ dội nổi lên khiến các vị thần kinh hoàng rút lui về thiên đàng. Ishtar than khóc về sự hủy diệt của nhân loại, các vị thần khác khóc bên cạnh nàng. Cơn bão kéo dài sáu ngày đêm, sau đó "tất cả loài người biến thành đất sét". Utnapishtim khóc khi nhìn thấy cảnh tượng hủy diệt. Thuyền của ông neo đậu trên một ngọn núi, và ông thả ra một con chim bồ câu, một con én và một con quạ. Khi con quạ không quay lại, ông mở hầm và giải thoát cho các động vật bên trong. Các vị thần ngửi thấy hương vị ngọt ngào và bắt đầu kéo đến. Utnapishtim tình nguyện hiến tế cho các vị thần. Ishtar thề trên chiếc vòng cổ lưu ly rực rỡ nàng đang đeo, rằng nàng sẽ không để cho chuyện này tái diễn. Thần Enlil đến và tức giận vì vẫn còn con người sót lại, Ishtar buộc tội ông ta gây ra cơn lũ. Ea giải thích với Enlil rằng thật bất công khi trừng phạt những người vô tội. Enlil ban phước cho Utnapishtim và vợ, và ban cho họ sự sống vĩnh hằng. Câu chuyện này tương ứng với câu chuyện đại hồng thủy kết thúc Sử thi Atra-Hasis.

Dường như sự sống vĩnh cửu mà Enlil ban tặng là một món quà độc nhất vô nhị. Để chứng minh điều này, Utnapishtim thách đố Gilgamesh thức liên tiếp suốt sáu ngày bảy đêm. Đến ngày thứ sáu thì Gilgamesh ngủ thiếp đi, và Utnapishtim bảo vợ cứ mỗi ngày chàng ngủ thì hãy nướng một ổ bánh mì, để làm bằng chứng cho việc chàng đã không giữ được tỉnh táo. Gilgamesh, kẻ đang tìm cách vượt qua cái chết, thậm chí còn không thể chiến thắng giấc ngủ. Sau khi Urshanabi Người lái đò tắm rửa cho Gilgamesh và khoác cho chàng vương bào, họ khởi hành đi Uruk.

Khi họ rời đi, vợ của Utnapishtim bảo chồng tặng chằng một món quà chia tay. Utnapishtim nói với Gilgamesh rằng dưới đáy biển có một loại cây có thể khiến chàng trẻ lại. Gilgamesh buộc đá vào chân để có thể đi bộ dưới đáy biển, và hái được cây thần. Gilgamesh nghĩ nên đem cái cây về Uruk để thử xem loại cây này có đúng là thần dược không, bằng cách thử nghiệm nó trên một ông già.

Có một loài cây giống như cây cà, có gai như hoa hồng để đâm bất kì kẻ nào dám lại gần. Nhưng ai nuốt được loại cây này sẽ trở nên cải lão hoàn đồng.

Loài cây này, Ur-shanabi, là "Cây nhịp tim", có thể giúp một người có lại sự tươi trẻ. Ta sẽ đem nó về Uruk, cho một người già cả ăn để thử xem công hiệu của nó ra sao! [10]:98

Không may, khi Gilgamesh tắm dưới sông, một con rắn đã đánh cắp loài cây, và trở nên bất tử bằng cách lột da để trẻ lại. Gilgamesh than khóc trước những nỗ lực vô ích của mình, vì giờ đây chàng đã đánh mất hết cơ hội trường sinh bất tử. Chàng trở về Uruk, nhìn thấy những tường thành khổng lồ khiến chàng cất tiếng ca ngợi Urshanabi vì công việc bền bỉ này.

Phiến thứ mười haiSửa đổi

Phiến đất sét này chủ yếu là bản dịch sang tiếng Akkad từ một bài thơ Sumer trước đó, "Gilgamesh và Thế giới bên kia" (còn được gọi là "Gilgamesh, Enkidu, và Thế giới cõi âm" và các biến thể khác), mặc dù có ý kiến cho rằng nó có nguồn gốc từ một phiên bản chưa được xác định của câu chuyện đó.[8] :42 Nội dung của phiến cuối cùng này không thống nhất với những cái trước: Enkidu vẫn còn sống, mặc dù trong sử thi chàng đã chết trước đó. Vì vậy, phiên bản này được coi như một "phần ngoại truyện" cho sử thi.[20]

