Ngữ hệ Ấn-Âu

ngữ hệ lớn

Ngữ hệ Ấn-Âu là một ngữ hệ lớn có nguồn gốc từ Tây và Nam đại lục Á-Âu. Nó bao gồm hầu hết ngôn ngữ của châu Âu cùng với các ngôn ngữ ở sơn nguyên Iran và miền bắctiểu lục địa Ấn Độ. Một số ngôn ngữ Ấn-Âu, chẳng hạn như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nhatiếng Tây Ban Nha đã lan rộng nhờ làn sóng thuộc địa hóa của người châu Âu và hiện được sử dụng trên khắp thế giới. Hệ Ấn-Âu được chia thành nhiều nhánh, lớn nhất phải kể đến đó là các nhóm Ấn-Iran, German, Rôman và Balt-Slav. Các ngôn ngữ có số người nói lớn nhất là tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh, tiếng Hindustan (tiếng Hindi/Urdu), tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Bengal, tiếng Marathi, tiếng Punjabtiếng Nga (mỗi thứ tiếng có hơn 100 triệu người nói). Tiếng Đức, Pháp, Ý và Ba Tư đều có hơn 50 triệu người nói. Tổng cộng, 46% dân số thế giới (3,2 tỷ người) có tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ Ấn-Âu, đông đảo nhất so với bất kỳ ngữ hệ nào khác. Theo ước tính của Ethnologue, có khoảng 445 ngôn ngữ Ấn-Âu đang được nói, hơn 2/3 (313) trong số đó thuộc nhánh Ấn-Iran.[2]

Ngữ hệ Ấn-Âu

Phân bố
địa lý
Thời kì tiền thuộc địa hóa: Á-Âu
Hiện nay: Toàn cầu
k. 3,2 tỷ người nói bản ngữ
Phân loại ngôn ngữ họcMột trong những ngữ hệ chính của thế giới
Ngôn ngữ nguyên thủy:Proto Ấn-Âu
Ngôn ngữ con:
ISO 639-2 / 5:ine
Glottolog:indo1319[1]
{{{mapalt}}}
Sơ đồ phân bố của ngữ hệ Ấn-Âu trên Á-Âu lục địa:
  Celt
  Rôman
  Các ngôn ngữ không thuộc ngữ hệ
Các vùng kẻ gạch/chấm có cộng đồng đa ngôn ngữ

Tất cả các ngôn ngữ Ấn-Âu đều có nguồn gốc từ một ngôn ngữ duy nhất, được các nhà ngôn ngữ phục dựng thành tiếng Ấn-Âu nguyên thuỷ được nói ở một thời điểm nào đó vào thời đại đồ đá mới. Quê nhà chính xác của nó, được gọi là urheimat Ấn-Âu, vẫn chưa được tìm ra và là chủ đề của nhiều học thuyết cạnh tranh; được chấp nhận rộng rãi nhất là thuyết Kurgan, cho rằng urheimat là vùng thảo nguyên Pontus–Caspi, gắn với văn hóa Yamnaya có niên đại vào khoảng 3000 năm TCN. Vào thời điểm những bản ghi chép đầu tiên xuất hiện, ngữ hệ Ấn-Âu đã phân tách thành nhiều ngôn ngữ độc lập, được sử dụng trên hầu khắp châu Âu cũng như Tây và Nam Á. Văn liệu của ngôn ngữ Ấn-Âu xuất hiện vào thời kỳ đồ đồng dưới dạng tiếng Hy Lạp Mycenaea và các ngôn ngữ Anatolia (tiếng Hittitiếng Luwia). Còn tư liệu lâu đời nhất là một số từ vựng và tên riêng tiếng Hitti lẻ tẻ (xen kẽ trong các văn bản tiếng Assyria cổ thuộc ngữ tộc Semit) xuất hiện trong các văn bản cổ tại thuộc địa Kültepe của người Assyria miền đông Anatolia vào thế kỷ XX TCN.[3] Mặc dù người Ấn-Âu nguyên thuỷ cổ hơn không để lại bất kỳ văn liệu nào, một số khía cạnh về văn hóa và tôn giáo của họ có thể được phục dựng từ những bằng chứng sau này của các nền văn hóa hậu duệ.[4] Hệ Ấn-Âu có ý nghĩa quan trọng đối với lĩnh vực ngôn ngữ học lịch sử vì ngữ hệ này sở hữu lịch sử được ghi chép cổ thứ hai so với bất kỳ hệ nào được biết đến, chỉ đứng sau ngữ hệ Á-Phi với tiếng Ai Cậpcác ngôn ngữ Semit. Việc phân tích mối liên hệ giữa các ngôn ngữ Ấn-Âu và việc phục dựng lại nguồn gốc chung giữa chúng là trọng tâm cho sự phát triển phương pháp luận của ngành ngôn ngữ học lịch sử thành một ngành khoa học hàn lâm vào thế kỷ XIX.