Gilgamesh phàn nàn với Enkidu rằng nhiều tài sản của anh ta (phiến đất sét không nói rõ ràng là cái gì) đã rơi vào thế giới cõi âm. Enkidu xin lên đường mang chúng trở lại. Gilgamesh rất vui mừng và căn dặn Enkidu những gì chàng được làm và không được làm ở Cõi âm nếu muốn quay trở về. Enkidu làm mọi thứ đã được dặn là không được làm và bị giữ lại ở Cõi âm. Gilgamesh cầu nguyện với các vị thần để bạn mình quay về. Enlil và Suen không trả lời, nhưng Ea và Shamash quyết định giúp đỡ. Shamash tạo ra một vết nứt trên mặt đất, và hồn ma của Enkidu thoát ra khỏi đó. Phiến đất sét kết thúc với việc Gilgamesh hỏi Enkidu về những gì chàng ta đã thấy ở Cõi âm.

Phiên bản Cựu BabylonSửa đổi

Phiên bản sử thi này chỉ còn lại một số mảnh vỡ từ các nguồn khác nhau, được gọi là Vượt qua tất cả các vị vua khác. [10] :101–26 Phần lớn nội dung của nó vẫn còn thất lạc. Các mảnh đất sét được đặt tên theo nơi bảo tồn hiện nay hoặc nơi nó được tìm thấy.

Phiến đất sét PennsylvaniaSửa đổi

Phiến đất sét II, Vượt qua tất cả các vị vua khác Tablet II, có mối tương quan rất lớn với phiến I-II của phiên bản tiêu chuẩn. Gilgamesh kể với mẹ mình là Ninsun về hai giấc mơ mà chàng có. Mẹ chàng giải thích rằng chúng có nghĩa là một người bạn đồng hành mới sẽ sớm đến Uruk gặp chàng. Trong khi đó, Enkidu hoang dã và nữ tu sĩ (ở đây gọi là Shamkatum) đang làm tình. Nàng ta thuần hóa chàng bằng cách đưa đến trại của những người chăn cừu và cho ăn bánh mì và bia. Enkidu giúp họ gác bầy cừu. Họ đến Uruk để đối đầu với ách thống trị của Gilgamesh. Enkidu và Gilgamesh chiến đấu ngang tài ngang sức nhưng Gilgamesh là người đã đứng lên trước. Enkidu ca ngợi Gilgamesh.

Phiến đất sét YaleSửa đổi

Vượt qua tất cả các vị vua khác Phiến III, có một số phần phù hợp với phiến II-III của phiên bản tiêu chuẩn. Vì lý do không rõ (phiến đất sét bị vỡ) Enkidu đang trong tâm trạng buồn bã. Để cổ vũ chàng, Gilgamesh đề nghị cùng nhau đến Rừng thông để chặt cây và giết Humbaba (ở đây gọi là Huwawa). Enkidu phản đối, vì chàng nhận thức Huwawa và cũng biết sức mình đến đâu. Gilgamesh khích lệ Enkidu, nhưng Enkidu vẫn miễn cưỡng. Họ chuẩn bị hành trang, và hỏi ý những người lớn tuổi. Các trưởng lão cũng phản đối, nhưng đồng ý sau khi Gilgamesh nói chuyện với họ. Gilgamesh cầu nguyện thần của mình (Shamash) bảo vệ, và cả chàng và Enkidu đều tự trang bị cho mình, họ rời đi với lời khuyên và chúc phúc từ người già.

Mảnh vỡ PhiladelphiaSửa đổi

Có thể là một phiên bản khác của phần trong phiến đất sét Yale, nhưng bị hư hại không thể phục hồi được.

Phiến đất sét trường NippurSửa đổi

Trong hành trình tìm đến rừng tuyết tùng và Huwawa, Enkidu diễn giải một trong những giấc mơ của Gilgamesh.

Phiến đất sét HarmalSửa đổi

Các mảnh vỡ từ hai phiên bản/phiến đất sét khác nhau nói về cách Enkidu diễn giải một trong những giấc mơ của Gilgamesh trên đường đến Rừng tuyết tùng và cuộc trò chuyện của họ khi vào rừng.

Phiến đất sét IshchaliSửa đổi

Sau khi đánh bại Huwawa, Gilgamesh không muốn giết hắn ta, và thúc giục Enkidu săn lùng "bảy quầng sáng" của Huwawa. Enkidu thuyết phục chàng hành quyết kẻ thù. Sau khi giết Huwawa và các quầng sáng, họ chặt hạ một phần của khu rừng và khám phá ra nơi ở bí mật của các vị thần. Phần còn lại của phiến đất sét bị hỏng.

Các quầng sáng không được đề cập trong phiên bản tiêu chuẩn, nhưng có trong một trong những bài thơ của người Sumer.

Một phần mảnh vỡ ở BaghdadSửa đổi

Một phần trùng với việc chặt hạ cây từ phiến Ishchali.

Phiến đất sét SipparSửa đổi

Trùng lặp một phần với các phiến IX-X của phiên bản tiêu chuẩn. Gilgamesh than khóc cái chết của Enkidu và lang thang đi tìm kiếm sự bất tử. Gilgamesh tranh luận với Shamash về sự vô ích của hành trình. Sau một khoảng bị mất Gilgamesh nói chuyện với Siduri về nhiệm vụ của mình và chuyến đi tìm Utnapishtim (ở đây được gọi là Uta-na'ishtim). Siduri cố gắng can ngăn Gilgamesh, nhắc nhở chàng hãy bằng lòng với những thú vui đơn giản của cuộc sống. [6] Sau một khoảng trống nữa, Gilgamesh đập vỡ "những viên đá" và nói chuyện với người lái đò Urshanabi (ở đây gọi là Sur-sunabu). Sau một cuộc trò chuyện ngắn, Sur-sunabu yêu cầu chàng khắc 300 mái chèo để họ có thể vượt qua vùng nước chết khi không có "những viên đá". Phần còn lại của phiến đất sét bị thiếu.

Đoạn viết trên mảnh Meissner (mảnh lớn hơn còn sót lại của phiến Sippar) đã được sử dụng để phục dựng lại các dạng có thể có trước đây của Sử thi Gilgamesh. Người ta đề xuất rằng "dạng trước đây của câu chuyện - thậm chí còn sớm hơn bản phục dựng được từ các mảnh vỡ Cựu Babylon - có thể đã kết thúc bằng việc Siduri tiễn Gilgamesh trở lại Uruk ..." và "Utnapistim ban đầu không phải là một phần của câu chuyện."[21]

Các bài thơ SumerSửa đổi

Có năm câu chuyện về Gilgamesh còn tồn tại dưới dạng những bài thơ cổ tiếng Sumer.[10] :141–208 Chúng có lẽ được lưu truyền độc lập thay vì dưới dạng sử thi hợp nhất. Một số tên của các nhân vật chính trong những bài thơ này hơi khác với các tên tiếng Akkad sau này; ví dụ: "Bilgamesh" thay vì "Gilgamesh", và có một số khác biệt trong các câu chuyện cơ bản như Enkidu trên thực tế là người hầu của Gilgamesh.

  1. Hoan hô Chúa tể của NúiHồ thiêng! tương ứng với đoạn Rừng tuyết tùng trong phiến II-V phiên bản chuẩn. Gilgamesh và Enkidu đi cùng những khác đến Rừng tuyết tùng và bị mắc kẹt bởi Huwawa. Gilgamesh lừa hắn (với sự trợ giúp của Enkidu trong một trong các phiên bản) từ bỏ quầng sáng của mình, và đánh mất sức mạnh.
  2. Anh hùng chiến trận tương ứng với đoạn Thiên ngưu (phiến VI bản tiêu chuẩn) trong phiên bản Akkadian. Sự phàm ăn của con bò gây ra hạn hán và khiến các vùng đất lâm vào khó khăn trong khi Gilgamesh đang tiệc tùng. Lugalbanda thuyết phục chàng chiến đấu với quái thú cùng với Enkidu.
  3. Sứ giả từ Akka không có tình tiết tương ứng trong sử thi, nhưng có chủ đề về việc có nên tỏ lòng thương xót đối với tù nhân hay không, và lời khuyên từ những bô lão trong thành phố, đoạn này cũng có trong phiên bản tiêu chuẩn của câu chuyện Humbaba. Trong bài thơ, Uruk phải đối mặt với một cuộc bao vây từ một đội quân Kish do Vua Akka lãnh đạo, người mà Gilgamesh đã đánh bại và tha thứ.
  4. Vào những ngày đó, vào những ngày xa xôi đó, còn được gọi là Gilgamesh, Enkidu và Thế giới cõi âm, là nguồn cho bản dịch Akkadian của phiến XII trong phiên bản tiêu chuẩn, kể về hành trình của Enkidu đến Cõi âm. Nó cũng là nguồn thông tin chính về truyền thuyết sáng thế Sumer và câu chuyện "Inanna và Cây Huluppu".[22]
  5. Con bò mộng vĩ đại đang nằm xuống, một bài thơ về cái chết, sự chôn cất và lễ tôn xưng Gilgamesh như một vị bán thần trị vì và phán xử người chết. Sau khi mơ thấy cách các vị thần quyết định số phận của mình sau khi chết, Gilgamesh nhận được lời khuyên, chuẩn bị tang lễ của mình cùng với các món quà cho các vị thần. Sau khi chết, chàng được chôn cất dưới dòng sông Euphrates, nơi bắt nguồn và cũng là kết thúc.