Hệ ngôn ngữ Ấn-Âu hiện không có liên hệ với bất kỳ ngữ hệ nào khác, mặc dù một số đề xuất gây tranh vẫn đã được đưa ra.

Lịch sử ngôn ngữ học Ấn-ÂuSửa đổi

Vào thế kỷ XVI, những người châu Âu đi đến tiểu lục địa Ấn Độ bắt đầu nhận ra những nét tương tự giữa các ngôn ngữ Ấn-Arya, Iran, và châu Âu. Năm 1583, nhà truyền giáo Dòng Tên người Anh Thomas Stephens tại Goa đã viết một lá thư cho người thân (không được công bố cho tới tận thế kỷ XX),[5] mà trong đó ông đề cập đến sự tương đồng giữa ngôn ngữ Ấn Độ (đặc biệt là tiếng Phạn) với tiếng Hy Lạptiếng Latinh.

Filippo Sassetti, một nhà buôn sinh ra tại Florence năm 1540, cũng nhận thấy điều tương tự khi đi đến Ấn Độ. Năm 1585, ông ghi nhận một số sự tương đồng từ vựng giữa tiếng Phạn và tiếng Ý (gồm devaḥ/dio "chúa", sarpaḥ/serpe "rắn", sapta/sette "bảy", aṣṭa/otto "tám", và nava/nove "chín").[5] Tuy nhiên, quan sát của Stephens và Sassetti đã không dẫn đến nghiên cứu chuyên sâu hơn nào.[5]

Năm 1647, học giả và nhà ngôn ngữ học người Hà Lan Marcus Zuerius van Boxhorn chú ý đến nét tương tự ở một số ngôn ngữ châu Á và châu Âu nhất định, và cho rằng chúng xuất phát một ngôn ngữ chung gọi là Scythia. Các ngôn ngữ trong giả thuyết của ông gồm tiếng Hà Lan, tiếng Albania, tiếng Hy Lạp, tiếng Latinh, tiếng Ba Tư, và tiếng Đức, sau đó cho thêm vào các ngôn ngữ Slav, các ngôn ngữ Celt, và các ngôn ngữ gốc Balt. Ý kiến của Van Boxhorn không phổ biến và cũng không giúp khuyến khích nghiên cứu sâu hơn.

Thomas Young lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ Indo-European năm 1813, dựa trên phân bố địa lý của hệ này: từ Tây Âu tới Bắc Ấn Độ.[6][7] Từ đồng nghĩa Indo-Germanic (Ấn-German, Idg. hay IdG.), xuất hiện năm 1810 bằng tiếng Pháp (indo-germanique) trong nghiên cứu của Conrad Malte-Brun; thuật ngữ này hiện bị xem là lỗi thời và ít phổ biến hơn Indo-European, dù trong tiếng Đức indogermanisch vẫn là thuật ngữ chuẩn.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert và đồng nghiệp biên tập (2013). “Indo-European”. Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology. 
  2. ^ “Ethnologue report for Indo-European”. Ethnologue.com. 
  3. ^ Bryce, Trevor (2005). Kingdom of the Hittites: New Edition. Oxford University Press. tr. 37. ISBN 978-0-19-928132-9. 
  4. ^ Mallory, J. P. (2006). The Oxford Introduction to Proto-Indo-European and the Proto-Indo-European World. Oxford: Oxford University Press. tr. 442. ISBN 9780-199287918. 
  5. ^ a ă â Auroux, Sylvain (2000). History of the Language Sciences. Berlin, New York: Walter de Gruyter. tr. 1156. ISBN 3-11-016735-2. 
  6. ^ Robinson, Andrew (2007). The Last Man Who Knew Everything: Thomas Young, the Anonymous Genius who Proved Newton Wrong and Deciphered the Rosetta Stone, among Other Surprising Feats. Penguin. ISBN 0-13-134304-1. 
  7. ^ In London Quarterly Review X/2 1813.; cf. Szemerényi 1999:12, footnote 6

Liên kết ngoàiSửa đổi