Ảnh hưởng sau nàySửa đổi

Mối quan hệ với Kinh thánhSửa đổi

Nhiều chủ đề, yếu tố cốt truyện và nhân vật trong Sử thi Gilgamesh có các phần tương đương trong Kinh thánh tiếng Hê-bơ-rơ, các câu chuyện về Vườn Địa Đàng, lời khuyên từ nhà truyền đạo và câu chuyện Đại Hồng thủy sáng thế.

Vườn Địa ĐàngSửa đổi

Sự tương đồng giữa các câu chuyện về Enkidu/Shamhat và Adam/Eva đã được các học giả công nhận từ lâu.[23] [24] Cả hai đều có chi tiết một người đàn ông được tạo ra từ đất bởi một vị thần và sống trong một khung cảnh thiên nhiên giữa các loài động vật. Một người phụ nữ được đưa tới để cám dỗ anh ta. Trong cả hai câu chuyện, người đàn ông chấp nhận thức ăn từ người phụ nữ, che đậy cơ thể trần trụi và phải xa rời khỏi tự nhiên, không thể quay lại. Sự xuất hiện của một con rắn đánh cắp cây bất tử từ người anh hùng cũng là một điểm tương đồng khác.

Lời khuyên từ Nhà truyền đạoSửa đổi

Một số học giả cho rằng những lời khuyên của Siduri đã được tác giả Sách giảng viên vay mượn trực tiếp.[25]

Một câu tục ngữ không phổ biến về sức mạnh của một sợi dây ba sợi, "một sợi dây ba sợi không dễ đứt", đều xuất hiện ở cả hai câu chuyện.  

Đại hồng thủy và con thuyền của NoahSửa đổi

Andrew George cho rằng lời kể về Đại hồng thủy trong Sáng thế kí phù hợp với sử thi Gilgamesh đến nỗi "ít ai nghi ngờ" rằng nó xuất phát từ cùng nguồn thần thoại Lưỡng Hà.[26] Điều đặc biệt đáng chú ý là cách câu chuyện lũ lụt trong Sáng thế kí ăn khớp với câu chuyện lũ lụt Gilgamesh đến "từng điểm và theo cùng một trật tự", ngay cả khi câu chuyện có thể thay thế khác đi được.[27] Ziusudra, Utnapishtim và Nô-ê đều là những nhân vật tương ứng trong truyền thuyết lũ lụt Sumer, Akkadian và Kinh Thánh của vùng Cận Đông cổ đại.

Một số tương quan khácSửa đổi

Matthias Henze cho rằng sự điên loạn của Nebuchadnezzar trong Sách của Daniel được lấy ra từ Sử thi Gilgamesh . Ông tuyên bố rằng tác giả đã sử dụng các yếu tố miêu tả Enkidu để vẽ một bức chân dung châm biếm và chế giễu nhà vua Babylon.[28]

Nhiều nhân vật trong Sử thi có những nét tương tự trong kinh thánh, nổi bật nhất là Ninti, nữ thần sự sống của người Sumer, được tạo ra từ xương sườn của Enki để chữa lành cho ông sau khi ông ăn hoa cấm. Có ý kiến cho rằng câu chuyện này là cơ sở cho câu chuyện về Eva được tạo ra từ xương sườn của Adam trong Sách Sáng thế.[29] Esther J. Hamori, trong Âm hưởng Gilgamesh trong Truyện Jacob, cũng cho rằng huyền thoại về Jacob và Esau tương ứng với trận đấu vật giữa Gilgamesh và Enkidu.[30]

Ảnh hưởng đến HomerSửa đổi

Nhiều học giả cho rằng Sử thi Gilgamesh có ảnh hưởng đáng kể đến cả hai thiên sử thi được cho là của Homer . Những ảnh hưởng này được Martin Litchfield West mô tả chi tiết trong Khuôn mặt phương Đông của Helicon: Yếu tố Tây Á trong Thơ và Huyền thoại Hy Lạp.[31] Theo Tzvi Abusch của Đại học Brandeis, sử thi "kết hợp sức mạnh và bi kịch của Iliad với những cuộc lang thang và kì công của Odyssey. Đó là một tác phẩm phiêu lưu, nhưng không kém màu sắc chiêm nghiệm về một số vấn đề cơ bản của sự tồn tại của con người."[32]

Trong văn hóa đại chúngSửa đổi

Sử thi Gilgamesh đã truyền cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật âm nhạc, và trò chơi điện tử, như Theodore Ziolkowski chỉ ra trong cuốn sách Gilgamesh ở giữa chúng ta: Cuộc gặp gỡ hiện đại với những Anh hùng ca cổ đại (2011).[33] [34] Chỉ sau Thế chiến I, sử thi Gilgamesh mới đến được với khán giả hiện đại, và chỉ sau Thế chiến II, nó mới bắt đầu xuất hiện trong nhiều loại hình văn hóa.

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ /ɡɪlˈɡɑːmɛʃ/,[1] Phát âm thường thấy nhưng không chính xác: /ˈɡɪlɡəˌmɛʃ/;[2] 𒄑𒂅𒈦, Gilgameš, nguyên gốc là Bilgamesh 𒄑𒉈𒂵𒈩. Tên của ông có nghĩa gần đúng là "Tổ tiên là một người trẻ tuổi",[3] Bil.ga "Tổ tiên", Người lớn tuổi hơn[4]:33Mes/Mesh3 "Người trẻ tuổi".[4]:174 Xem thêm The Electronic Pennsylvania Sumerian Dictionary.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ George, Andrew R. (2010) [2003]. The Babylonian Gilgamesh Epic – Introduction, Critical Edition and Cuneiform Texts (bằng tiếng English và Akkadian). vol. 1 and 2 . Oxford: Oxford University Press. tr. 163. ISBN 978-0198149224. OCLC 819941336. .
  2. ^ "Gilgamesh". Random House Webster's Unabridged Dictionary.
  3. ^ Hayes, J.L. A Manual of Sumerian Grammar and Texts (PDF). 
  4. ^ a ă Halloran, J. Sum.Lexicon. 
  5. ^ Krstovic, Jelena O. biên tập (2005). Epic of Gilgamesh Classical and Medieval Literature Criticism 74. Detroit, MI: Gale. ISBN 9780787680213. OCLC 644697404. 
  6. ^ a ă Thrower, James (1980). The Alternative Tradition: A Study of Unbelief in the Ancient World. The Hague, The Netherlands: Mouton Publishers. 
  7. ^ Frankfort, Henri (1974) [1949]. “Chapter VII: Mesopotamia: The Good Life”. Before Philosophy: The Intellectual Adventure of Ancient Man, an essay on speculative thought in the ancient near East. Penguin. tr. 226. OCLC 225040700. 
  8. ^ a ă â Dalley, Stephanie biên tập (2000). Myths from Mesopotamia: Creation, the Flood, Gilgamesh, and Others. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-953836-2. 
  9. ^ Mitchell, T.C. (1988). The Bible in the British Museum. The British Museum Press. tr. 70. 
  10. ^ a ă â b c George, Andrew R. (2003) [1999, 2000]. The Epic of Gilgamesh: the Babylonian Epic Poem and Other Texts in Akkadian and Sumerian. Penguin Classics . London: Penguin Books. ISBN 978-0-14-044919-8. OCLC 901129328. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2017. 
  11. ^ Abusch, T. (1993). “Gilgamesh's Request and Siduri's Denial. Part I: The Meaning of the Dialogue and Its Implications for the History of the Epic”. The Tablet and the Scroll; Near Eastern Studies in Honor of William W. Hallo. CDL Press. tr. 1–14. 
  12. ^ George, Andrew R. (2008). “Shattered tablets and tangled threads: Editing Gilgamesh, then and now”. SOAS University of London (bằng tiếng Anh). tr. 11. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018. 
  13. ^ George, Andrew R. (2008). “Shattered tablets and tangled threads: Editing Gilgamesh, then and now”. SOAS University of London (bằng tiếng Anh). tr. 2. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018. 
  14. ^ George, Andrew R. (2008). “Shattered tablets and tangled threads: Editing Gilgamesh, then and now”. SOAS University of London (bằng tiếng Anh). tr. 1. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018. 
  15. ^ Smith, George (3 tháng 12 năm 1872). “The Chaldean Account of the Deluge”. Sacred-Texts.com. 
  16. ^ Mawr, Bryn (21 tháng 4 năm 2004). “Bryn Mawr Classical Review 2004.04.21”. Bryn Mawr Classical Review. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017. 
  17. ^ “First lines of oldest epic poem found”. The Independent (bằng tiếng Anh). 16 tháng 11 năm 1998. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2019. 
  18. ^ Evans, Barry. “It Was a Dark and Stormy Night”. North Coast Journal (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2019. 
  19. ^ a ă Al-Rawi, F. N. H.; George, A. R. (2014). “Back to the Cedar Forest: The Beginning and End of Tablet V of the Standard Babylonian Epic of Gilgameš” (PDF). Journal of Cuneiform Studies 66: 69–90. JSTOR 10.5615/jcunestud.66.2014.0069. doi:10.5615/jcunestud.66.2014.0069. 
  20. ^ Maier, John R. (1997). Gilgamesh: A reader. Bolchazy-Carducci Publishers. tr. 136. ISBN 978-0-86516-339-3. 
  21. ^ Abusch, T. Gilgamesh's Request and Siduri's Denial. Part I: The Meaning of the Dialogue and Its Implications for the History of the Epic. |11.05 MB The Tablet and the Scroll; Near Eastern Studies in Honor of William W. Hallo, 1–14. Retrieved 9 September 2013.
  22. ^ Kramer, Samuel Noah (1961). Sumerian Mythology: A Study of Spiritual and Literary Achievement in the Third Millennium B.C.: Revised Edition. Philadelphia, Pennsylvania: University of Pennsylvania Press. tr. 30–41. ISBN 978-0-8122-1047-7. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2017. 
  23. ^ Gmirkin, Russell (2006). Berossus and Genesis, Manetho and Exodus.. Continuum. tr. 103. 
  24. ^ Blenkinsopp, Joseph (2004). Treasures old and new.. Eerdmans. tr. 93–95. 
  25. ^ Van Der Torn, Karel (tháng 2 năm 2000). “Did Ecclesiastes copy Gilgamesh?”. Bible Review 16 (1). tr. 22ff. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017. 
  26. ^ George, A. R. (2003). The Babylonian Gilgamesh Epic: Introduction, Critical Edition and Cuneiform Texts. Oxford University Press. tr. 70–. ISBN 978-0-19-927841-1. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2012. 
  27. ^ Rendsburg, Gary. "The Biblical flood story in the light of the Gilgamesh flood account," in Gilgamesh and the world of Assyria, eds Azize, J & Weeks, N. Peters, 2007, p. 117
  28. ^ Leiden, Brill (1999). The Madness of King Nebuchadnezzar... 
  29. ^ Meagher, Robert Emmet (1995). The meaning of Helen: in search of an ancient icon. United States: Bolchazy-Carducci Pubs (IL). ISBN 978-0-86516-510-6. 
  30. ^ Hamori, Esther J. (Winter 2011). “Echoes of Gilgamesh in the Jacob Story”. Journal of Biblical Literature 130 (4): 625–642. JSTOR 23488271. doi:10.2307/23488271. 
  31. ^ West, Martin Litchfield (2003) [1997]. The East Face of Helicon: West Asiatic Elements in Greek Poetry and Myth. Oxford: Clarendon Press. tr. 334–402. ISBN 978-0198152217. OCLC 441880596. 
  32. ^ Abusch, Tzvi (tháng 12 năm 2001). “The Development and Meaning of the Epic of Gilgamesh: An Interpretive Essay”. Journal of the American Oriental Society 121 (4): 614–22. Bibcode:1964JAOS...84..128H. JSTOR 606502. doi:10.2307/606502. 
  33. ^ Ziolkowski, Theodore (8 tháng 12 năm 2011). Gilgamesh Among Us: Modern Encounters With the Ancient Epic. Cornell Univ Pr. ISBN 978-0-8014-5035-8. 
  34. ^ Ziolkowski, Theodore (1 tháng 11 năm 2011). “Gilgamesh: An Epic Obsession”. Berfrois. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017. 

Bản dịchSửa đổi

Phân tíchSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi