Hàn Quốc

Quốc gia ở khu vực Đông Á, nằm ở phía nam của bán đảo Triều Tiên

Hàn Quốc (tiếng Triều Tiên한국韓國Hanguk), tên gọi chính thức là Đại Hàn Dân Quốc (tiếng Triều Tiên대한민국大韓民國Daehan Minguk); là quốc gia cộng hòa lập hiến có chủ quyền thuộc khu vực Đông Á, nằm trên nửa phía Nam của bán đảo Triều Tiên.[15] Biên giới trên bộ cũng như trên biển ở phía Bắc giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thông qua Khu vực phi quân sự Liên Triềuvùng biển Bắc Triều Tiên qua Đường giới hạn phía Bắc, phía Đông tiếp giáp biển Nhật Bản, phía Nam giáp với đảo Kyushu (Nhật Bản) thông qua eo biển Triều Tiên và phía Tây là biển Hoàng Hải.

Đại Hàn Dân Quốc
Tiêu ngữ홍익인간 (Hangul)
弘益人間 (Hanja)
Hongik Ingan (Romaja)
Hoằng Ích Nhân Gian
Cống hiến hạnh phúc cho nhân loại
[1]
Quốc ca애국가 (Hangul)
愛國歌 (Hanja)
Aegukga (Romaja)[a]
Ái quốc ca
Quốc hoa: Rose of sharon Icon.svg Hoa dâm bụt
무궁화 (Hangul)
無窮花 (Hanja)
Mugunghwa (Romaja)
Quốc ấn
Seal of South Korea.svg
대한민국의 국새 (Hangul)
大韓民國의 國璽 (Hanja)
Daehan Minguk-ui Guksae (Romaja)
Quốc ấn Đại Hàn Dân Quốc
Vị trí của Hàn Quốc trên thế giới (xanh) .mw-parser-output .legend{page-break-inside:avoid;break-inside:avoid-column}.mw-parser-output .legend-color{display:inline-block;min-width:1.25em;height:1.25em;line-height:1.25;margin:1px 0;text-align:center;border:1px solid black;background-color:transparent;color:black}.mw-parser-output .legend-text{}   Lãnh thổ Hàn Quốc tuyên bố chủ quyền và kiểm soát trên thực tế .mw-parser-output .legend{page-break-inside:avoid;break-inside:avoid-column}.mw-parser-output .legend-color{display:inline-block;min-width:1.25em;height:1.25em;line-height:1.25;margin:1px 0;text-align:center;border:1px solid black;background-color:transparent;color:black}.mw-parser-output .legend-text{}   Tuyên bố chủ quyền lãnh thổ nhưng không kiểm soát trên thực tế
Vị trí của Hàn Quốc trên thế giới (xanh)
  Lãnh thổ Hàn Quốc tuyên bố chủ quyền và kiểm soát trên thực tế
  Tuyên bố chủ quyền lãnh thổ nhưng không kiểm soát trên thực tế
Lãnh thổ thuộc quyền kiểm soát của Hàn Quốc trên thực tế (xanh đậm)
Lãnh thổ thuộc quyền kiểm soát của Hàn Quốc trên thực tế (xanh đậm)
Tổng quan
Thủ đôFlag of Seoul.svg Seoul
37°33′B 126°58′Đ / 37,55°B 126,967°Đ / 37.550; 126.967
Thành phố lớn nhấtSeoul
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Hàn Quốc
(Pyojun-eo)
Ngôn ngữ ký hiệu Hàn Quốc[2]
Văn tự chính thứcHangul
Sắc tộc
(2019)
95.1% Hàn (Triều Tiên)[3]
4.9% khác[4]
Tôn giáo chính
Tên dân cư
Chính trị
Chính phủNhà nước đơn nhất
Cộng hòa lập hiến
Tổng thống chế
Moon Jae-in
Kim Boo-kyum
Park Byeong-seug
Kim Myeong-soo
Yoo Nam-seok
Lập phápQuốc hội Hàn Quốc
Lịch sử
Độc lập 
13 tháng 10 năm 1897
17 tháng 11 năm 1905
22 tháng 8 năm 1910
1 tháng 3 năm 1919
11 tháng 4 năm 1919
15 tháng 8 năm 1945
8 tháng 9 năm 1945
15 tháng 8 năm 1948
25 tháng 6 năm 1950
27 tháng 7 năm 1953
25 tháng 2 năm 1988
27 tháng 4 năm 2018
Địa lý
Diện tích  
• Tổng cộng
100,363 km2 (hạng 107)
38,750 mi2
• Mặt nước (%)
0.3 (301 km2 / 116 mi2)
Dân số 
• Ước lượng 2019
Tăng 51,709,098[9] (hạng 27)
507/km2 (hạng 13)
1,313/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2020
• Tổng số
2.293.5 tỷ USD[10] (hạng 14)
44,292 USD[10] (hạng 24)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2020
• Tổng số
1.586.8 tỷ USD[10] (hạng 10)
• Bình quân đầu người
30,644 USD[10] (hạng 26)
Đơn vị tiền tệWon (₩) / Won 대한민국 원 (KRW)
Thông tin khác
Gini? (2018)Giảm theo hướng tích cực 34.5[11]
trung bình
FSI? (2021)Tăng theo hướng tiêu cực 32.5[12][13]
bền vững · hạng 159
HDI? (2020)Tăng 0.916[14]
rất cao · hạng 23
Múi giờUTC+09:00 (Giờ chuẩn Hàn Quốc)
• Mùa hè (DST)
UTC+09:00
Cách ghi ngày tháng
  • yyyy년 m월 d일
  • yyyy-mm-dd
    (năm-tháng-ngày)
Điện thương dụng220 V – 60 Hz
Giao thông bênPhải
Mã điện thoại+82
Mã ISO 3166KR
Tên miền Internet
Trang web
www.korea.net
Location of Hàn Quốc
Tiền thân
Đệ Ngũ Đại Hàn Dân Quốc
Hàn Quốc
South Korea (Hangul and Hanja).svg
"Hàn Quốc" trong văn tự Hangul (trên) và Hanja (dưới)
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữHan(-)guk
McCune–ReischauerHan’guk
Đại Hàn Dân Quốc
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữDaehan Min(-)guk
McCune–ReischauerTaehan Min’guk
Nam Hàn
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữNamhan
McCune–ReischauerNamhan

Hàn Quốc có khí hậu ôn đới, địa hình chủ yếu là đồi núi, lãnh thổ trải rộng 100.363 km², quy mô dân số ước tính vào khoảng hơn 51 triệu người[16], mật độ dân số cao thứ 3 trong nhóm quốc gia có diện tích đáng kể.[17] Với 99% cư dân là người Triều Tiên[18], Hàn Quốc được coi là một quốc gia dân tộc.

Sau khi thành lập, Hàn Quốc trải qua chiến tranh Triều Tiên, trong các thập niên từ 1960 đến đầu thế kỷ 21, với sự kiện Kỳ tích sông Hán, kinh tế Hàn Quốc đã được khôi phục, phát triển vượt bậc và trở thành một nền kinh tế lớn. Năm 1996, Hàn Quốc chính thức bước vào hàng ngũ các quốc gia công nghiệp phát triển khi gia nhập OECD đồng thời giữ vững tư cách đó cho đến nay.[19][20][21]

Hàn Quốc là quốc gia tiến hành công nghiệp hóa thứ hai trong lịch sử châu Á sau Nhật Bản, là 1 trong 4 con Rồng kinh tế châu Á cùng với Đài Loan, Hồng KôngSingapore, thành viên của hầu hết các tổ chức toàn cầu lớn trong đó nổi bật như: Liên Hợp Quốc, G-20, Câu lạc bộ Paris, IAEA, OECD, WTO, APEC,... Có chỉ số phát triển con người (HDI) rất cao[22][23] - xếp thứ 4 châu Á, hạng 23 thế giới[24], giữ hạng 9 toàn cầu về tuổi thọ trung bình của người dân[23][25], có quy mô nền kinh tế (GDP danh nghĩa) lớn thứ 10 trên thế giới[26][27], hạng 4 châu Á (2020)[28][29], xếp hạng 10 thế giới về tổng giá trị thương hiệu quốc gia (2020)[30], có chỉ số dân chủ cao nhất châu Á[31][32], có tốc độ đường truyền kết nối Internet thuộc nhóm nhanh nhất thế giới[33][34]. Mặc dù đã ký Hiệp ước không phổ biến các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, quốc gia này vẫn duy trì một lực lượng quân đội hiện đại - đứng hạng 8 thế giới về ngân sách quốc phòng (2021)[35]. Hộ chiếu Hàn Quốc nằm trong nhóm quyền lực nhất thế giới cùng Nhật Bản và Singapore[36], hiện đang giữ hạng 2 (2021)[37][38], thậm chí còn có những thời điểm vươn lên để đứng số 1 toàn cầu[39], đứng thứ 2 châu Á (sau Nhật Bản), hạng 17 thế giới về chỉ số tiến bộ xã hội[40][41][42], được công nhận là một cường quốc khu vực tại Đông Á[43], cường quốc bậc trung trên thế giới[43][44] cũng như là một trong những đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng hàng đầu của Hoa Kỳ.[45]

Trong những năm gần đây, Hàn Quốc đã phát triển và truyền bá mạnh mẽ văn hóa Hàn Quốc ra phạm vi toàn cầu[46][47] - đặc biệt là ở châu Á[48][49][50], hay còn được biết đến với tên gọi 'Làn sóng Hàn Quốc'.[50][51]

Mặc dù là một quốc gia phát triển, tuy nhiên hiện nay; Hàn Quốc cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như tình trạng lão hóa dân số do tỷ lệ sinh và kết hôn giảm mạnh[52][53][54][55], các định kiến xã hội vẫn tồn tại[56][57], thất nghiệp[58], áp lực cuộc sống cao cùng nạn tự sát - đặc biệt trong nhóm những người trẻ tuổi[59][60], bất bình đẳng xã hội và khoảng cách của sự phân hóa giàu nghèo đang ngày một gia tăng.[61][62]

Quốc hiệu

Trên toàn cầu

Hai tên gọi "Đại Hàn" (Daehan) và "Triều Tiên" (Joseon) tuy khác nhau trong tiếng Việt do phiên âm theo Hán tự, nhưng khi sử dụng quốc tế hoặc dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì đều được dịch giống nhau, ví dụ như trong tiếng Anh: "Đại Hàn" hay "Triều Tiên" đều dịch thành "Korea", tiếng Pháp dịch là "Corée", tiếng Nga dịch là "Корея" (chuyển tự Latinh: Koreya), tiếng Tây Ban Nha dịch là "Corea",... Vì chúng đều bắt nguồn từ tên gọi của Vương quốc Cao Ly - quốc gia từng tồn tại trên bán đảo Triều Tiên từ năm 918 đến năm 1392. Trong thời kỳ này, tên gọi "Cao Ly" đã được thông qua các thương nhân người Ả-rập mà lan rộng, truyền bá đến các quốc gia châu Âu.

Từ năm 1392, bán đảo nằm dưới sự cai trị của nhà Triều Tiên (Joseon). Kể từ đó, cái tên "Triều Tiên" được dùng làm quốc hiệu để chỉ chung cho toàn bộ dân tộc sinh sống trên bán đảo. Trong giai đoạn 1897-1910, sau khi ký kết các hiệp ước bất bình đẳng rồi cuối cùng sáp nhập với Đế quốc Nhật Bản, toàn bộ bán đảo chuyển sang dùng danh xưng "Đế quốc Đại Hàn". Sau khi hai miền đất nước bị chia cắt vào năm 1945, vùng lãnh thổ phía Bắc chọn quốc hiệu cũ - gọi chính thể của mình là "Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên", vùng lãnh thổ phía Nam chọn quốc hiệu "Đại Hàn Dân Quốc", kế thừa từ quốc hiệu "Đế quốc Đại Hàn" - "Đại Hàn Đế Quốc" (Daehan Jegug/대한제국/大韓帝國). Trong đó, chữ "Dân Quốc" (Hán tự: 民國) trong "Đại Hàn Dân Quốc" (大韓民國) được lấy theo quốc hiệu của Trung Hoa Dân Quốc, khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì cũng được dịch tương đương như "Cộng hoà Quốc" (共和國, nước Cộng hoà). Trong tiếng Anh, "Dân Quốc" và "Cộng hoà Quốc" đều được dịch là "Republic", tiếng Pháp dịch là "République", tiếng Tây Ban Nha là "República" còn tiếng Nga là "Республика" (chuyển tự Latinh: Respublika).

Phía Hàn Quốc luôn yêu cầu các đơn vị truyền thông nước ngoài và các cơ quan quốc tế khi ám chỉ tới "Hàn Quốc" thì không được dùng "South Korea" mà phải sử dụng quốc hiệu "Republic of Korea" hoặc "Korea Republic", nếu gọi ngắn thì chỉ dùng "Korea". Tuy nhiên, "South Korea" lại khá phổ biến trong tiếng Anh thường nhật vì được sử dụng để phân biệt với "North Korea" - Bắc Triều Tiên.

Tại Việt Nam

Trong quá khứ, Hàn Quốc thường hay còn được gọi bằng các tên gọi khác như Đại Hàn, Nam Hàn (cách gọi tắt từ phía chính quốc khi đó và Trung Hoa Dân Quốc), Nam Triều Tiên (cách gọi của phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên) hoặc Cộng hòa Triều Tiên (cách gọi của phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trước năm 1992). Cụ thể, trong thời kỳ chia cắt Việt Nam (1954-1976), báo chí và truyền thông của Việt Nam Cộng hòa (trước đó là Quốc gia Việt Nam) thường chính thức gọi chính thể này là "Đại Hàn" hoặc "Nam Hàn". Sau năm 1975, những tên gọi cũ trên thì dần được chuyển dịch qua các ngôn ngữ phương Tây rồi tiếp tục dịch sang tiếng Việt mà trở thành "Cộng hoà Triều Tiên" (Republic of Korea) hoặc "Nam Triều Tiên" (South Korea) giống như cách gọi của Bắc Triều Tiên (North Korea).

Ngày 23 tháng 3 năm 1994, bằng công hàm số KEV-398 gửi Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại sứ quán nước này đã đề nghị phía Việt Nam gọi chính thể của mình là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc" (từ "Hàn" ở đây không phải là "Lạnh" mà đó là ký âm tự của từ "Han" trong tiếng Hàn Quốc, có nghĩa là "Lớn"), không sử dụng các tên gọi cũ như "Cộng hoà Triều Tiên" hoặc "Nam Triều Tiên" nữa, vì "Triều Tiên" gợi nhắc đến danh xưng của miền Bắc (Bắc Triều Tiên). Đáp lại, Bộ Ngoại giao Việt Nam sau đó đã ra công văn số 733/ĐBA-NG ngày 21 tháng 4 năm 1994 gửi tất cả các cơ quan bộ, ngành, tổng cục, các cơ quan thông tin, truyền thông, tuyên truyền và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam yêu cầu "Từ nay gọi chính thể Nam Triều Tiên là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc", không dùng các tên gọi cũ như Cộng hoà Triều Tiên, Nam Triều Tiên hay Nam Hàn nữa".[63] Danh xưng Nam Triều Tiên hiện nay chỉ còn được truyền thông của phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sử dụng do nước này không công nhận tuyên bố chủ quyền của Hàn Quốc.

Trong đời sống thường nhật, tên gọi Hàn Quốc trong khẩu ngữ của người Việt - đặc biệt là thế hệ trẻ - thường được gọi tắt là Hàn, tương tự như cách gọi Trung (Trung Quốc), Nhật (Nhật Bản), Sing (Singapore), Đài (Đài Loan) hay Thái (Thái Lan),...

Lịch sử

Chi tiết phần lịch sử Hàn Quốc trước năm 1945 được trình bày trong bài Lịch sử Triều Tiên.

Thời kỳ cổ đại

Những nghiên cứu, bằng chứng khoa học và chứng cứ khai quật khảo cổ học cho thấy rằng bán đảo Triều Tiên đã có xuất hiện con người sinh sống sớm nhất ngay từ thời đại đồ đá cũ.[64] Lịch sử Triều Tiên cổ đại bắt đầu kể từ khi nhà nước Cổ Triều Tiên được thành lập vào năm 2333 TCN bởi Đàn Quân. Thời kỳ quân chủ của quốc gia này có nhiều điểm tương đồng với lịch sử Trung Quốc và Việt Nam - khi mà quyền cai trị thuộc về các triều đại phong kiến chuyên chế kế tập, Phật giáo Trung Hoa cùng Đạo giáo của Lão Tử có sức ảnh hưởng lớn và Nho giáo của Khổng Tử được lấy làm nền tảng tư tưởng gốc rễ cho toàn xã hội. Trong thời đại Tam Quốc (từ năm 57 TCN - năm 660 sau CN), dưới triều đại Quảng Khai Thổ Thái Vương (vua Gwanggaeto, 391-413) của Cao Câu Ly (37 TCN - 668 sau CN), lãnh thổ Triều Tiên được mở rộng sau một loạt các chiến dịch quân sự nhằm chinh phục các tiểu quốc của ông thành công, hình thành nên một trong những Đế quốc rộng lớn nhất Đông Bắc Á đương thời[65] - chiếm khoảng một nửa diện tích của khu vực Mãn Châu (thuộc Đông Bắc Trung Quốc và một phần vùng Siberia của Liên bang Nga ngày nay)[66]. Sau Tam Quốc và hậu Tam Quốc (892–936), Triều Tiên tiếp tục trải qua các triều đại Cao Ly (Goryeo, 918-1392), giai đoạn Cao Ly thuộc Mông Cổ (1231-1356, sau thất bại trong chiến tranh với Đế quốc Mông Cổ) và nhà Triều Tiên (Joseon, 1392-1897) trong một đất nước thống nhất cho đến cuối thời kỳ của Đế quốc Đại Hàn (1897-1910) vào năm 1910.

Thời kỳ cận đại

Bước sang thời kỳ cận đại, Hoàng tộc Triều Tiên dưới quyền chi phối và lãnh đạo chuyên chính của Hưng Tuyên Đại Viện Quân rồi tiếp theo đó là Hoàng hậu Minh Thành đã thực thi chính sách "Bế quan tỏa cảng", tự cô lập đất nước với thế giới bên ngoài cũng như thẳng tay đàn áp Thiên Chúa giáo trước các cường quốc châu Âu. Trong khi đó, quốc gia láng giềng Nhật Bản, sau thất bại của Mạc Phủ Tokugawa trong chiến tranh Mậu Thìn (1868-1869) dẫn đến sự kết thúc của chế độ Shōgun, thành công của công cuộc Minh Trị Duy tân (1866-1869), chấm dứt chủ nghĩa 'Tỏa Quốc' và chiến thắng trong các cuộc chiến tranh Thanh–Nhật (1894-1895), chiến tranh Nga–Nhật (1904-1905) cùng chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) - đã trở thành một thế lực mới, dần thay thế phương Bắc, mở rộng sức mạnh và tầm ảnh hưởng của mình lên Triều Tiên, Hải quân Nhật Bản sử dụng "Ngoại giao pháo hạm" - mở đầu bằng sự kiện chiến hạm Unyō tấn công đảo Ganghwa, gây áp lực buộc Triều Tiên phải mở cửa các hải cảng để cho thương nhân Nhật tự do ra vào buôn bán, đồng thời nhanh tay nắm quyền chủ động nhằm sớm kiểm soát vùng lãnh thổ này trước các Đế quốc phương Tây - khởi đầu bằng Điều ước bất bình đẳng Nhật–Triều (1876). Cuối cùng, toàn bộ bán đảo bị Đế quốc Nhật Bản sử dụng vũ lực để sáp nhập ngay sau khi xảy ra sự kiện Thống sứ Nhật Bản tại Triều Tiên - Itō Hirobumi bị An Jung-geun – một nhà hoạt động cách mạng, ám sát tại nhà ga Cáp Nhĩ Tân vào ngày 26 tháng 10 năm 1909[67]. Nhật Bản buộc nhà Thanh (Trung Quốc) phải từ bỏ hoàn toàn quyền lực chi phối cùng sự ảnh hưởng lâu đời, sâu rộng nối tiếp nhau của Đại Thanh nói riêng và các triều đại phong kiến Trung Hoa nói chung lên đất nước cũng như Hoàng tộc Triều Tiên trong suốt chiều dài lịch sử. Người Nhật ép vua Thuần Tông ký vào bản Nhật-Triều Tịnh Hợp điều ước (1910) (Điều ước Sáp nhập hay "Hiệp ước quốc sỉ" - theo cách gọi của người Triều Tiên), trực tiếp kiểm soát bán đảo trong vòng 35 năm (từ 1910-1945), giai đoạn này được gọi là Triều Tiên thuộc Nhật.

Thời kỳ hiện đại

Thành lập Dân Quốc

Thời kỳ Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945 chấm dứt sau khi Đế quốc này bại trận trong chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945) vào giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai và đầu hàng, bán đảo được quân đội Đồng Minh giải phóng và theo thoả thuận của Hội nghị Yalta, Triều Tiên bị chia cắt thành 2 vùng tập kết quân sự bởi Liên Xô cùng Hoa Kỳ, Liên bang Xô viết chiếm đóng miền Bắc cho đến vĩ tuyến 38 trong khi Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về phía Nam, 2 siêu cường sau đó đã không thể đạt được đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên.

Tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đề ra một giải pháp nhằm tiến hành tổng tuyển cử tại Triều Tiên dưới sự hỗ trợ của Ủy ban Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, các chính phủ lâm thời tại 2 miền đã khước từ việc này, Liên Hợp Quốc sau đó tiếp tục đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử ngay tại địa phương nhưng những hoạt động bầu cử độc lập đầu tiên đã được tiến hành riêng rẽ bắt đầu từ ngày 10 tháng 5 năm 1948 tại các tỉnh phía nam vĩ tuyến 38, điều này dẫn tới việc thành lập Nhà nước Đại Hàn Dân Quốc do Lý Thừa Vãn đứng đầu, ngay sau đó, đáp lại, miền Bắc cũng tiến hành tổ chức bầu cử, chính phủ và nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời; do Kim Nhật Thành lãnh đạo, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn bộ bán đảo. Trong khi Bắc Triều Tiên chịu sự ảnh hưởng của ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa và được sự hậu thuẫn từ phía Liên Xô, Trung Quốc và Khối các quốc gia xã hội chủ nghĩa thì ngược lại, Nam Triều Tiên lại chịu ảnh hưởng ý thức hệ và được sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, điều này khiến cho những mâu thuẫn chính trị - xã hội giữa hai miền vốn đã trong tình trạng căng thẳng, nay càng trở nên nghiêm trọng và gay gắt. Các mâu thuẫn và xung đột sau đó dẫn đến kết cục là Chiến tranh Triều Tiên (25 tháng 6 năm 1950 – 27 tháng 7 năm 1953) khi Quân đội Nhân dân Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, cáo buộc quân đội miền Nam vượt qua trước và tổng tấn công, Hoa Kỳ cùng Liên Hợp Quốc hậu thuẫn Đại Hàn Dân Quốc còn đứng đằng sau Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là Liên Xô, Trung Quốc và Khối Xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953 và chỉ tạm dừng khi Lực lượng Liên Hợp Quốc, Quân đội Nhân dân Triều Tiên cùng Chí nguyện quân Trung Quốc ký kết Thoả thuận đình chiến tại làng đình chiến Bàn Môn Điếm thuộc Khu phi quân sự Triều Tiên, vĩ tuyến 38 chia cắt bán đảo Triều Tiên vĩnh viễn từ đó đến nay. Chiến tranh Triều Tiên khiến cho hơn 3 triệu người thiệt mạng và hàng chục triệu người khác bị ảnh hưởng, rất nhiều người dân, binh lính, quân nhân bị thương tật, một số khác thì bị mất nhà cửa hoặc chia lìa vĩnh viễn những người thân trong gia đình, cuộc chiến này còn tiêu tốn của các bên số tiền lên tới hơn 30 tỷ đô la Mỹ vào thời điểm những năm 1950-53, tương đương với khoảng 325 tỷ theo thời giá ước đoán hiện nay.[68]

Sau chiến tranh, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thống nhất đất nước trên cơ sở lập luận "một Triều Tiên", không công nhận chính phủ Hàn Quốc và chọn con đường thống nhất đất nước bằng "Cách mạng Xã hội chủ nghĩa". Ngược lại, phía Hàn Quốc cũng coi chính phủ của mình là chính thể có chủ quyền hợp pháp duy nhất trên toàn bộ bán đảo Triều Tiên và không công nhận chính phủ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng này khiến cho quá trình hòa giải giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến tận thập niên 1960. Đầu thập niên 1970, quan hệ hai bên dần được cải thiện. Hai miền Triều Tiên đã chính thức công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991, cả hai nước được công nhận để chính thức gia nhập Liên Hợp Quốc cùng một lúc. Hàn Quốc là quốc gia đầu tư kinh tế và hoạt động chủ yếu, tích cực nhất trong chiến dịch viện trợ lương thực giúp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990 thông qua Chương trình Lương thực Thế giới WEP của Liên Hợp Quốc.

Một số hình ảnh về chiến tranh Triều Tiên:

Thời kỳ độc tài quân sự

 
Tướng Park Chung-hee (giữa) trong cuộc đảo chính 16 tháng 5
 
Park Chung-hee xây dựng hình ảnh thông qua sự sùng bái cá nhân

Quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc được thấm đẫm bởi máu, xung đột và bạo lực.[69] Lý Thừa Vãn sau khi lên nắm quyền lực đã cho thực thi một chính sách cai trị độc tài, đàn áp quyết liệt, thẳng tay đối với những người cánh tả, thậm chí còn sát hại không ít nhân vật, chính khách bất đồng chính kiến. Đồng thời, bộ máy quản lý đất nước do ông xây dựng cũng bị nạn tham nhũng đục khoét, tàn phá nặng nề, kinh tế đất nước trì trệ, phát triển chậm chạp. Chính vì thế nên sang đến năm 1960, Lý Thừa Vãn phải đối mặt với làn sóng bất bình cực lớn của người dân. Cuối cùng, ông phải rời bỏ nhiệm sở, lên máy bay chạy sang bang Honolulu (Hoa Kỳ) và sống tị nạn tại đây cho tới cuối đời. Hiện nay, dư luận và giới chuyên gia ở Hàn Quốc vẫn đánh giá về Lý Thừa Vãn rất tiêu cực.

Chính phủ dân sự ngắn ngủi kế nhiệm của Tổng thống Chang Myon bị lật đổ sau cuộc đảo chính của tướng Park Chung-hee vào ngày 16 tháng 5 năm 1961. Năm 1963, Park Chung-hee kiểm soát chính phủ và chính thức lên nắm quyền tổng thống. Sau đó, ông ta trở thành nhà độc tài thứ 2 của Hàn Quốc.

Thông qua hoạt động của Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia, Park Chung-hee đã giải tán Quốc hội cùng các đảng phái chính trị đối lập đang hoạt động, đồng thời thẳng tay đàn áp các phong trào chống đối. Park Chung-hee ban hành loạt sắc lệnh cấm công nhân tổ chức mít tinh, biểu tình, diễu hành. Ông còn cài cắm lực lượng mật thám, nhân viên thân tín của chính phủ vào bên trong nội bộ các tổ chức công đoàn công nhân để giám sát và rồi dần dần kìm hãm phong trào đấu tranh của họ. Bên cạnh đó, về chính sách đối ngoại, quân đội Hàn Quốc được Park Chung Hee sử dụng như một "đạo quân lê dương" - đánh thuê cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam và cũng là lực lượng chính tiến hành các vụ đàn áp, bắt bớ, thủ tiêu, do thám trong nước theo mệnh lệnh của Park.

Trong suốt thập niên 1960, chính phủ của Park Chung-hee có xu hướng đàn áp thô bạo ngày càng gia tăng. Năm 1971, Park Chung-hee đã ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia "dựa trên thực tế nguy hiểm của tình hình quốc tế". Tới tháng 10 năm 1972, ông lại khởi xướng một cuộc đảo chính để tự giải thể quốc hội và đình chỉ hiến pháp, dọn đường để bản thân lên nắm quyền lực thông qua bản Hiến pháp Duy Tân vào tháng 11 và sau đó là một cuộc trưng cầu dân ý bị đánh giá, chỉ trích là gian lận nặng nề, theo đó, hiến pháp mới chính thức chấm dứt bầu cử dân chủ trực tiếp và suy tôn Park Chung-hee làm Tổng thống trọn đời. Park bị chỉ trích là một nhà độc tài quân sự tàn nhẫn, thế nhưng đổi lại, nền kinh tế Hàn Quốc đã được cải thiện rất đáng kể dưới nhiệm kỳ của Park. Chính phủ của ông đã phát triển một hệ thống đường cao tốc trên toàn quốc, hệ thống tàu điện ngầm Seoul và đặt nền tảng to lớn, vững chắc cho sự chuyển biến thần kỳ, mạnh mẽ của đất nước Hàn Quốc trong những thập niên sau đó.

Ngày 16 tháng 10 năm 1979, tại trường Đại học Busan, một nhóm sinh viên đã xuống đường kêu gọi chấm dứt chế độ độc tài. Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan rộng, buổi tối hôm đó đã có tới hơn 50.000 người tụ tập ở phía trước của hội trường thành phố Pusan. Trong hai ngày tiếp theo, một số văn phòng công cộng đã bị tấn công và khoảng 400 người biểu tình đã bị bắt giữ. Vào ngày 18 tháng 10, chính phủ Park Chung Hee tuyên bố thiết quân luật tại Pusan. Thế nhưng các cuộc biểu tình đã lan tới thành phố Masan, đặc biệt là ở Trường Đại học Tổng hợp Kyungnam. Bạo lực leo thang với các cuộc tấn công vào các đồn cảnh sát và trụ sở các cơ quan của đảng cầm quyền trong thành phố. Khủng hoảng xã hội đã khiến nội bộ lực lượng cầm quyền bị rạn nứt. Ngày 26 tháng 10 năm 1979, Park Chung-hee bị bắn chết bởi Kim Jae-gyu, đương kim Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (NIS) và nhóm của mình. Ngay sau đó, Kim Jae-gyu cùng đồng phạm bị tử hình bằng hình thức treo cổ, nhưng cho đến tận ngày nay, một Uỷ ban đặc biệt của chính phủ vẫn đang phải phải tiếp tục thảo luận về việc có nên coi Kim Jae-gyu là người góp công cho quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc hay không.

Thời đại Park Chung-hee kết thúc trong bạo lực và bất ổn xã hội. Một chính phủ tạm thời được thành lập, đất nước bị đặt trong tình trạng thiết quân luật. Bản thân Park Chung-hee chết do bị ám sát bởi một quan chức thân tín phản bội. Sự nghiệp chính trị của ông cũng bị hoen ố vì độc tài và ngày nay, nhiều người Hàn Quốc căm ghét Park Chung Hee dù ông có công rất lớn trong việc xây dựng và tái thiết lại đất nước. Khi Roh Moo-hyun lên làm Tổng thống vào năm 2003, chính phủ vẫn phải tiếp tục ban hành các đạo luật mới và thành lập các uỷ ban điều tra về tình trạng bạo lực dưới thời Park Chung-hee. Tuy vậy, trong một cuộc khảo sát của Viện nghiên cứu và phân tích thông tin Gallup vào năm 2015 tại Hàn Quốc, Park Chung-hee đã được bình chọn là Tổng thống vĩ đại nhất trong lịch sử nước này (với tỷ lệ bình chọn là 44%).[70]

 
Tổng thống Chun Doo-hwan cùng Tổng thống Mỹ Ronald Reagan gặp nhau năm 1983
 
Nghĩa trang Mangwol-dong ở Gwangju - nơi thi thể các nạn nhân của vụ thảm sát Gwangju được chôn cất.

Năm 1980, tướng Chun Doo-hwan được một hội đồng quân sự bầu lên làm tổng thống. Ngày 18 tháng 5 năm 1980, tại thành phố Gwangju - thủ phủ của tỉnh Jeolla Nam khi đó - đã xảy ra Phong trào dân chủ Gwangju - khi người dân địa phương tổ chức đánh cướp kho vũ khí của các trạm cảnh sát để chống lại cảnh sát chính phủ của Chun Doo-hwan sau khi lực lượng này đàn áp tàn bạo một cuộc biểu tình ôn hòa đòi cải cách nền dân chủ cũng như đòi quyền tự do bầu cử của sinh viên địa phương.[71][72] Quân đội Hàn Quốc với cả vũ khí sát thương hạng nặng như vòi rồng, xe tăng, xe bọc thép,... đã được điều động đến. 4 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm 1980, quân đội từ 5 hướng tiến vào trung tâm thành phố và đánh bại hoàn toàn lực lượng dân quân chỉ trong vòng 90 phút. Trong sự kiện này, quân đội Hàn Quốc được cho là đã nổ súng bắn chết khoảng 1.000 tới 2.000 thường dân.[73][74]

Sau khi đàn áp hoàn toàn cuộc nổi dậy của người dân trong cuộc Thảm sát Gwangju, Chun Doo-hwan trở thành nhà độc tài thứ 3 trong lịch sử chính trị Hàn Quốc. Cũng giống như người tiền nhiệm Park Chung-hee, Chun bắt đầu tiến hành kiểm soát đất nước một cách chặt chẽ hơn, ông ta loại bỏ hoàn toàn các chính trị gia đối lập khỏi chính trường và tiến hành thanh lọc xã hội theo quy mô lớn. Đồng thời, chính phủ Chun Doo-hwan thiết lập một cơ sở đào tạo quân sự đặc biệt mang tên gọi "Samcheong Education Troops", để tiến hành chương trình "giáo dục thanh lọc".[75] Khoảng hơn 40 nghìn người đã bị bắt đưa đến các cơ sở của Samcheong Education Troops. Số liệu thống kê về sau cho thấy có 54 người đã bị giết trong quá trình giam giữ và 397 người chết sau đó.[75] Vào năm 1986, Chun Doo-hwan ra lệnh bắt giữ và tra tấn nhiều nhà hoạt động có tư tưởng trái với khuynh hướng của giới cầm quyền, đồng thời nghiêm cấm triệt để các tổ chức công đoàn hoạt động, rất nhiều tổ chức chính trị theo đuổi dân chủ tự do bị đàn áp khốc liệt như Liên minh Dân chủ Thống nhất và Phong trào Nhân dân.

Vào tháng 1 năm 1987, một vụ tra tấn dã man của đã dẫn tới cái chết của Park Jong-cheol, sinh viên trường Đại học Quốc gia Seoul. Đầu năm 1987, người dân Hàn Quốc lại bắt đầu nổi dậy sau cái chết của sinh viên họ Park. Họ tổ chức hàng loạt các cuộc bạo động lớn để phản đối chính sách bắt bớ, thủ tiêu và tra tấn tàn bạo của chế độ Chun Doo-hwan và đồng thời tiếp tục yêu cầu tiến hành sửa đổi Hiến pháp. Đây cũng chính là sự khởi đầu cho "Cuộc Nổi dậy Dân chủ Tháng Sáu", từ ngày 26 đến ngày 29, có đến hơn 1,4 triệu người đã tham gia cuộc "Tuần hành Hòa bình Vĩ đại của Nhân dân", được tổ chức tại 34 thành phố và 4 tỉnh, họ hô to khẩu hiệu "Bãi bỏ hiến pháp xấu xa""Xóa bỏ chế độ độc tài". Dưới áp lực ấy, chính quyền Chun Doo-hwan đã buộc phải sửa đổi Hiến pháp, ban hành bản Hiến pháp mới vào ngày 29 tháng 10 năm 1987. Mặc cho tội ác thảm sát của mình, Chun Doo-hwan vẫn nắm vị trí cao nhất trong bộ máy quyền lực ở Hàn Quốc cho tới tận năm 1988. Năm 1996, Chun mới bị chính phủ mới kết tội tham nhũng, hối lộ, ra lệnh thảm sát dân thường và bị kết án tử hình (sau đó được giảm xuống còn chung thân tuy vậy, ông ta nhanh chóng được Tổng thống Kim Young-sam ân xá vào ngày 22 tháng 12 năm 1997).

Chính phủ dân sự

 
Tổng thống Kim Dae-jung - người đã thúc đẩy dân chủ, nhân quyền ở Hàn Quốc và các chính sách hòa giải với Bắc Triều Tiên, ông đôi khi được gọi là Nelson Mandela của châu Á.
 
Park Geun-hye - nữ tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc và Tổng thống Mỹ Barack Obama gặp nhau năm 2013.

Các cuộc nổi dậy trong thập niên 1980 đã để lại dấu ấn to lớn cho sự ra đời của chính phủ dân sự vào năm 1992 với đường lối cầm quyền cùng chính sách đối ngoại mềm mỏng hơn rất nhiều. Trước đó, vào năm 1987, Hiến pháp Hàn Quốc đã được sửa đổi, theo đó, người dân lại được quyền trực tiếp bầu ra Tổng thống. Sự kiện này đánh dấu quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ của quốc gia này. Thủ đô Seoul được chọn làm nơi tổ chức Thế vận hội Olympic năm 1988, một kỳ Thế vận hội vô cùng thành công và đã thúc đẩy đáng kể vị thế quốc tế của Hàn Quốc.[76] Hàn Quốc chính thức được mời trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc vào năm 1991.

Tuy đạt được nhiều tiến bộ trong quá trình dân chủ hóa, chính trường Hàn Quốc vẫn chưa bao giờ hết khốc liệt hay có dấu hiệu 'hạ nhiệt', các đời tổng thống tiếp theo là tướng Roh Tae-woo (1987) Kim Young-sam (1992) và Kim Dae-jung (1998) đều để lại nhiều dấu ấn với cả tích cực lẫn tiêu cực. Trong đó, vị tổng thống thứ sáu - Roh Tae-woo bị kết án tù vì các tội danh liên quan đến hối lộ, tham nhũng. Tuy vậy, sang đến năm 2000, Tổng thống Kim Dae-jung gây tiếng vang lớn khi được trao giải Nobel Hoà Bình vì những nỗ lực của ông trong việc bình thường hoá quan hệ với CHDCND Triều Tiên[77]. Vào tháng 6 năm 2000, một hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưỡng, thủ đô của CHDCND Triều Tiên, hội nghị là thành quả tích cực sau nhiều năm Hàn Quốc thực thi Chính sách Ánh dương với CHDCND Triều Tiên do tổng thống Kim Dae-jung đề xướng. Cuối năm đó, ông Kim đã được nhận giải thưởng Nobel Hòa bình do Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao tặng, giải thưởng nhằm vinh danh cho những nỗ lực to lớn, thiết thực của ông vì nền hòa bình lâu dài trên bán đảo Triều Tiên. Năm 2003, học trò của ông, Roh Moo-hyun kế nhiệm. Thế nhưng sau đó, đến lượt Roh Moo-hyun cũng phải đối mặt với lời buộc tội tham nhũng, ông Roh tự sát vào ngày 23 tháng 5 năm 2009 bằng cách nhảy xuống từ một mỏm núi trong khi các cuộc điều tra vẫn đang tiếp diễn, do vậy, nhiều người nghi ngờ vụ tự sát của ông là do sức ép từ các thế lực khác.

Sau đó là ông Lee Myung-bak làm tổng thống trong giai đoạn 2008-2013. Năm 2018, ông Lee bị bắt giam do bị tòa án cáo buộc ít nhất 12 tội danh, trong đó có việc nhận hối lộ 11 tỷ Won (tương đương 10,2 triệu USD) của Cơ quan Tình báo Quốc gia (NIS) và các doanh nghiệp khác. Bên cạnh đó, còn là những cáo buộc về tội danh trốn thuế và chiếm đoạt 35 tỷ Won từ một công ty mà ông Lee bí mật sở hữu.[78] Vào tháng 3 năm 2019, ông Lee được cho phép tại ngoại vì những lo ngại liên quan đến vấn đề sức khỏe, tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 2 năm 2020, tòa án quận trung tâm Seoul đã chính thức ra bản án tuyên phạt ông Lee Myung-bak 17 năm tù giam cùng phạt tiền tổng cộng 13 tỷ Won (tương đương khoảng 11 triệu USD).[79]

Tiếp đến là Park Geun-hye (con gái của cố Tổng thống - nhà độc tài Park Chung-hee), bà là nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại và đồng thời cũng là vị nữ tổng thống dân cử đầu tiên tại châu Á. Tuy nhiên, tới đầu năm 2017, đến lượt Park Geun-hye cũng bị Quốc hội nước này phế truất và bắt giam với các cáo buộc tiết lộ bí mật quốc gia, nhận hối lộ, để người không có bất kỳ chức vụ, thẩm quyền gì là bà Choi Soon-sil (bạn thân) can thiệp bất hợp pháp vào các tài liệu mật cũng như công việc nội bộ của chính phủ, lạm quyền và tham nhũng.

Như vậy, tính cho đến năm 2018, trong số 11 đời Tổng thống Hàn Quốc (không tính các quyền Tổng thống chỉ tạm thời đảm nhiệm chức vụ trong mấy tháng do khủng hoảng chính trị), đã có 1 người bị ám sát, 1 người tự sát do bị điều tra, 1 người bị đảo chính và phải chạy ra nước ngoài tị nạn, 4 người khác bị bắt giam do các tội danh liên quan đến tham nhũng, nhận hối lộ.[80] Những vụ bê bối liên quan đến giới chính trị gia hay lãnh đạo các doanh nghiệp kinh tế lớn luôn là một vấn nạn gây ám ảnh, nhức nhối tại quốc gia này[81] bên cạnh sự gia tăng của các loại tội phạm tình dục.[82]

Tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên là một chủ đề chính trị đang được bàn luận sôi nổi, rộng rãi ở Hàn Quốc hiện nay, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một hiệp định hoà bình nào được ký kết. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân được tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ hoặc có các hành động diễn thuyết, tuyên truyền, phát biểu ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có thể bị kết án 7 năm tù giam, tự ý tổ chức các chuyến đi du lịch, đến thăm Bắc Triều Tiên mà không có sự cho phép của chính phủ có thể bị phạt tối đa lên tới 10 năm tù giam[83][84][85][86]. Tổng thống Roh Moo-hyun đã từng nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại điều đó vẫn chưa được thực thi. Tổng thống đương nhiệm Moon Jae-in cũng hy vọng hai miền sẽ tái thống nhất trong hòa bình - sớm nhất là vào năm 2045.[87]

Khôi phục và phát triển kinh tế

Chính sách độc tài khắc khổ

 
Mức độ tăng trưởng GNI bình quân đầu người của Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên trong giai đoạn từ năm 1950-2016

Sau chiến tranh Triều Tiên, vào giai đoạn lịch sử trước khi tướng Park Chung-hee lên nắm quyền vào năm 1961, kinh tế Hàn Quốc khá nghèo nàn với thu nhập bình quân đầu người ít hơn 100 USD mỗi năm. Hàn Quốc thời điểm đó là một quốc gia thuộc vào "Thế giới thứ 4" được xếp hạng là 'một trong những nước nghèo nhất trên thế giới'. Ở giai đoạn này, kinh tế Hàn Quốc cơ bản phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu là từ Mỹ. Khi đó, viện trợ của chính phủ Mỹ chiếm tới gần 80% tổng ngân sách của chính phủ và chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của Hàn Quốc. Mặc dù cho một số khu vực của đất nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa từ thời kỳ chiếm đóng của Nhật Bản, nhưng phần lớn chủ yếu tập trung tại miền Bắc và nhìn chung, vào đầu thập niên 60, Hàn Quốc vẫn là một nước thuần nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển hơn về mọi mặt so với nền kinh tế của CHDCND Triều Tiên - vốn không những rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên[88][89][90] mà còn được Trung Quốc, Liên Xô cùng khối các quốc gia Xã hội chủ nghĩa viện trợ, giúp đỡ.

Để xóa bỏ đói nghèo và tái tạo động lực phát triển kinh tế, Park Chung-hee đã thành lập Hội đồng Tối cao phụ trách Tái thiết Quốc gia, mang "kỷ luật quân đội" và chính sách cải cách kinh tế - xã hội kiểu "độc tài" - áp dụng trên toàn quốc. Một trong những mục tiêu, tham vọng chính của tướng Park là chấm dứt tình trạng lạc hậu, nghèo đói ở Hàn Quốc và biến đất nước này từ một nền kinh tế thuộc 'Thế giới thứ tư' trở thành một cường quốc kinh tế hàng đầu của thế giới, ông phát biểu cũng như đặt câu hỏi với các tướng lĩnh cấp dưới; rằng:[91][92][93]

Ngay sau khi thực hiện thành công cuộc đảo chính để lên nắm chính quyền vào tháng 7 năm 1961, tướng Park Chung-hee tuyên bố rằng ông sẽ tiến hành "dọn rác" để làm sạch, thanh lọc xã hội.[94] Ông trực tiếp chỉ đạo các lực lượng cảnh sát, quân đội thực hiện hàng ngàn vụ đàn áp, bắt bớ và tiếp tục tái khẳng định quyết tâm của mình khi diễn thuyết trước hơn 20.000 sinh viên của Đại học Seoul bằng loạt câu nói nổi tiếng:

Một trong những việc đầu tiên ông làm là đem tử hình 24 quan chức và doanh nhân vì tội tham nhũng. Toàn xã hội "thắt lưng buộc bụng", trong các công ty, mọi người đều phải làm việc hết sức mình, ai làm không chăm sẽ bị phê bình, mắng nhiếc trước mặt mọi người, thậm chí, trong văn hóa, nội quy của các trường học công ty, doanh nghiệp Hàn Quốc thời bấy giờ có quy định "nếu như học sinh, nhân viên mắc lỗi, làm sai hoặc lười biếng thì giáo viên, cấp trên của họ có quyền tát bạt tai để làm gương mà người đó không được phép tỏ thái độ hay phản đối". Một số ngành do quân đội trực tiếp xây dựng và quản lý, khi người lính làm việc không chăm, cấp trên có quyền trừng phạt bằng đòn roi. Những du học sinh trước khi ra nước ngoài học tập phải cam kết không ở lại nước ngoài mà phải về nước phục vụ dù muốn hay không, những ai đã học xong mà không quay về nước thì gia đình họ sẽ phải chịu những hình phạt nặng nề.

 
Tổng thống Park Chung-hee đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhanh chóng nền kinh tế Hàn Quốc thông qua chính sách công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu.
 
Xưởng đóng tàu của Hyundai ở Ulsan năm 1976

Park chuyển chiến lược của nền kinh tế đất nước từ công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Park thành lập một Ủy ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) để điều hành nền kinh tế đất nước. Lấy những "Kế hoạch kinh tế 5 năm" - vốn đã từng rất thành công của Liên Xô trước đây - làm kiểu mẫu, Park đã đề ra "Kế hoạch 5 năm" lần đầu tiên vào năm 1962, nhiệm vụ chủ chốt của kế hoạch này là tập trung phát triển các ngành công nghiệp nhẹ nhằm mục đích xuất khẩu. Ông tuyên bố thành phố Ulsan sẽ là một "khu vực phát triển công nghiệp đặc biệt" của đất nước. Ngay sau đó, Hyundai - một trong những tài phiệt lớn đầu tiên của Hàn Quốc đã nhanh chân tận dụng vị thế đặc biệt của Ulsan để biến thành phố này thành nơi đặt các nhà máy chính của mình.

Hầu hết các nhà sử học đều coi 'Kế hoạch 5 năm đầu tiên' là điểm cất cánh của nền kinh tế Hàn Quốc. Từ năm 1962 đến năm 1966, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Hàn Quốc đạt tới 7,6%. Sản lượng xuất khẩu tăng trên 30% mỗi năm, sản lượng sản xuất tăng trên 15% mỗi năm. Vì các chính sách phát triển kinh tế của Park được thúc đẩy bởi chủ nghĩa dân tộc và mong muốn giành quyền tự chủ cho đất nước của mình, do đó Park chủ trương tự lực, không để cho nền kinh tế của Hàn Quốc bị phụ thuộc và chi phối bởi nước ngoài. Do đó, ban đầu ông đã ra sức hạn chế đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Hàn Quốc. Tuy nhiên, theo lời khuyên của các chuyên gia kinh tế, ông bắt đầu dần dần nới lỏng những hạn chế này, tuy nhiên, các công ty nước ngoài khi đó muốn đầu tư vào thị trường Hàn Quốc thì phải tiến hành chuyển giao công nghệ ở một mức độ nhất định cho các doanh nghiệp nước này. Năm 1966, 'Đạo luật kích thích vốn đầu tư nước ngoài' được chính phủ Park thông qua đã cung cấp những ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài và hợp lý hóa quy trình đầu tư vào Hàn Quốc. Kế hoạch năm năm lần thứ hai (1967-1971) tiếp tục nhấn mạnh hơn vào việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, khuyến khích chuyển giao công nghệ và cải thiện cơ sở hạ tầng trong nước.[95]

Vào năm 1972, Park tuyên bố thiết quân luật và ban hành một hiến pháp mới mang lại cho ông ta quyền lực tuyệt đối tới mức gần như trở thành một nhà độc tài. Sử dụng quyền lực của mình, Park đã chuyển hướng nền kinh tế của đất nước sang tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp nặng và hóa chất. Từ năm 1973, nền kinh tế Hàn Quốc đặt trọng tâm chủ yếu vào 6 ngành: thép, hóa chất, luyện kim, chế tạo máy, đóng tàu và điện tử. Giai đoạn phát triển công nghiệp này tập trung tại các thành phố nhỏ nằm ở phía đông nam của đất nước.[96]

Kế hoạch phát triển kinh tế của Park Chung-hee là dựa vào xuất khẩu nhờ giá thành thấp. Chi phí sản xuất được cố tình hạ thấp đến mức tối thiểu bằng cách toàn dân phải cam chịu gian khổ, tiêu dùng hết sức tiết kiệm. Để người lao động có thể sống với mức lương rất thấp, chính quyền đã áp dụng biện pháp bảo hộ, giữ giá những sản phẩm nông nghiệp luôn ở mức rất thấp. Cuối thập niên 70, các tập đoàn công nghiệp của Hàn Quốc đã sản xuất được máy thu hình màu, nhưng chỉ để xuất khẩu, trong nước chỉ dùng TV trắng đen. Các sản phẩm xa xỉ như mỹ phẩm, xe hơi cao cấp, quần áo thời trang,... đều bị hạn chế nhập khẩu ở mức tối đa để nguồn vốn quý giá không bị chảy ra nước ngoài.

Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của Hàn Quốc cũng phải trả giá bằng sự hy sinh rất lớn của tầng lớp lao động. Quyền của người lao động bị hạn chế tối đa vì từ năm 1962, chính sách toàn quốc thắt lưng buộc bụng được áp dụng triệt để, không có ngoại lệ, từ Tổng thống, quan chức đến dân chúng. Người dân, người lao động Hàn Quốc thời kỳ đó phải làm việc cật lực, nặng nhọc và triền miên, nhưng sống rất kham khổ. Hàng tuần mỗi người dân đều phải nhịn ăn một bữa, không hút thuốc lá ngoại nhập, không uống cà phê, không mặc quần áo thời trang đắt tiền. Thời gian lao động kéo dài đến 12-14 tiếng mỗi ngày. Điều kiện lao động kém, tiền lương rất thấp. Những phản kháng tự phát của công nhân, nông dân hoặc của dân nghèo thành thị đòi hỏi cải thiện điều kiện sống đều bị chính quyền Park Chung Hee thẳng tay đàn áp không thương tiếc. Michael Schuman, một nhà báo nổi tiếng chuyên về lĩnh vực kinh tế học của thời báo Time (Mỹ) nhận định:[97]

Tham chiến tại Việt Nam

Mặt khác, theo yêu cầu hỗ trợ của Hoa Kỳ và từ chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Park Chung-hee đã cử hơn 320.000 quân nhân sang tham chiến cùng với quân đội Mỹ, Việt Nam Cộng hòaKhối đồng minh chống cộng (Úc, New Zealand, Thái Lan, Philippines,...) trong chiến tranh Việt Nam - vừa để nhằm mục đích "nâng cao vị thế quốc gia", hỗ trợ đồng minh Hoa Kỳ trong việc hoàn thành kế hoạch tham vọng chống lại sự lan rộng đang cực kỳ mạnh mẽ của chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn cầu theo Học thuyết Domino cũng như để đổi lấy những khoản viện trợ từ phía chính phủ nước này. Đây là lực lượng quân sự nước ngoài có quy mô lớn thứ 2 trong cuộc chiến chỉ sau Hoa Kỳ[98], số lượng binh sĩ Hàn Quốc tham chiến đạt mức cao nhất trong năm 1968 với khoảng trên 50.000 người[99]. Ước tính sau 9 năm chiến đấu ở miền Nam Việt Nam (1964–1973): có khoảng từ 4.407[100][101] - 5.099 lính tử trận, 10.962 người khác bị thương và 4 mất tích trong suốt cuộc chiến.[102][100] Đội quân này gây ra một danh sách dài những tội ác chiến tranh, những vụ đàn áp, thảm sát thường dân Việt Nam, xóa sổ nhiều làng mạc bị nghi ngờ là du kích, hỗ trợ cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam khi tham chiến đồng thời bỏ lại nơi đây hàng ngàn đứa con lai khi rời đi. Sau này, phía Hàn Quốc thống kê được rằng quân đội của họ đã làm tổng cộng khoảng 41.000 người Việt Nam thiệt mạng.[100]

Đổi lại, chính phủ Hoa Kỳ tài trợ mọi khoản chiến phí và trả tiền lương cho binh lính Hàn Quốc. Tổng cộng Mỹ đã viện trợ hoặc cho Hàn Quốc vay ưu đãi khoảng 10 tỷ USD (tương đương khoảng 70 tỷ USD theo thời giá năm 2017) từ năm 1946 tới năm 1978. Trong đó nhiều nhất là giai đoạn 1965-1972: chỉ riêng trong 7 năm này, Hàn Quốc nhận được 5 tỷ USD viện trợ của Mỹ (tương đương 35 tỷ USD theo thời giá 2017) - nhiều gấp 3 lần mức viện trợ nhận được trong giai đoạn trước. Trong 2 năm đầu (1965-1966), thu nhập từ việc đánh thuê cho Mỹ chiếm 40% thu nhập ngoại hối của Hàn Quốc. Một số học giả tính toán rằng số tiền có được từ cuộc chiến Việt Nam chiếm từ 7-8% GDP của Hàn Quốc trong những năm 1966-1969.[103] Số tiền được chính phủ Mỹ chuyển thẳng cho chính phủ Hàn Quốc dưới hình thức "bán công khai" như trợ cấp phát triển quốc phòng, hợp đồng dân sự, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường bởi các đời Tổng thống Lyndon B. JohnsonRichard Nixon.[104]

Theo chân quân đội Hàn Quốc sang Việt Nam, các công ty công nghiệp lớn của nước này thời ấy; như Hyundai, đã tranh thủ tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu khi tham gia vào công việc hoàn thành các dự án xây dựng, vận tải, hậu cần và hệ thống giao thông lớn cho quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam, điều mà họ đã áp dụng về sau này để giành được những hợp đồng béo bở ở Trung Đông cùng nhiều nơi khác trên khắp thế giới.

Nhờ viện trợ và tiền lương của Mỹ trả cho binh lính Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam, kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh chóng. Chỉ trong vòng 10 năm từ 1964 tới 1974, GNP bình quân của Hàn Quốc đã tăng hơn 5 lần (từ 103 USD lên 541 USD). Rất nhiều 'máu' đã đổ khi lính Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam và nhiều ý kiến cho rằng những tổn thất sinh mạng đó đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc sau này.[100] Trong bài phát biểu nhân "Ngày tưởng niệm" (6/6/2017), Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã tái khẳng định rằng:[105]

Hỗ trợ từ Nhật Bản và Hoa Kỳ

Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc. Tổng thống Park Chung-hee đã quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào năm 1965 - một động thái gặp phải sự phản đối gay gắt của nhiều người Hàn Quốc (vì Nhật Bản từng xâm lược và đô hộ Hàn Quốc trong thời kỳ 1895-1945). Lao động giá rẻ ở trong nước kết hợp với vốn và công nghệ của Nhật Bản đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc. Sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Nhật Bản đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai ở Hàn Quốc chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Trong vòng mười năm sau đó, thương mại giữa hai nước đã mở rộng hơn 10 lần, từ năm 1962 đến 1979, 60% công nghệ từ nước ngoài của Hàn Quốc là do Nhật Bản cung cấp.[106]

Thị trường Hoa Kỳ cùng với các khoản đầu tư và chuyển giao công nghệ của Nhật Bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển biến thần kỳ của nền kinh tế Hàn Quốc. Kinh tế Nhật Bản cũng là một mô hình rất tốt để Hàn Quốc noi theo trong công cuộc định hình, phát triển nền kinh tế quốc gia. Trong thời kỳ thuộc địa và kể cả sau khi giành được độc lập, người Hàn Quốc đã học hỏi được rất nhiều điều từ người Nhật về những gì mà một quốc gia không thuộc phương Tây có thể làm để công nghiệp hóa và hiện đại hóa thành công. Một nhà kinh tế học người Hàn Quốc đã mô tả chính sách của cộng đồng doanh nghiệp nước này vào thời kỳ đó là: "Làm hệt như những gì người Nhật đã từng làm, nhưng cố gắng tìm cách làm sao để đạt được điều đó một cách nhanh hơn, hiệu quả và ít tốn kém hơn".[107]

Cải cách văn hóa - xã hội

Park Chung-hee cho rằng, Hàn Quốc trước tiên cần phải phát triển kinh tế vững mạnh rồi sau đó mới có thể có được dân chủ:

Bằng lý lẽ này, Park Chung-hee sử dụng hệ thống cảnh sát mật để theo dõi và dẹp tan mọi hành vi chống lại ông. Tất cả mọi cá nhân có phát ngôn hoặc hành động chống lại chính phủ, mọi cuộc biểu tình đòi tăng lương đều bị đáp lại bằng sự trừng phạt, bắt bớ, trấn áp thẳng tay. Park Chung-hee sử dụng luật an ninh chống cộng để bỏ tù và tra tấn bất cứ ai bất đồng chính kiến. Các cuộc biểu tình, hệ thống báo chí và phát ngôn nói chung đều bị kiểm duyệt hà khắc. Các sĩ quan cảnh sát mang thước và chặn thanh niên trên phố để đo tóc và váy của họ. Chính quyền sẽ can thiệp rất thô bạo nếu thanh niên để tóc dài, phụ nữ mặc váy ngắn. Gián điệp, chỉ điểm có mặt khắp mọi nơi, giám sát đến cả trường học. Những người bất đồng chính kiến khó thoát khỏi bị bắt và kết cục là cuộc sống mòn mỏi ở trong tù. Ở Hàn Quốc thời điểm này, nếu một người bị quy là người cộng sản, người đó sẽ mất hết mọi quyền tồn tại trong xã hội. Quy kết và phê phán nhằm vào một chính sách nào đó của chính phủ, chính khách đối lập là mang tư tưởng "Cộng sản chủ nghĩa" là phương cách được chính quyền Park ưa thích và tận dụng rất hiệu quả. Khi một nhà hoạt động xã hội bị bắt, người đó sẽ bị tra tấn dã man để phải thú nhận mình là người cộng sản[108]. Cho đến nay, không một chính trị gia Hàn Quốc nào có thể tạo được một sự uy quyền bao trùm tuyệt đối lên đất nước cũng như khiến cả một thế hệ người dân Hàn Quốc sợ hãi như Park Chung-hee.

Chế độ độc tài quân sự của Park Chung-hee mang tính chất chuyên chế độc đoán, phản dân chủ mạnh mẽ, nhưng cũng không thể phủ nhận những mặt tích cực của chế độ chính trị này đối với việc định hướng diện mạo nền kinh tế và xã hội Hàn Quốc ngày nay. Bên cạnh các biện pháp chính trị, Park Chung-hee sử dụng các yếu tố văn hóa Nho giáo để thúc đẩy phát triển đất nước. Vào đầu những năm 1970, Park Chung-hee dự định dẹp bỏ tất cả những gì gọi là truyền thống để nhanh chóng đạt được hiện đại hóa. Phong trào xây dựng nông thôn mới (Saemaul Undong) đã đập phá nhiều di sản văn hóa, những truyền thống đều bị coi là "cổ hủ", "lạc hậu" và "lỗi thời", cần phải gạt bỏ nhanh chóng để tiến lên hiện đại hóa:[109]

Nhưng về tư tưởng, Park Chung-hee nhận thấy rằng ông không thể đưa ra một học thuyết chính trị mới nào đủ hoàn thiện để có thể thay thế được vị trí của Nho giáo mà nhận ra rằng, không thể không sử dụng, duy trì những yếu tố tích cực của tôn giáo này, trong đó, Trung (trung thành) và Hiếu (hiếu thảo) là hai giá trị quan xuyên suốt nhiều thế kỷ ở Hàn Quốc. Trong thời gian sau đó, xã hội Hàn Quốc đã xảy ra nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng giữa các học giả về tính hữu dụng của những yếu tố tích cực trong Nho giáo truyền thống. Cuối cùng, kết quả là Park Chung-hee đã đi đến quyết định: "Giá trị quan của Nho giáo về 'Trung' và 'Hiếu' là nền tảng của xã hội" - những chính sách giáo dục đề cao đạo Khổng được ông ra chỉ thị tiếp tục dạy trong nhà trường và truyền bá sâu rộng trong đời sống nhân dân.[110]

Thành quả

 
Olympic Seoul 1988
 
Tăng trưởng GDP (PPP) của Hàn Quốc từ năm 1911-2008
 
Hyundai Pony - mẫu xe hơi "Made in Korea" đầu tiên được sản xuất hàng loạt và xuất khẩu[111]

Sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này đã cải thiện đáng kể mức sống cho người dân Hàn Quốc. Cuối năm 1965, khoảng 58,7% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng tỷ lệ này đã giảm xuống còn 50,4% vào năm 1970 và 38,4% vào năm 1978. Công nghiệp hóa dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng dân số đô thị của Hàn Quốc, tăng từ 28,3% tổng số năm 1960 lên 54,9% vào năm 1979. Năm 1960, khoảng một phần ba trẻ em từ 12 đến 14 tuổi theo học tại các trường trung học; tỷ lệ đó tăng lên 53,3% vào năm 1970 và 74,0% vào năm 1975. Năm 1960, chỉ có khoảng 19,9% dân số từ 15 đến 17 tuổi đi học; tỷ lệ đó tăng lên 29,3% vào năm 1970 và 40,5% vào năm 1975[112]. Năm 1970, quá trình xây dựng tuyến đường cao tốc Gyeongbu đã được hoàn thành, liên kết Seoul với khu vực phía đông nam của quốc gia và các thành phố cảng lớn như Incheon và Busan[113]. Vào năm 1969, cả nước chỉ có 200.000 máy truyền hình, đến năm 1979 đã có sáu triệu máy truyền hình [114]. Nếu như vào năm 1969, chỉ có 6% hộ gia đình ở Hàn Quốc sở hữu một chiếc TV, thì đến năm 1979, đã có 4/5 hộ gia đình Hàn Quốc sở hữu TV.[114]

Nhờ những biện pháp cứng rắn về chính trị, khắc khổ về kinh tế cũng như sử dụng yếu tố văn hóa, từ thập niên 1960, kinh tế Hàn Quốc phát triển với tốc độ rất nhanh.[115] Tuy nhiên, vào ngày 26 tháng 10 năm 1979, tổng thống Park Chung-hee bất ngờ bị ám sát, sự tăng trưởng thịnh vượng đều đặn của đất nước cũng đột ngột dừng lại, kéo theo đó là một thời kỳ hỗn loạn liên tiếp về chính trị, cộng với sự tăng vọt của giá dầu mỏ trong năm 1979, một vụ mùa thu hoạch lúa gạo thất bát và tỷ lệ lạm phát đáng báo động, lên tới 44%, khiến cho nền kinh tế Hàn Quốc phải chịu mức suy thoái lên tới 6% trong năm 1980. Nhưng sau đó, nền kinh tế đã nhanh chóng phục hồi và quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng. Thập niên 1980 tiếp tục chứng kiến tốc độ tăng trưởng GDP cao, đạt đỉnh điểm vào những năm 1986-1988 ở mức 12% mỗi năm, khiến cho kinh tế Hàn Quốc trở thành nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao nhất thế giới tại thời điểm đó[116], Hàn Quốc khi đó được xếp vào một trong những nước công nghiệp hóa mới của thế giới. Những năm kế tiếp, tốc độ tăng trưởng tuy chậm lại, nhưng nền kinh tế Hàn Quốc tiếp tục tăng trưởng nhanh cho đến năm 1996 với tốc độ tăng trưởng trung bình là hơn 10% mỗi năm[116]. Năm 2004, GDP của Hàn Quốc là 680 tỷ USD, vươn lên đứng thứ 12 trên thế giới. Ngày nay, quốc gia này không chỉ tiếp tục phát triển kinh tế mà còn xây dựng thành công một hệ thống chính trị dân chủ tự do hoàn chỉnh với việc người dân được tiếp cận ở mức độ cao các quyền tự do đầy đủ như tự do kinh tế, tự do dân sự, tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo,...[31][32] các đối tượng đặc biệt như người cao tuổi và trẻ em được hưởng quyền chăm sóc sức khỏe, giáo dục công miễn phí và chú trọng phát triển nhân văn[117] - trở thành hình mẫu chính trị dân chủ cho các quốc gia châu Á khác, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, học tập, áp dụng theo[118][119]. Giai thoại về sự cải cách, bùng nổ và thành công trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc được gọi là Kỳ tích trên dòng sông Hán (한강의 기적).

Sự hình thành Chaebol

 
Trụ sở chính của Samsung - Chaebol lớn mạnh nhất Hàn Quốc
 
Tổng thống Park Geun-hye cùng các chủ tịch Samsung Lee Kun-hee và Hyundai Chung Mong-koo

Trong bối cảnh chính trị như vậy, nền kinh tế Hàn Quốc cũng phát triển theo mô hình "Độc tài". Các Chaebol - tức Tài phiệt (재벌, 財閥)[120], là thuật ngữ dùng để chỉ các đại tập đoàn gia đình lớn. Thông thường, tài phiệt là các tập đoàn đa quốc gia với thành viên bao gồm rất nhiều các doanh nghiệp quốc tế[120] nhưng đều nằm dưới sự điều khiển của một ông chủ duy nhất nắm quyền điều hành trên tất cả các cơ sở này.[120][121] Hiện nay, ở Hàn Quốc có đến hàng chục nhóm tài phiệt như vậy, hầu hết nằm dưới sự điều khiển tuyệt đối của một vài gia tộc. Đến năm 2008, khoảng 80% GDP của Hàn Quốc có nguồn gốc từ các tài phiệt, chỉ riêng Samsung đã chiếm tới 1/5 giá trị xuất khẩu của nước này. Các lãnh đạo tài phiệt đóng một vai trò quan trọng trong việc chi phối nền chính trị Hàn Quốc. Ví dụ, vào năm 1988, chủ tịch của tập đoàn Hyundai khi ấy là ông Jeong Mong-jun đã trúng cử vào Quốc hội Hàn Quốc, một số lãnh đạo tài phiệt khác cũng trúng cử đại biểu quốc hội thông qua cơ chế đại biểu tỷ lệ.

Các tài phiệt chỉ nắm giữ một phần nhỏ cổ phần nhưng lại có rất nhiều quyền lực và có khả năng kiểm soát tất cả các công ty con. Ví dụ: Samsung chỉ sở hữu 0,5% tài sản của các hãng thuộc quyền, nhưng thực tế thì một tổ chức mẹ có quyền chi phối mọi mặt tất cả các công ty con này. Điều này cho thấy mức độ tuân thủ pháp luật ở các tài phiệt Hàn Quốc là rất thấp.[121] Các tài phiệt duy trì quyền lực của mình thông qua việc sở hữu chéo (cross-holding).[122] Các tài phiệt lũng đoạn nền kinh tế Hàn Quốc, trở nên quá lớn để có thể bị khống chế hay sụp đổ (too big to fall), một số công ty như Hyundai, SK thậm chí còn có dính líu đến những vụ bê bối liên quan tới các tổng thống Kim Dae-jung và Roh Moo-hyun.[123]

Từ 1998 đến 2007, Hàn Quốc đã có những tiến bộ trong tiến trình dân chủ hoá, song đôi khi vẫn trượt theo hướng độc tài. Đã có rất nhiều tổ chức phi chính phủ giả hiệu hoạt động theo mệnh lệnh của chính quyền, nhiều nhóm cánh hữu, nhiều tổ chức hiện "vẫn tìm cách bảo vệ những quyền ưu tiên mà họ có được từ thời của chế độ độc tài". Ở Hàn Quốc, quá trình dân chủ hoá diễn ra trong bối cảnh của tăng trưởng kinh tế nhưng không phải là sự phát triển kinh tế trực tiếp thúc đẩy dân chủ hoá. Các phương thức phát triển kinh tế trở nên phản nhân văn và mang nặng tính bóc lột. Người Hàn Quốc hiện nay phải gánh chịu rất nhiều áp lực trong cuộc sống, nhất là về sự thành công, công việc và học tập.[124]

Địa lý

Khái quát

 
Hàn Quốc nhìn từ vệ tinh

Về vị trí địa lý, lãnh thổ Hàn Quốc được sắp xếp thành 17 đơn vị hành chính, bao gồm cả thực thể địa lý tranh chấp như nhóm đảo Liancourt (Dokdo) (với Nhật Bản và Bắc Triều Tiên) và các bãi đá ngầm Socotra, Gageo (với Trung Quốc) mà nước này tuyên bố chủ quyền và hiện đang duy trì quyền tài phán cùng sự kiểm soát trên thực tế.

Vì Hàn Quốc nằm ở phần phía nam của Bán đảo Triều Tiên, thuộc khu vực Đông Á, vậy nên quốc gia này cũng được coi là 1 bán đảo. Nước này có đường biên giới trên bộ duy nhất với CHDCND Triều Tiên, nằm ở phía bắc với đường biên giới dài 238 km dọc theo Khu phi quân sự Triều Tiên. Hàn Quốc chủ yếu được bao bọc bởi biển, với 8.460 km đường bờ biển trải dài cả ba mặt tây, nam và đông. Phía tây là Hoàng Hải, phía nam là biển Hoa Đông, và phía đông là đảo Ulleungdo và đảo Liancourt trên biển Nhật Bản (biển này còn được gọi là 'biển Đông' theo cách gọi của người Hàn Quốc). Lãnh thổ Hàn Quốc trải dài từ vĩ độ 33° đến 38° Bắc và kinh độ từ 124° đến 130° Đông. Tổng diện tích tính riêng phần đất liền (chưa tính các hòn đảo) của Hàn Quốc là khoảng 100.032 km² (38.623 sq mi)[125]. Địa hình phân hoá thành hai vùng rõ rệt: vùng rừng núi chiếm khoảng 70% diện tích nằm ở phía đông còn lại là vùng đồng bằng duyên hải ở phía tây và nam. Bãi bồi ven biển Saemangeum là bãi nổi ven biển lớn thứ hai trên thế giới và bức tường chắn sóng biển bao quanh Saemangeum là bờ đê nhân tạo dài nhất thế giới.[126]

Địa hình

 
Bản đồ mô phỏng địa hình Hàn Quốc
 
Tâm chấn các trận động đất ở Hàn Quốc (từ M2.0 trở lên)

Không giống như Nhật Bản hay các tỉnh phía bắc của Trung Quốc, địa chất Bán đảo Triều Tiên tương đối ổn định. Không có núi lửa hoạt động (ngoại trừ núi Bạch Đầu ở biên giới giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc, hoạt động gần đây nhất năm 1903) và không có những trận động đất mạnh.

Hàn Quốc ít các vùng đồng bằng rộng, các vùng đất thấp là sản phẩm của hoạt động xói mòn núi. Khoảng 30% lãnh thổ Hàn Quốc là các vùng đất thấp, phần còn lại bao gồm vùng cao và những ngọn núi. Phần lớn các vùng đất thấp nằm dọc theo bờ biển, đặc biệt là bờ biển phía tây, và dọc theo con sông lớn. Đồng bằng quan trọng nhất là đồng bằng sông Hán nằm xung quanh Seoul, ven biển phía tây nam của Pyeongtaek, các lưu vực sông Geum, sông Nakdong, YeongsanHonam ở phía tây nam. Một dải đồng bằng hẹp ven biển chạy dọc theo bờ biển phía đông.

Khoảng ba ngàn hòn đảo, chủ yếu là nhỏ và không có người ở, nằm ngoài bờ biển phía tây và phía nam của Hàn Quốc. Jeju nằm cách bờ biển phía nam của Hàn Quốc khoảng 100 km, đây là hòn đảo lớn nhất của đất nước, với diện tích 1.845 km². Jeju cũng là địa điểm có ngọn núi cao nhất của Hàn Quốc: Hallasan - một ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động, với độ cao 1.950 mét so với mực nước biển. Các hòn đảo phía đông của Hàn Quốc bao gồm Ulleungdo và Liancourt (Dokdo/Takeshima), trong khi Marado và Socotra những hòn đảo cực nam của Hàn Quốc.

Thành phố lớn nhất của Hàn Quốc là Seoul (Hán Thành), có dân số chính thức khoảng trên 10 triệu người (tính riêng vùng nội thành), nằm ở phía tây bắc đất nước. Những thành phố lớn khác là Incheon (Nhân Xuyên) ở phía tây Seoul, Daejeon (Đại Điền) ở miền trung, Gwangju (Quang Châu) ở phía tây nam, Daegu (Đại Khâu) và Busan (Phủ Sơn) ở phía đông nam.

Hàn Quốc có 20 công viên quốc gia cùng những địa điểm thiên nhiên nổi tiếng như Cánh đồng trà Boseong, Công viên sinh thái vịnh Suncheon và Công viên Quốc gia Jirisan.

Khí hậu

 
Các kiểu khí hậu của Hàn Quốc
 
Tuyết rơi kỷ lục ở Hàn Quốc năm 2004

Hàn Quốc có sự xen kẽ giữa khí hậu lục địa ẩm ướt, ôn đớikhí hậu cận nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Á, có bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu và đông. Mùa xuân thường kéo dài từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 5, mùa hè từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 9, mùa thu từ giữa tháng 9 đến đầu tháng 11 và mùa đông từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 3. Mùa đông có thể rất lạnh với nhiệt độ thường xuyên dưới 0 °C và tối thiểu xuống dưới −20 °C (−4 °F) ở những vùng nội địa của đất nước do gió mùa mang không khí lạnh từ Siberia thổi tới. Ở Seoul, nhiệt độ trung bình tháng 1 là −7 đến 1 °C (19 đến 34 °F) và phạm vi nhiệt độ trung bình tháng 8 là 22 đến 30 °C (72 đến 86 °F). Nhiệt độ mùa đông cao hơn dọc theo bờ biển phía nam và thấp hơn đáng kể ở các vùng núi. Mùa hè có thể nóng và ẩm khá khó chịu, với nhiệt độ vượt quá 30 °C (86 °F) ở hầu hết các vùng của đất nước. Vào mùa hè năm 2018, Hàn Quốc đã trải qua đợt nắng nóng kỷ lục khiến ít nhất 42 người thiệt mạng, khi ấy nhiệt độ tại Seoul có thể lên tới 39,6 °C, nóng nhất trong vòng 111 năm qua.[127]

Do ở phía nam và bị biển bao bọc chung quanh, đảo Jeju có thời tiết ấm hơn và dễ chịu hơn so với các vùng khác của Hàn Quốc. Nhiệt độ trung bình trên đảo vào khoảng từ 2,5 °C (36,5 °F) trong tháng Giêng đến 25 °C (77 °F) trong tháng Bảy.

Những cơn mưa nặng hạt tập trung vào một quãng thời gian ngắn ngủi trong mùa hè. Mùa mưa ở Hàn Quốc được gọi là Jangma (장마), bắt đầu từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 7. Lượng mưa trung bình hàng năm thay đổi từ 1.370 mm (54 in) ở Seoul đến 1.470 mm (58 in) ở Busan. Hiếm khi nào mưa ít hơn 750 milimét (29,5 in)in) trong năm, phần lớn các năm đều có lượng mưa trên 1.000 milimét (39,4 in) in). Thế nên, đất nước này có đủ mưa để duy trì sản xuất nông nghiệp của mình.

Hàn Quốc ít bị bão hơn so với Nhật Bản, Đài Loan, bờ biển phía đông của Trung Quốc, Philippines. Có khoảng từ 1-3 cơn bão mỗi năm. Bão thường đổ bộ vào Hàn Quốc vào cuối mùa hè, đặc biệt là trong tháng Tám, và mang lại những cơn mưa xối xả. Lũ lụt thỉnh thoảng gây ra thiệt hại đáng kể, như làm sạt lở đất do địa hình chủ yếu là đồi núi của đất nước.

Môi trường

 
Suối Cheonggyecheon
 
Sông Hán
 
Cánh đồng chè Boseong ở tỉnh Jeolla Nam

Trong 20 năm đầu giai đoạn tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc, nước này có rất ít nỗ lực để bảo vệ môi trường. Công nghiệp hóa và phát triển đô thị không được kiểm soát đã dẫn đến nạn phá rừng và phá hủy các vùng đất ngập nước đang diễn ra như Songdo Tidal Flat. Tuy nhiên, gần đây đã có những nỗ lực để khắc phục những vấn đề này, bao gồm cả một dự án năng lượng xanh năm năm do chính phủ điều hành trị giá 84 tỷ USD nhằm mục đích thúc đẩy hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh.

Chiến lược kinh tế dựa trên nền tảng xanh là sự đại tu toàn diện nền kinh tế của Hàn Quốc, tốn gần hai phần trăm GDP quốc gia. Sáng kiến ​​phủ xanh bao gồm những nỗ lực như xây dựng mạng lưới xe đạp trên toàn quốc, tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và năng lượng gió, giảm các phương tiện phụ thuộc vào dầu, hỗ trợ thời gian tiết kiệm ánh sáng ban ngày và sử dụng rộng rãi các công nghệ thân thiện với môi trường như đèn LED trong điện tử và chiếu sáng. Hàn Quốc là nước có kết nối mạng dày đặc nhất thế giới và đang có kế hoạch xây dựng một hệ thống mạng tiếp theo trên toàn quốc, sẽ nhanh hơn 10 lần so với hiện tại, nhằm giảm mức độ sử dụng năng lượng.

Chương trình tiêu chuẩn danh mục tái tạo với các chứng chỉ năng lượng tái tạo có từ năm 2012 đến 2022. Các hệ thống hạn ngạch ủng hộ các máy phát lớn, tích hợp theo chiều dọc và các tiện ích điện đa quốc gia, nếu chỉ vì các chứng chỉ thường được quy định theo đơn vị một Megawatt/giờ. Chúng cũng khó thiết kế và thực hiện hơn so với biểu giá Feed-in. Khoảng 350 đơn vị nhiệt điện kết hợp vi mô dân cư đã được lắp đặt vào năm 2012.

Nước máy của Seoul gần đây đã trở nên an toàn để uống, các quan chức thành phố gắn nhãn hiệu "Arisu" để thuyết phục công chúng. Những nỗ lực cũng đã được thực hiện với các dự án trồng rừng. Một dự án trị giá hàng tỷ đô la khác là sự phục hồi suối Cheonggyecheon, một con suối chảy qua trung tâm thành phố Seoul mà trước đó đã bị lấp lại khi xây đường cao tốc. Một thách thức lớn nữa là chất lượng không khí, với mưa axit, oxit lưu huỳnh và bão bụi vàng từ Trung Quốc thổi qua hàng năm là những vấn đề đặc biệt. Người ta thừa nhận rằng tình trạng này xày ra một phần là do ảnh hưởng từ các khu vực Nội MôngHoa Bắc của Trung Quốc lân cận - những nơi đang bị ô nhiễm không khí trầm trọng.

Hàn Quốc là thành viên của Hệ thống Hiệp ước châu Nam Cực, Công ước về Đa dạng sinh học, Nghị định thư Kyoto (hình thành Nhóm toàn vẹn môi trường (EIG), liên quan đến UNFCCC, với Mexico và Thụy Sĩ), CITES, UNCLOS, Hiệp ước Cấm thử Hạt nhân Toàn diện, Nghị định thư MontrealCông ước Ramsar.

Hành chính

Lãnh thổ Hàn Quốc bao gồm 1 thủ đô (đặc biệt thị), 8 tỉnh (đạo), 6 thành phố trực thuộc trung ương (quảng vực thị), 1 tỉnh tự trị (đặc biệt tự trị đạo) và 1 thành phố tự trị (đặc biệt tự trị thị). Thủ đô của Hàn Quốc - Seoul - là thành phố lớn nhất cũng như một thành phố toàn cầu quan trọng. Ngoài ra, vùng thủ đô Seoul - trung tâm đô thị lớn thứ 5 trên thế giới - cũng là một trong những đại đô thị có quy mô kinh tế lớn nhất hiện nay với hạng 5 châu Á, 17 thế giới về GDP (2020).[128][129][130]

Bản đồ Tên Hangul Hanja Hán-Việt Dân số
Thủ đô (đặc biệt thị) (Teukbyeolsi)
Seoul 서울특별시 서울特別市 Seoul đặc biệt thị 9.794.304
Thành phố trực thuộc trung ương (quảng vực thị) (Gwangyeoksi)
Busan 부산광역시 釜山廣域市 Phủ Sơn quảng vực thị 3.635.389
Daegu 대구광역시 大邱廣域市 Đại Khâu quảng vực thị 2.512.604
Incheon 인천광역시 仁川廣域市 Nhân Xuyên quảng vực thị 2.628.000
Daejeon 대전광역시 大田廣域市 Đại Điền quảng vực thị 1.442.857
Gwangju 광주광역시 光州廣域市 Quang Châu quảng vực thị 1.456.308
Ulsan 울산광역시 蔚山廣域市 Uất Sơn quảng vực thị 1.087.958
Tỉnh (đạo) (Do)
Gyeonggi 경기도 京畿道 Kinh Kỳ đạo 10.415.399
Gangwon 강원도 江原道 Giang Nguyên đạo 1.592.000
Chungcheong Bắc 충청북도 忠淸北道 Trung Thanh Bắc đạo 1.462.621
Chungcheong Nam 충청남도 忠淸南道 Trung Thanh Nam đạo 1 840.410
Jeolla Bắc 전라북도 全羅北道 Toàn La Bắc đạo 1.890.669
Jeolla Nam 전라남도 全羅南道 Toàn La Nam đạo 1.994.287
Gyeongsang Bắc 경상북도 慶尙北道 Khánh Thượng Bắc đạo 2.775.890
Gyeongsang Nam 경상남도 慶尙南道 Khánh Thượng Nam đạo 2.970.929
Tỉnh tự trị (đặc biệt tự trị đạo) (Teukbyeoljachi-do)
Jeju 제주특별자치도 濟州特別自治道 Tế Châu đặc biệt tự trị đạo 560.000
Thành phố tự trị (đặc biệt tự trị thị) (Teukbyeol-jachisi)
Sejong 세종특별자치시 世宗特別自治市 Thế Tông đặc biệt tự trị thị 122.263

Các thành phố lớn:

Toàn cảnh thành phố Seoul nhìn từ tháp N Seoul Tower trên đỉnh núi Namsan vào buổi sáng

Chính trị

Hệ thống bầu cử và phân quyền của Hàn Quốc
Quốc hội Hàn Quốc
Biểu đồ các đảng phái chính trị của Hàn Quốc từ năm 2005-2018
   
Moon Jae-in
Tổng thống thứ 12
Kim Boo-kyum
Thủ tướng thứ 43
 
Nhà Xanh

Thể chế chính trị của Hàn Quốc là dân chủ đại nghịdân chủ trực tiếp với Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, chính phủ quốc gia hoạt động, vận hành theo hệ thống Tổng thống chế toàn phần, trong đó, Tổng thống là nhà lãnh đạo đất nước, người đứng đầu chính phủ kiêm Tổng tư lệnh của các Lực lượng Vũ trang.

Cấu trúc của chính phủ Hàn Quốc được xác định bởi Hiến pháp Hàn Quốc. Giống như nhiều quốc gia dân chủ khác, Hàn Quốc có một chính phủ được chia thành ba nhánh tách biệt: hành pháp, tư pháplập pháp. Các cơ quan hành pháp và lập pháp hoạt động chủ yếu ở cấp quốc gia, mặc dù các bộ khác nhau trong ngành hành pháp cũng thực hiện các chức năng địa phương. Chính quyền địa phương là bán tự trị, và có các cơ quan hành pháp và lập pháp của riêng họ. Ngành tư pháp hoạt động ở cả cấp quốc gia và địa phương. Hàn Quốc là một nền dân chủ lập hiến.

Hiến pháp Hàn Quốc đã được chú trọng sửa đổi nhiều lần kể từ khi ban hành lần đầu tiên vào năm 1948 sau khi độc lập. Tuy nhiên, văn bản này vẫn giữ được nhiều đặc điểm rộng rãi và ngoại trừ Đệ Nhị Đại Hàn Dân Quốc tồn tại trong thời gian ngắn, Hàn Quốc luôn có một hệ thống tổng thống với một uỷ ban điều hành độc lập. Theo hiến pháp hiện hành, nhà nước đôi khi được gọi là Đệ Lục Đại Hàn Dân Quốc. Cuộc bầu cử trực tiếp lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1948.

Mặc dù Hàn Quốc đã trải qua một loạt các chế độ độc tài quân sự từ những năm 1960 cho đến những năm 1980, nhưng quốc gia này đã chuyển mình, phát triển thành một nền dân chủ tự do thành công. Ngày nay, The World FactbookCơ quan Tình báo Kinh tế đã công nhận và mô tả nền dân chủ của Hàn Quốc là một nền dân chủ hiện đại, hoàn chỉnh với đầy đủ chức năng[132]. Hàn Quốc được xếp hạng 39 trên thế giới về chỉ số nhận thức tham nhũng với số điểm 59 trên 100.[132]

Theo Điều luật 70 của Hiến pháp, người đứng đầu chính phủ Đại Hàn Dân Quốc là Tổng thống do mỗi công dân mang quốc tịch Hàn Quốc từ đủ 18 tuổi trở lên trực tiếp bỏ phiếu bầu ra, thời hạn nhiệm kỳ kéo dài trong 5 năm và không được phép tái ứng cử. Tổng thống là đại diện cao nhất của quốc gia và có toàn quyền chỉ huy quân đội (tương đương với chức vụ: Tổng Tư lệnh). Ngoài ra, Tổng lý Quốc vụ (국무총리/國務總理/Gungmuchongni) - tức chức vụ Thủ tướng cũng do Tổng thống chỉ định nhưng Tổng thống mới thực sự là người lãnh đạo Chính phủ. Chính phủ có tối thiểu 15 và tối đa là 30 thành viên. Thành viên chính phủ do Thủ tướng chỉ định. Chức vụ Thủ tướng cũng như Bộ trưởng phải được sự thông qua của Quốc hội.

Nơi ở và làm việc chính thức của các đời Tổng thống Hàn Quốc hiện nay là một cung điện cổ được xây dựng từ thời kỳ của nhà Triều Tiên, được gọi với danh xưng là Nhà Xanh (Thanh Ngõa Đài).

Quốc hội Hàn Quốc chỉ có một viện và được gọi là 국회 (國會). Đại biểu Quốc hội được bầu mỗi bốn năm một lần. Quốc hội có tất cả 299 đại biểu và tổng cộng 300 ghế.

Cơ quan quan trọng thứ ba trong hệ thống chính trị của Hàn Quốc là Toà án Tối cao. Cơ quan này theo dõi hoạt động của chính phủ và ra các phán quyết cuối cùng. Toà án gồm có chín thẩm phán tối cao. Tổng thống trực tiếp chỉ định ba người trong số này, ba người được quốc hội bầu ra, tuy nhiên vẫn phải được sự chấp thuận của Tổng thống. Chánh án toà án tối cao là người chỉ định ba thẩm phán còn lại.

Quân sự

Lực lượng vũ trang chính quy của Hàn Quốc là một trong những lực lượng quân sự mạnh trên thế giới[133][134][135][136], xếp thứ 8 toàn cầu về tổng mức chi tiêu ngân sách cho quốc phòng theo dữ liệu phân tích, tính toán của trang web Global Firepower trong năm 2021[35], quân đội nước này không phát triển hay sở hữu vũ khí hạt nhân do đã ký kết Hiệp ước không phổ biến. Nếu tính đến cả những lực lượng gián tiếp phục vụ cho quân đội, tổng số quân của Hàn Quốc năm 2019 là 6.708.000 (≈600.000 phục vụ trực tiếp và hơn 3.100.000 dự bị).[137]

Năm 2019, chi tiêu quốc phòng của Hàn Quốc đạt mức xấp xỉ 44 tỷ USD, chiếm 2,7% trong tổng GDP - xếp hạng 5 châu Á và đồng thời đứng thứ 10 trên thế giới[138][139], sang đến năm 2021, con số này đã tăng thêm 2 bậc với 48 tỷ đô la Mỹ - tuy vẫn giữ hạng 5 châu Á nhưng đã vươn lên hạng 8 toàn cầu.[35]

Cơ cấu tổ chức của quân đội Hàn Quốc hiện nay bao gồm có 4 quân chủng chính; đó là: Lục quân (ROKA), Hải quân (ROKN), Không quân (ROKAF) và Thủy quân lục chiến (ROKMC), ngoài ra còn có các Lực lượng Triển khai Chiến tranh Đặc biệt (SFBRKRKNSWF) trực thuộc Bộ Tư lệnh Chiến tranh Đặc biệt, Lực lượng Bảo vệ bờ biển cùng với một số lượng rất lớn quân nhân dự bị.[140] Theo hiến pháp, toàn bộ công dân mang quốc tịch Hàn Quốc là nam giới từ 18 đến 35 tuổi đều phải có ít nhất một lần thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc, bất kể người đó là ai, xuất thân từ đâu, có địa vị xã hội, tầm ảnh hưởng hoặc học vấn ra sao hay đang làm công việc gì, thường là trong vòng 21 tháng đối với lục quân và thủy quân lục chiến, 23 tháng đối với hải quân và 24 tháng đối với không quân. Năm 2010, đã có nhiều ý kiến kêu gọi chính phủ Hàn Quốc nên rút ngắn thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc chuyển sang chế độ nghĩa vụ quân sự tự nguyện nhưng cho đến nay vẫn chưa có thay đổi gì.[141]

Theo Hiệp định Phòng thủ chung Hàn-Mỹ được ký kết vào năm 1953, quân đội Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện, đặt căn cứ quân sự trên khắp Hàn Quốc, đưa toàn bộ lãnh thổ nước này vào "Ô bảo hộ Hạt Nhân" cùng với NATO, phần lớn châu Âu, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Úc, hỗ trợ đào tạo nhân lực, đảm bảo an ninh quốc phòng cho đồng minh Hàn Quốc, trong trường hợp có xảy ra xung đột quân sự với bên ngoài, quân đội Hàn Quốc không được tự đưa ra quyết định tác chiến độc lập mà họ phải nằm dưới sự chỉ huy của một Tướng bốn sao do Lầu Năm Góc trực tiếp chỉ định[cần dẫn nguồn], đồng thời, các đơn vị vũ trang trực thuộc Hải quân Hoa Kỳ đóng gần lãnh thổ Hàn Quốc như Hạm đội 7 cũng sẵn sàng tham chiến cùng lực lượng mặt đất nếu như nước này bị tấn công phủ đầu. Trong cuộc khảo sát năm 2014, một bộ phận người dân Hàn Quốc tin rằng quân đội của họ sẽ khó có thể trụ vững trước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nếu không dựa vào sự hỗ trợ của đồng minh - quân đội Mỹ[142], còn phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thì luôn tuyên truyền, gọi quân đội Hàn Quốc là "quân đội tay sai" của "ngoại quốc" để ngăn cản "sự nghiệp cách mạng thống nhất đất nước" của "dân tộc Triều Tiên".[143] Trong một cuộc khảo sát vào năm 2019, có đến 74% người Hàn Quốc tham gia khảo sát ủng hộ việc lính Mỹ tiếp tục đóng quân lâu dài ở Hàn Quốc và gần chín phần mười (87%) cho rằng sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ góp phần quan trọng giúp đảm bảo an ninh quốc gia của Hàn Quốc trước mối đe dọa tên lửa và hạt nhân của Bắc Triều Tiên.[144]

Căng thẳng chưa được giải quyết với Bắc Triều Tiên đã khiến chính phủ Hàn Quốc phân bổ khoảng 2,6% GDP và 15% tổng chi tiêu của chính phủ cho quân đội - tương đương với tỷ lệ GDP được tính toán là 14,967%, trong khi vẫn duy trì nghĩa vụ quân sự bắt buộc cho nam giới. Do đó, Hàn Quốc có số lượng binh sĩ hoạt động thường trực lớn thứ 7 trên thế giới (khoảng ≈600.000 binh sĩ vào năm 2018), số lượng binh sĩ dự bị cao nhất thế giới (≈3.100.000 binh sĩ trong năm 2018) và ngân sách quốc phòng lớn thứ 10 trên thế giới. Tính đến năm 2019, Hàn Quốc có ngân sách quốc phòng đạt xấp xỉ 44 tỷ USD.[138][139]

1.800 nam giới Hàn Quốc được chọn mỗi năm để phục vụ 21 tháng trong Chương trình KATUSA nhằm tăng cường sức mạnh hơn nữa cho Lực lượng Liên quân Hoa Kỳ-Hàn Quốc (USFK). Năm 2010, Hàn Quốc đã chi ra 1,68 nghìn tỷ Won trong thỏa thuận chia sẻ chi phí với Mỹ để hỗ trợ ngân sách cho lực lượng Mỹ đang đóng quân ở Hàn Quốc, trong tổng chi ngân sách là gần 30 nghìn tỷ Won dành cho các lực lượng quân đội của chính họ.

Quân đội Hàn Quốc ước tính hiện có khoảng 2.500 xe tăng đang hoạt động[145], bao gồm cả những mẫu được thiết kế, lắp ráp và sản xuất nội địa như K1 88 và đặc biệt là K2 Báo Đen - một trong những mẫu xe tăng hiện đại cũng như có giá thành đắt đỏ bậc nhất trên thế giới hiện nay, chỉ xếp sau AMX-56 Leclerc của quân đội Pháp[146][147], tạo thành 'xương sống' cho lực lượng tăng thiết giáp và bộ binh cơ giới kết hợp cùng một kho vũ khí lớn bao gồm nhiều hệ thống pháo các loại với khoảng 1.700 pháo tự hành K55, K9 Thunder, thiết giáp "lưỡng cư" K21 đặc biệt có khả năng tiêu diệt trực thăng[148], 680 máy bay trực thăng các loại cùng nhiều UAV thế hệ mới.

Hải quân Hàn Quốc được phân tích, ước đoán và đánh giá là lực lượng hải quân lớn thứ 8 trên thế giới[149][150][151]. Trong những năm gần đây, lực lượng này đã thực hiện nhiều cuộc chuyển đổi lớn đầu tiên để trở thành lực lượng hải quân có khả năng tác chiến ở những vùng biển sâu thông qua việc thành lập các Hạm đội di động chiến lược, bao gồm nhóm chiến hạm chiến đấu trực thuộc tàu khu trục lớp Chungmugong Yi Sun-sin, tàu tấn công đổ bộ lớp Dokdo, tàu chiến lớp AIP, tàu ngầm tấn công các lớp Dosan Ahn Chang-ho (có thể mang theo và phóng tên lửa đạn đạo[152]), Sohn Won-yil (Type 214) và Jang Bogo (Type 209) cùng tàu khu trục King Sejong the Great-Class Destroyer - được trang bị hệ thống tên lửa phòng thủ hạm đội Aegis thế hệ mới nhất cho phép theo dõi, truy đuổi, đánh chặn và tiêu diệt đồng thời nhiều tên lửa hành trình hoặc tên lửa đạn đạo của đối phương, tạo thành "Chiếc ô phòng thủ tên lửa trên biển" của Hải quân Hàn Quốc - chống lại mối đe dọa tên lửa đến từ phía Bắc Triều Tiên.

Không quân Hàn Quốc hiện đang vận hành 1.649 máy bay các loại, biến lực lượng này trở thành lực lượng không quân lớn thứ 5 trên thế giới[153][154], bao gồm một số loại máy bay chiến đấu tiên tiến như F-15K, KF-16C/D (đã được nâng cấp, sửa đổi nhiều), và KAI T-50 Golden Eagle bản địa, được hỗ trợ bởi các đội máy bay chiến đấu cũ được bảo trì tốt như F-4EKF-5E/F - vẫn phục vụ hiệu quả cho không quân bên cạnh các máy bay hiện đại hơn. Trong nỗ lực để đạt được sức mạnh không chỉ về số lượng mà cả tính hiện đại, việc đưa bốn vận tải cơ Boeing 737 AEW & C vào hoạt động thu thập thông tin và phân tích tình báo tập trung trên chiến trường hiện đại sẽ tăng cường khả năng của máy bay chiến đấu cùng các máy bay hỗ trợ khác để thực hiện nhiệm vụ của họ với độ chính xác cao nhất.

Vào tháng 5 năm 2011, công ty Hàng không Vũ trụ Samsung, nhà sản xuất thiết bị hàng không vũ trụ, máy bay chiến đấu cùng động cơ máy bay lớn nhất của nước này, đã ký một hợp đồng trị giá 400 triệu đô la để bán 16 máy bay huấn luyện T-50 Golden Eagle cho quân đội Indonesia, biến Hàn Quốc trở thành quốc gia đầu tiên ở châu Á xuất khẩu máy bay phản lực siêu âm.[155][156]

Tháng 12 năm 2019, Hàn Quốc tiếp nhận máy bay không người lái Northrop Grumman RQ-4 Global Hawk (RQ-4 Global Hawk) trị giá 123 triệu USD của Mỹ, qua đó chính thức trở thành nước châu Á đầu tiên sở hữu loại UAV này.[157]

Tháng 7 năm 2020, vệ tinh liên lạc quân sự đầu tiên của Hàn Quốc đã được phóng thành công vào không gian, đưa nước này trở thành quốc gia thứ 10 trong danh sách số ít các quốc gia trên thế giới hiện nay đang sở hữu vệ tinh liên lạc dành riêng cho các mục đích quân sự hoạt động trong vũ trụ.[158] Quân đội Hàn Quốc cũng đang chú trọng vào phát triển và hoàn thiện các loại Robot quân sự, trong đó đặc biệt có 'pháo binh Robot' - với công nghệ tự động hóa và quá trình điều khiển cùng sự hỗ trợ tác chiến điện tử, chiến đấu tiêu diệt mục tiêu hoàn toàn bằng trí tuệ nhân tạo.[159][160][161][162]

Tháng 4 năm 2021, tập đoàn Công nghiệp Hàng không Hàn Quốc (KAI) giới thiệu nguyên mẫu đầu tiên trong dự án mang tên gọi "KAI KF-X" - chương trình phát triển máy bay tiêm kích chiến đấu thế hệ mới trị giá 8 tỷ USD, hợp tác cùng với chính phủ và quân đội Indonesia, đây là chương trình phát triển tiêm kích lớn và đắt đỏ nhất trong lịch sử nước này, đặt tham vọng xuất khẩu, cạnh tranh trên thị trường vũ khí với chiến đấu cơ tàng hình F-35 do Mỹ sản xuất.[163]

Trong khoảng thời gian gần đây, Hàn Quốc cũng thường gửi quân đội ra nước ngoài để hỗ trợ cho các lực lượng Mỹ. Quân đội Hàn Quốc đã tham gia vào hầu hết các cuộc xung đột lớn mà quân đội Hoa Kỳ khởi xướng trong vòng hơn 73 năm qua kể từ khi thành lập. Trong quá khứ, Hàn Quốc đã điều động hơn 320.000 binh sĩ tham gia chiến đấu bên cạnh các lực lượng của Mỹ, Úc, Philippines, New Zealand, Thái Lan, Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia (tiền thân của nhà nước Cộng hòa Khmer sau này) và Việt Nam Cộng hòa trong Chiến tranh Việt Nam với số lượng tối đa lên tới khoảng 50.000 quân mỗi năm. Năm 2004, Hàn Quốc đã gửi 3.300 binh sĩ của Sư đoàn Zaytun tới miền bắc Iraq, trở thành quốc gia có đóng góp lớn thứ ba trong lực lượng liên minh này chỉ sau Mỹ và Anh. Nước này tuyên bố ủng hộ, tham chiến và hỗ trợ đối với tất cả các chiến dịch can thiệp quân sự của Mỹ cùng NATO vào Iraq, LibyaSyria. Bắt đầu từ năm 2001 đến nay, Hàn Quốc đã triển khai 24.000 binh sĩ tới khu vực Trung Đông - Vùng Vịnh để hỗ trợ cuộc chiến chống khủng bố của các lực lượng quốc tế dẫn đầu bởi Mỹ. Hơn 1.800 binh sĩ khác cũng được triển khai tới Trung Đông kể từ năm 2007 để củng cố cho Lực lượng gìn giữ Hòa bình của Liên Hợp Quốc nhằm chống lại các âm mưu tấn công khủng bố tại Liban.

Một số sản phẩm vũ khí - khí tài chế tạo nội địa, hợp tác sản xuất và nhập khẩu nổi tiếng của quân đội cũng như nền công nghiệp quốc phòng Hàn Quốc:

Ngoại giao

Khái quát

 
Hội nghị Thượng đỉnh G20 Seoul năm 2010
 
Cựu chủ tịch World Bank Jim Yong Kim (trái) tại Washington, D.C. năm 2016.
 
Cựu Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon

Hiện nay, Hàn Quốc đang duy trì mối quan hệ ngoại giao hữu nghị với 191 quốc gia trên toàn cầu.[164] Bản thân quốc gia này cũng là nước thành viên của hầu hết các tổ chức quốc tế lớn, trong số đó nổi bật như: Liên Hợp Quốc, WTO, OECD, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) cùng Nhóm Ngân hàng Thế giới (WBG), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khối APEC, FAO, UNIDO, IAEA, ITU, UNESCAP, ICAO, IEA, Interpol (ông Kim Jong-yang - sĩ quan cảnh sát người Hàn Quốc - hiện giữ vai trò Chủ tịch), Câu lạc bộ Paris, Liên minh MIKTA, Ủy ban Đặc biệt phụ trách Hỗ trợ Phát triển và Hợp tác Kinh tế trực thuộc OECD (DAC)[165]Nhóm các nền kinh tế lớn G-20,... Quốc gia này cũng đồng thời là thành viên tham gia sáng lập của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao Đông Á, Cộng đồng Đông Á, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB),... Và là một đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng hàng đầu của Hoa Kỳ.[166]

 
Quan hệ ngoại giao của Hàn Quốc với các quốc gia khác trên thế giới
  Hàn Quốc
  Quan hệ ngoại giao chính thức
  Không có quan hệ ngoại giao

CHDCND Triều Tiên

 
Bán đảo Triều Tiên cũng như biên giới 2 miền (DMZ) nhìn từ vệ tinh.
 
Nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in gặp nhau ở DMZ năm 2018.
 
Liên quân Mỹ-Hàn (USFK) tại Đài quan sát DMZ
 
Khu vực An ninh chung ở Khu phi quân sự Liên Triều

Trong những năm gần đây, tình hình chính trị - quân sự trên bán đảo Triều Tiên luôn được đặt trong trạng thái căng thẳng cao độ, triển vọng hòa bình, ổn định và phi hạt nhân hóa bị đánh giá ở mức độ thấp do xung đột chính trị liên Triều cùng Chương trình vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Tuy vậy, tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên lại đang là một chủ đề chính trị đang được bàn luận rất sôi nổi ở Hàn Quốc hiện nay, thậm chí, người ta còn đã đề cập đến khả năng áp dụng thể chế chính trị "một quốc gia, hai chế độ" để tái thống nhất bán đảo, chính quyền Hàn Quốc cũng đang có kế hoạch tham vọng lớn tiến đến tới công cuộc tái thống nhất hòa bình với Bắc Triều Tiên trong năm 2045[167], thế nhưng, hiện tại vẫn chưa có bất kỳ hiệp định hoà bình chính thức nào được ký kết, khiến cho đề xuất trên hay các ý kiến khác mới chỉ dừng lại ở mức ý tưởng. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện nay vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai bày tỏ thái độ ủng hộ, có các hành động tuyên truyền hoặc phát biểu, diễn thuyết ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có thể bị kết án tối đa 7 năm tù giam, nếu tự ý tổ chức các chuyến đi du lịch, đến thăm Bắc Triều Tiên mà không được sự cho phép của chính phủ thậm chí hình phạt còn nặng nề hơn - với bản án hình sự có thể lên tới mức 10 năm tù giam[83][84][85][86]. Tổng thống Roh Moo-hyun đã từng nghĩ tới việc giảm hoặc dỡ bỏ một số điều luật của luật này, nhưng hiện tại ý tưởng đó vẫn chưa được thực thi.

Tháng 6 năm 2000, hai chính phủ đã chính thức gặp gỡ với nhau. Với tư cách là một phần của "Chính sách Ánh Dương" của tổng thống Kim Dae-jung, một hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưỡng, thủ đô của Bắc Triều Tiên. Cuộc gặp gỡ này được xem như là sự thắng lợi của chính sách ánh dương trong việc bình thường hoá quan hệ giữa hai miền Triều Tiên. Cuối năm đó, tổng thống Kim đã nhận được giải Nobel Hòa bình "cho những nỗ lực của ông vì nền dân chủ và nhân quyền ở Hàn Quốc và ở Đông Á nói chung, và vì hòa bình và hòa giải với Bắc Triều Tiên nói riêng". Tuy nhiên, do sự bất bình trong dân chúng đối với các cách tiếp cận không có kết quả với Triều Tiên dưới các chính quyền trước đó và, trong bối cảnh các vụ khiêu khích của Bắc Triều Tiên liên tiếp diễn ra, một chính phủ bảo thủ đã được bầu vào năm 2007 do Lee Myung-bak, cựu thị trưởng Seoul làm tổng thống.

Cả Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đều tuyên bố chủ quyền của mình đối với toàn bộ bán đảo và các hòn đảo xa bờ, cả hai cũng đồng thời coi chính quyền của họ là chính quyền hợp pháp duy nhất trên bán đảo Triều Tiên. Những nỗ lực hòa giải giữa hai miền vẫn tiếp tục tiếp diễn kể từ khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc. Tuy nhiên tiến trình hòa giải này hứa hẹn vẫn sẽ còn phức tạp sau các vụ thử tên lửa đạn đạo của CHDCND Triều Tiên thời gian gần đây, khiến cho mối quan hệ giữa hai miền trở nên căng thẳng. Năm 2017, tân Tổng thống Moon Jae-in lên nắm quyền, hứa hẹn sẽ đem lại những thay đổi lớn nhằm cải thiện mối quan hệ giữa hai nhà nước. Trong một cuộc khảo sát vào năm 2014, số người Hàn Quốc được hỏi có cái nhìn tích cực về CHDCND Triều Tiên chỉ chiếm 3%, tuy nhiên, theo một cuộc khảo sát khác vào năm 2017 của chính phủ, có tới 56% người Hàn Quốc ủng hộ việc tái thống nhất với miền Bắc.[168][169]

Trong năm 2018, Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đã tổ chức 3 hội nghị thượng đỉnh liên Triều lần lượt vào các tháng 4, tháng 59. Đặc biệt, vào ngày 27 tháng 4, cả 2 miền dù vẫn chưa ký hiệp định hòa bình nhưng đã ra bản Tuyên bố Bàn Môn Điếm, qua đó chấm dứt nội chiến, kết thúc trạng thái xung đột cùng thái độ thù địch để tiến tới kỷ nguyên hòa bình lâu dài, thịnh vượng và tái thống nhất. Hàn Quốc là quốc gia viện trợ nhân đạo nhiều nhất cho Bắc Triều Tiên trong năm 2019.[170]

Nhật Bản

 
Tổng thống Moon Jae-in và cựu Thủ tướng Nhật Bản Shinzō Abe trong chuyến thăm chính thức năm 2018.

Mặc dù là hai quốc gia láng giềng và đều là đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Bắc Á, người dân Hàn Quốc (đặc biệt là các thế hệ trung niên và cao tuổi) đa phần đều có cái nhìn tiêu cực đối với Nhật Bản, nguyên nhân chủ yếu do nước này phải chịu sự cai trị của Nhật Bản trong vòng 35 năm (1910-1945) kể từ khi Nhật chiếm bán đảo Triều Tiên vào năm 1910. Dù Nhật Bản đã trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên vào năm 1945 nhưng phải chờ đến tận năm 1965 thì hai quốc gia mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhật Bản hiện đang là đối tác thương mại lớn thứ hai của Hàn Quốc.[171]

Trong giai đoạn bán đảo Triều Tiên bị Đế quốc Nhật Bản xâm lược và đô hộ (1910-1945), hàng trăm nghìn người Triều Tiên đã cộng tác với phát xít Nhật để đàn áp những đồng bào đấu tranh đòi độc lập. Ngày nay, sử sách Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc gọi những người Triều Tiên cộng tác với quân Nhật là "Ngụy quân". Tại Hàn Quốc thì luật pháp có hẳn 1 quy định về đối tượng này, Trung tâm Sự thật và Công lý Lịch sử (CHTJ) đã lập ra cả 1 danh sách 4.389 người từng cộng tác với Nhật để xét lý lịch với con cháu của họ, đến năm 2019, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in nói rằng: "xóa sạch những dấu tích của việc cộng tác với Nhật Bản là điều nên được thực hiện từ lâu".[172]

Hàn Quốc và Nhật Bản đã từng đồng tổ chức World Cup 2002. Tuy nhiên, quan hệ của Hàn Quốc và Nhật Bản sau đó trở nên căng thẳng vì những tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn đối với đảo Liancourt - nhóm đảo mà Hàn Quốc đã kiểm soát từ tháng 7 năm 1954. Cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều coi hòn đảo này là một phần lãnh thổ không thể tách rời của họ[173][174][175], dẫn đến những tranh cãi gay gắt và hiện nay vẫn chưa tìm được biện pháp giải quyết.

Chiến tranh thương mại

 
Sticker kêu gọi tẩy chay hàng hóa Nhật Bản tại một cửa hàng Hàn Quốc

Ngoài ra, giữa 2 nước gần đây cũng bắt đầu xảy ra những mâu thuẫn liên quan đến vấn đề thương mại song phương và bồi thường hậu quả hậu chiến tranh, bắt nguồn từ việc Toà án Tối cao Hàn Quốc ra bản án buộc các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản như Mitsubishi Heavy Industries, Nippon SteelNachi-Fujikoshi,... phải bồi thường thiệt hại cho những người Hàn Quốc bị ép buộc lao động khổ sai và mua vui cho binh lính Nhật trong thời kỳ phát xít Nhật chiếm đóng bán đảo Triều Tiên, phía Nhật Bản không đồng ý vì cho rằng vấn đề đó đã được giải quyết từ hiệp ước năm 1965 khi nước này tiến hành bình thường hóa mối quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc, đồng thời áp đặt lệnh hạn chế xuất khẩu các nguyên vật liệu dùng trong công nghệ cao như Fluorinated Polyamides, Photoresists, Hydrogen Fluoride,... sang thị trường Hàn Quốc và gạch tên nước này khỏi danh sách các quốc gia được hưởng ưu đãi thương mại từ chính phủ Nhật Bản, Hàn Quốc đáp trả bằng các biện pháp tương tự[176], trong đó bao gồm việc tẩy chay hàng hóa Nhật Bản[177], hạn chế xuất khẩu các mặt hàng công nghệ cao như màn hình OLED, chip nhớ, vi mạchchất bán dẫn,... sang thị trường Nhật Bản[176][178]. Chấm dứt Hiệp định chia sẻ thông tin tình báo chung đã được ký kết với Nhật Bản từ trước đó - hay còn được biết đến với tên gọi Thỏa thuận An ninh chung về Thông tin Quân sự (GSOMIA)[179], dẫn đến nguy cơ bùng phát một cuộc "chiến tranh thương mại" mới với tính chất và mức độ rủi ro tương tự như cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, đáng lo ngại hơn, cuộc chiến này sẽ nổ ra giữa 2 nền kinh tế hàng đầu tại châu Á[178], gây gián đoạn chuỗi cung ứng cho các sản phẩm công nghệ cao trên toàn cầu[180] đồng thời đẩy giá thành của các sản phẩm công nghệ đó lên cao[181][182], mặc dù đã có một số cuộc gặp cấp cao được tổ chức, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một cuộc đàm phán song phương chính thức nào để giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp trên.

Chính sách kiểm duyệt

Do tâm lý bài Nhật mạnh mẽ kể từ sau khi giành được độc lập, chính phủ Hàn Quốc ban hành và duy trì các đạo luật nhằm kiểm duyệt chặt chẽ, khắt khe đối với tất cả những chương trình truyền hình, sản phẩm truyền thông liên quan đến Làn sóng Nhật Bản như phim ảnh, trò chơi, âm nhạc, sách báo, truyện tranh cùng phim hoạt hình,... nếu những sản phẩm này muốn được thâm nhập vào thị trường Hàn Quốc. Năm 2003, phim truyền hình và âm nhạc Nhật Bản (J-pop) vẫn bị cấm phát sóng trên truyền hình mặt đất tại Hàn Quốc.[183] Ngày 23 tháng 2 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc Chung Byoung-guk thông báo rằng nước này "có thể xem xét xóa bỏ các lệnh cấm trong tương lai".[184] Tuy nhiên, đến năm 2014, bài hát tiếng Hàn Uh-ee của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Crayon Pop đã bị đài KBS cấm phát sóng vì có từ tiếng Nhật pikapika trong lời bài hát.[185] Năm 2018, nhóm nhạc nữ Hàn-Nhật IZ*ONE cho phát hành các bài hát có chứa tiếng Nhật và đã không được phép phát sóng trên truyền hình Hàn Quốc vì nội dung "mang đậm màu sắc Nhật Bản", đài Fuji News Network của Nhật Bản nhận xét: "sự ghê tởm đối với văn hóa Nhật Bản tại Hàn Quốc vẫn còn tàn tích rất mạnh mẽ".[186]

Trung Quốc

 
Tổng thống Moon Jae-in cùng Phu nhân và Chủ tịch Tập Cận Bình cùng Phu nhân trong chuyến thăm chính thức năm 2017.
 
THAAD

Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Hàn Quốc nhìn chung là rất thù địch vào khoảng thời gian trước những năm 1980, khi ấy Trung Quốc đại lục chỉ công nhận chính quyền Bắc Triều Tiên trong khi Hàn Quốc cũng chỉ công nhận chính quyền Trung Hoa Dân Quốc trên đảo Đài Loan. Hàn Quốc trở thành quốc gia châu Á cuối cùng thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 24 tháng 8 năm 1992. Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Hàn Quốc đã nỗ lực thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác trong nhiều lĩnh vực, trong đó: đầu tư, chuyển giao công nghệ, thương mại, du lịch và giao lưu văn hóa là những yếu tố quan trọng nhất để tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai nhà nước.

Mối quan hệ giữa hai nước đã xấu đi đáng kể vào cuối năm 2016 sau khi quân đội Hàn Quốc tuyên bố ý định sẽ cùng quân đội Mỹ tiến hành triển khai THAAD (Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối) trên lãnh thổ nước này, một động thái mà chính phủ Trung Quốc phản đối gay gắt[187]. Chính phủ Hàn Quốc và Hoa Kỳ tuyên bố rằng việc triển khai THAAD hoàn toàn là một biện pháp phòng thủ, chỉ nhắm vào Bắc Triều Tiên và không có ý định đe dọa lợi ích an ninh của Trung Quốc, song, chính phủ Trung Quốc lại coi đây là một động thái gây thù địch, đe dọa an ninh cũng như chống lại họ.[188] Chính phủ Trung Quốc ngầm áp đặt một chiến dịch tẩy chay không chính thức đối với hàng hóa Hàn Quốc trong nỗ lực ngăn chặn họ triển khai hệ thống tên lửa. Truyền thông Trung Quốc liên tục đưa tin về việc công dân nước này tẩy chay các sản phẩm có xuất xứ từ từ Hàn Quốc chẳng hạn như xe hơi của Hyundai, Kia, điện thoại di động và các thiết bị, sản phẩm công nghệ của Samsung, LG,... Hàng hóa của Hàn Quốc sau đó bị loại bỏ khỏi kệ hàng siêu thị tại Trung Quốc, nhiều thương hiệu bán lẻ lớn như Lotte, CJ, Shinsegae,... buộc phải đóng cửa hàng loạt các cơ sở kinh doanh hoặc thậm chí rút lui hoàn toàn khỏi thị trường tỷ dân này[189], trong khi khách du lịch và nhiều công ty du lịch Trung Quốc đồng loạt hủy bỏ các chuyến bay đi, đến Hàn Quốc[190][191]. Tuy nhiên, vào cuối tháng 10 năm 2017, hai nước đã kết thúc cuộc tranh chấp ngoại giao kéo dài gần 1 năm và nhanh chóng nỗ lực để đưa mối quan hệ giữa hai chính phủ trở lại đúng hướng, kể từ đó, tất cả các lệnh hạn chế về thương mại và văn hóa của Trung Quốc đối với Hàn Quốc cũng được dỡ bỏ, cùng với đó là sự hợp tác về chính trị, an ninh, kinh tế và trao đổi văn hóa giữa hai nước đã dần trở lại trạng thái bình thường.[192]

Vào ngày 29 tháng 11 năm 2010, tài liệu mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bị rò rỉ bởi Wikileaks đã đề cập đến nội dung của một cuộc trò chuyện giữa hai quan chức Trung Quốc ẩn danh với Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Chun Yung-woo. Trong cuộc trò chuyện này, hai quan chức đã tuyên bố rằng chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẵn sàng ủng hộ một bán đảo Triều Tiên thống nhất dưới quyền chính phủ miền Nam, miễn là chính quyền này không thù địch với Trung Quốc.[193]

Một cuộc khảo sát được công bố vào năm 2019 bởi Trung tâm nghiên cứu PewHội đồng các vấn đề toàn cầu Chicago (Mỹ) cho thấy rằng có tới 63% người dân Hàn Quốc giữ quan điểm tiêu cực về Trung Quốc.[194] Sang đến năm 2020, tình hình tiếp tục diễn biến theo hướng tiêu cực, với gần 60% người dân Hàn Quốc xem Trung Quốc (một trong những đối tác thương mại lớn nhất) là 'đối thủ', 75% cho biết họ có 'ác cảm' đối với người Trung Quốc, 83% không có niềm tin vào Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong việc xử lý các vấn đề khu vực cũng như quốc tế, tỷ lệ người Hàn có thiện chí với Trung Quốc chỉ ở mức 24%, đồng thời liên tục giảm mạnh qua từng năm - tập trung vào giới trẻ.[195] Cũng trong một cuộc khảo sát khác được báo Dong-a Ilbo thực hiện cùng năm, kết quả cho thấy gần 53% người dân Hàn Quốc nói họ ủng hộ quốc gia tham gia vào nỗ lực chống lại "Bắc Kinh cùng chủ nghĩa bành trướng" của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden, đặc biệt, với nhóm ở độ tuổi 20 - tỷ lệ này tăng lên mức 66%.[195] Thậm chí, sau sự bùng phát của Đại dịch COVID-19, xu hướng bài Trung Quốc ở quốc gia này hiện nay còn lớn hơn cả Nhật Bản.[196] Bên cạnh đó, hai quốc gia cũng đang tranh chấp chủ quyền của các bãi đá ngầm Socotra, Gageo trên biển Hoàng Hải và xảy ra nhiều tranh cãi xung quanh nguồn gốc của các món ăn nổi tiếng như Kim chi, canh Samgyetangbánh gạo (Tteokbokki) - vốn từ lâu đã được coi là một biểu tượng của đất nước, văn hóa cũng như nền ẩm thực Hàn Quốc.[197][198][199][200]

Việt Nam

 
Một biểu ngữ tại Việt Nam kêu gọi phát triển hơn nữa mối quan hệ hữu nghị Việt - Hàn.
 
Park Hang-seo - huấn luyện viên trưởng của Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam giao lưu với người hâm mộ vào tháng 2 năm 2018 tại Seoul.

Tương tự như Trung Quốc, mối quan hệ giữa Hàn Quốc và Việt Nam trước năm 1975 là cực kỳ thù địch, khi đó, Việt Nam đang trong chiến tranh - với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chính thể có chung tư tưởng, ý thức hệ, duy trì quan hệ ngoại giao, là đối tác thương mại, kinh tế, quân sự của Bắc Triều Tiên trong khi Hàn Quốc thì cùng với Quân lực Thế giới Tự do - đưa quân đội trực tiếp can thiệp vào miền Nam Việt Nam, đồng thời là một đồng minh thân cận của chính thể Việt Nam Cộng hòa. Sau năm 1975, cùng với những sự khác biệt về quan điểm chính trị kết hợp với hàng loạt chính sách bao vây, cấm vận kinh tế Việt Nam từ phía Mỹ, quan hệ giữa nhà nước Việt Nam thống nhất và Hàn Quốc tiếp tục bế tắc và ngày càng trở nên khó khăn. Vào đầu những năm 1980, khi chính phủ Mỹ bắt đầu nới lỏng các chính sách cấm vận, mối quan hệ này đã dần được cải thiện đáng kể, hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Hàn Quốc thời bấy giờ chủ yếu là gạo và lúa. Cho đến năm 1990, khi Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa thì mối quan hệ này đã dần tốt hơn, đồng thời, sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Hàn Quốc thì chính phủ Hàn Quốc ngay sau đó đã cùng với các doanh nghiệp nước này ào ạt tiến hành đầu tư vào Việt Nam, xuất phát từ cơ sở hạ tầng, giáo dục, thành lập các công ty liên doanh Việt - Hàn, cho đến hợp tác phát hành, xuất khẩu và truyền bá rộng rãi các thể loại phim ảnh, chương trình truyền hình, âm nhạc, văn hóa... vào thị trường Việt Nam và ngược lại, nhiều người Việt Nam - đặc biệt là lớp trẻ - cũng chọn Hàn Quốc là điểm đến để du lịch, nghiên cứu, khám phá, học tập, định cư, làm việc,...[201] Sang tới đầu năm 1996, ngôi trường được Hàn Quốc đầu tư 100% vốn tại Việt Nam đầu tiên đã được khánh thành nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ hữu nghị Việt - Hàn.

Tính đến năm 2018, Việt Nam đã đón tổng cộng 3.485.406 lượt khách Hàn Quốc sang du lịch, con số này chỉ đứng sau khách Trung Quốc (4.966.468). Các chuyến bay từ Việt Nam đến Hàn Quốc chiếm 44,5% lưu lượng xuất cảnh ra nước ngoài trong năm 2018. Ngược lại, bên phía Hàn Quốc, thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đà Lạt và Hội An là những điểm đến hàng đầu mà khách du lịch nước này lựa chọn muốn ghé thăm khi đến Việt Nam. Từ năm 2011 đến nay, Hàn Quốc luôn giữ vững ngôi vị là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Năm 2017, tổng kim ngạch thương mại hai nước đạt 64 tỷ USD, nhờ đó, phía Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ tư của Hàn Quốc. Ngược lại, Hàn Quốc cũng là bạn hàng thương mại lớn thứ hai của Việt Nam. Hàn Quốc đứng thứ 2 về lượng vốn hỗ trợ ODA cho Việt Nam chỉ sau Nhật Bản. Quy mô trao đổi thương mại giữa Việt Nam - Hàn Quốc chiếm hơn 40% tổng quy mô trao đổi thương mại giữa Hàn Quốc và các nước ASEAN. Theo những số liệu thống kê từ các cơ quan truyền thông và chuyên gia kinh tế thì hiện nay, Samsung của Hàn Quốc là tập đoàn có mức đóng góp nhiều nhất vào tổng giá trị GDP của Việt Nam trong năm 2018 với 28% và đồng thời cũng liên tục giữ vững danh hiệu là doanh nghiệp FDI có quy mô lớn nhất tại quốc gia này, có nhiều đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm cũng như thị trường lao động[202][203][204]. Ngoài ra, trong những năm gần đây, văn hóa và ngôn ngữ Hàn Quốc (Hàn Quốc học) đang nổi lên như một ngành học, nghề "hot" tại Việt Nam - không chỉ được Bộ Giáo dục Việt Nam đưa vào giảng dạy ở tất cả các cấp bậc trong hệ thống giáo dục, từ tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông (theo hình thức 'ngôn ngữ tự chọn' và 'ngoại ngữ phụ bắt buộc')[205][206][207] cho đến đại học, mà còn có mức tiêu chuẩn đầu vào khắt khe, cạnh tranh nhất[208][209][210] đồng thời cũng là một trong những chuyên ngành học thuật bậc đại học được sinh viên Việt Nam lựa chọn theo đuổi nhiều nhất hiện nay.

Năm 2020, Việt Nam đã vượt qua Hồng Kông và Nhật Bản để trở thành đối tác thương mại lớn thứ 3 của Hàn Quốc chỉ sau Mỹ và Trung Quốc, kim ngạch thương mại giữa 2 nước đạt 48.5 tỷ USD và được dự báo sẽ còn tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ hơn nữa trong những năm tới.[211]

Bên cạnh những thành tựu to lớn cũng như mặt tích cực, quan hệ ngoại giao Việt-Hàn hiện nay cũng phải đối mặt với nhiều thách thức mới, trong đó đặc biệt là tỷ lệ tội phạm đang gia tăng "chéo" một cách nhanh chóng, phức tạp ở cả hai quốc gia.[212] Đồng thời, sự can thiệp của quân đội Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam vẫn luôn là một quá khứ đau thương, chủ đề nhạy cảm trong quan hệ ngoại giao giữa 2 đất nước.

Liên minh châu Âu (EU)

Liên minh châu Âu (EU) và Hàn Quốc là những đối tác thương mại quan trọng, Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 9 của EU và EU là điểm đến xuất khẩu lớn thứ 3 của Hàn Quốc.[213] Đặc biệt, Hàn Quốc là quốc gia duy nhất trên thế giới có đồng thời với EU 3 hiệp định về kinh tế, chính trị và an ninh.[214] EU coi Hàn Quốc là một đối tác quan trọng trong chính sách Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của khối và ủng hộ việc cải thiện quan hệ liên Triều, thiết lập nền hòa bình lâu dài cũng như tiến tới phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên.[215] Bên cạnh đó, hai bên cũng thúc đẩy hợp tác nhằm tăng cường an ninh trên biển ở Vịnh Guinea và các khu vực lân cận thuộc châu Phi để đối phó với những mối đe dọa ngày càng nghiêm trọng đến từ nạn cướp biển.[216]

Nga

 
Tổng thống Moon Jae-in và Tổng thống Putin gặp nhau bên lề Hội nghị thượng đỉnh G-20 Hamburg 2017 (Đức).

Bên cạnh quan hệ ngoại giao hữu nghị cơ bản, Hàn Quốc và Liên bang Nga cùng tham gia Đàm phán Sáu bên về vấn đề tên lửa - hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Ngoài ra, Hàn Quốc là một trong những khách hàng mua khí đốt lớn của Nga và đồng thời có nhiều hợp tác, thương mại song phương trong lĩnh vực quân sự.[217] Hiện nay, hai nước đang đàm phán về việc mở lại một đường ống dẫn khí đốt tự nhiên từ Nga xuyên qua bán đảo Triều Tiên.[218] Vào tháng 6 năm 2018, Moon Jae-in trở thành nhà lãnh đạo Hàn Quốc đầu tiên phát biểu trước Quốc hội Nga[219] và tới ngày 22 tháng 6 cùng năm, Tổng thống Hàn Quốc đã cùng với người đồng cấp Nga Vladimir Putin chính thức ký kết văn kiện thành lập một khu vực thương mại tự do.[220]

Hoa Kỳ

 
Tổng thống Moon Jae-in cùng Tổng thống Joe Biden ăn trưa tại Nhà Trắng trong chuyến thăm chính thức vào ngày 21 tháng 5 năm 2021.
 
Liên quân Mỹ-Hàn (USFK) trong cuộc tập trận Đại bàng Non (Foal Eagle) năm 2010.

Mối quan hệ chặt chẽ giữa hai nước được bắt đầu từ ngay khi kết thúc Thế Chiến II, sau khi Nhật đầu hàng và trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên. Theo quyết định của Hội nghị Yalta, Hoa Kỳ tạm thời tiếp quản miền nam bán đảo Triều Tiên trong vòng ba năm, trong khi đó Liên Xô tiếp quản miền Bắc. Năm 1948, với sự ủng hộ của Mỹ, Lý Thừa Vãn đã thành lập nên nhà nước Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc). Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào năm 1950, quân đội Hoa Kỳ cùng Liên Hợp Quốc đã được gửi đến để giúp đỡ nhà nước cùng quân đội Hàn Quốc non trẻ chống lại các cuộc tấn công từ phía Bắc Triều Tiên. Sự tham chiến của Hoa Kỳ đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ngăn chặn thất bại gần như chắc chắn của quân đội Hàn Quốc non trẻ trước sức tấn công từ phía quân đội Bắc Triều Tiên. Sau chiến tranh, Hoa Kỳ và Hàn Quốc thành lập Liên minh quân sự chung, ký kết Hiệp ước Phòng thủ chung. Ngày nay, Lầu Năm Góc vẫn tiếp tục duy trì một số lượng rất lớn binh sĩ, quân nhân, nhân viên, chuyên gia,... cùng các căn cứ quân sự trên khắp lãnh thổ Hàn Quốc, đồng thời, Hạm đội 7 trực thuộc Hải quân Hoa Kỳ cũng sẽ phụ trách việc bảo đảm an ninh quân sự, an toàn hàng hải cho các vùng biển xung quanh Hàn Quốc, ngoài ra, lực lượng này cũng sẵn sàng hành động - nếu như trong trường hợp có xảy ra xung đột vũ trang hoặc đồng minh Hàn Quốc bị tấn công phủ đầu. Tại hội nghị thượng đỉnh G-20 năm 2009 tại thủ đô Luân Đôn, Vương quốc Anh, Tổng thống Barack Obama trong tuyên bố của mình đã nhấn mạnh rằng:[45]

Hàn Quốc là một trong những nước đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng của Hoa Kỳ cùng với các quốc gia: Argentina, Australia, Bahrain, Israel, Nhật Bản, Jordan, Kuwait, Maroc, New Zealand, Philippines, và Thái Lan. Lãnh thổ Hàn Quốc hiện nay cũng đang nằm dưới "Ô bảo vệ Hạt Nhân" của Hoa Kỳ cùng với khối NATO, phần lớn châu Âu, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Úc.

Mặc dù 2 nước duy trì mối quan hệ đồng minh thân cận trong phần lớn các đời Tổng thống Mỹ, tuy nhiên, dưới thời Tổng thống Donald Trump, mối quan hệ này đứng trước nguy cơ rạn nứt do Hàn Quốc và Mỹ xảy ra nhiều bất đồng, tranh cãi xung quanh việc chi trả chi phí hoạt động cho các lực lượng quân đội Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc (United States Forces Korea - USFK), hay còn được gọi là "phí bảo vệ".[221][222] Nhiều cuộc đàm phán song phương cấp cao đã được tiến hành, một số thỏa thuận đã được thông qua[223][224], tuy nhiên; giữa 2 đồng minh vẫn không thể tìm được tiếng nói chung.[225] Hiện nay, sau thời kỳ cầm quyền của ông Trump, tân Tổng thống Joe Biden và chính quyền Seoul đã xử lý thành công vấn đề trên, qua đó, Hàn Quốc đồng ý đóng góp 1,03 tỷ USD - tăng 13,9% so với năm 2020 (nhưng vẫn thấp hơn rất nhiều so với con số 5 tỷ USD mà cựu Tổng thống Trump yêu cầu trước đó), cho các lực lượng Mỹ đồn trú tại nước này trong năm 2021.[226]

Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Hoa Kỳ tại Hàn Quốc hiện nay là ông Harry B. Harris Jr. - người được cựu Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm và nhậm chức vào năm 2018.[227]

Xã hội

Dân cư, nhân khẩu và sắc tộc

 
Nam nữ Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok

Vào tháng 4 năm 2016, dân số Hàn Quốc được Văn phòng Thống kê Quốc gia ước tính là khoảng 50,8 triệu người, với dân số ở trong độ tuổi lao động và tổng tỷ suất sinh tiếp tục có xu hướng suy giảm.[228] Hàn Quốc là nước có mật độ dân số rất cao, ước tính lên tới 505 người trên mỗi km² vào năm 2015, nhiều hơn 10 lần so với mức trung bình toàn cầu. Hầu hết người Hàn Quốc sống ở khu vực thành thị, do quá trình di cư ồ ạt khỏi các vùng nông thôn trong quá trình mở rộng kinh tế nhanh chóng của đất nước trong những năm 1970, 1980 và 1990[229]. Thành phố thủ đô là Seoul cũng là thành phố lớn nhất và là trung tâm công nghiệp chính của đất nước. Theo điều tra dân số năm 2005, khu vực nội thành Seoul có dân số hơn 10 triệu người. Khu vực đại đô thị Seoul có hơn 30 triệu dân (khoảng hơn một nửa dân số Hàn Quốc), trở thành khu vực đô thị lớn thứ 5 trên thế giới.[128] Các thành phố, khu vực đô thị lớn khác bao gồm có: nội thị Seoul (~10 triệu cư dân)[230], Busan (3,5 triệu), Incheon (3,0 triệu), Daegu (2,5 triệu), Daejeon (1,4 triệu), Gwangju (1,4 triệu) và Ulsan (1,1 triệu).[231]

Trong thành phần dân cư của Hàn Quốc thì người Hàn-Triều Tiên chiếm đại đa số với gần 99%[18], đây là một quốc gia dân tộc đồng nhất, nhóm dân tộc thiểu số duy nhất là một bộ phận nhỏ người gốc Hoa và gốc Nhật. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á năm 1997, Hàn Quốc cùng với Nhật Bản là hai quốc gia sớm phục hồi, vì vậy nên một số lượng lớn lao động từ các nước đang phát triển đã đổ về đây để tìm kiếm việc làm. Một bộ phận không nhỏ người nước ngoài cũng đang sinh sống, học tập và làm việc tại Hàn Quốc, họ tập trung tại những khu vực kinh doanh năng động nhất của Seoul, chẳng hạn như Itaewon, ở đây người ta có thể tìm thấy những khu "Làng Liên Hợp Quốc" bên cạnh rất nhiều đại sứ quán và các công ty nước ngoài.

Tình trạng già hóa dân số

Tỷ lệ sinh của Hàn Quốc là thấp nhất thế giới trong năm 2009[232]. Nếu tỷ lệ này tiếp tục được duy trì, dân số của Hàn Quốc dự kiến sẽ giảm 13% xuống còn 42,3 triệu người vào năm 2050[233]. Tỷ lệ sinh trung bình hàng năm của Hàn Quốc là khoảng 9 ca sinh trên 1000 người[234][235]. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh đã tăng 5,7% kể từ năm 2010 và Hàn Quốc không còn là quốc gia có tỷ lệ sinh thấp nhất thế giới nữa[236]. Theo công bố năm 2011 từ báo Chosun Ilbo, tổng tỷ suất sinh của Hàn Quốc (1,23 trẻ em sinh ra trên mỗi phụ nữ) cao hơn so với Đài Loan (1,15) và Nhật Bản (1,21)[237]. Tuổi thọ trung bình của người dân Hàn Quốc trong năm 2008 là 79,10 tuổi (đứng thứ 34 trên thế giới)[238] nhưng đến năm 2015 đã tăng lên 81 tuổi[239]. Hàn Quốc là nước có sự sụt giảm mạnh nhất về dân số ở độ tuổi lao động trong số các quốc gia thuộc OECD.[240][241][242] Năm 2015, Cục Thống kê Quốc gia ước tính rằng dân số của đất nước sẽ đạt đến đỉnh điểm vào năm 2035.[228]

Hiện nay, trước áp lực của cuộc sống hiện đại, ngày càng nhiều người trẻ Hàn Quốc ở độ tuổi 20-30 chọn cách sống độc thân, không con cái, dẫn đến nhiều hệ quả kinh tế - xã hội; đặc biệt là sự lão hoá dân số đi kèm cùng sụt giảm lao động trẻ tuổi. Họ được gọi là "Thế hệ Sampo" và thường bị chỉ trích là ích kỷ.[243]

Lý do trở thành Thế hệ Sampo[244]
%
Không có tiền tiết kiệm
53.5
Áp lực cuộc sống cao dù cho có nhiều tiền
42.1
Khó kiếm việc làm
33.1
Thu nhập sau thuế thấp
32.1
Nợ cá nhân cao
16.8

Vấn nạn "hôn nhân mua bán"

Trong những năm gần đây, với tỷ lệ chênh lệch giới tính, sự bất bình đẳng giai cấp trong xã hội, chi phí sinh hoạt, nuôi dạy con cái ngày một tăng cao kết hợp cùng xu hướng muốn theo đuổi lối sống độc thân, tự chủ, tự do của nữ giới[55] đã dẫn đến hệ quả là một số lượng lớn và ngày càng có nhiều hơn nam giới Hàn Quốc (phần lớn sống ở khu vực nông thôn hoặc có thu nhập cá nhân ở mức thấp[61]) gặp khó khăn, không muốn hoặc không thể tìm kiếm được bạn đời cho riêng mình, tình trạng này sau đó trở nên nghiêm trọng đến nỗi; chính phủ Hàn Quốc đã phải vào cuộc để nghiên cứu, đề xuất giải pháp "giải cứu" cho những nam giới này, qua đó, các "nam nhân quá tuổi" sẽ được chính quyền địa phương hỗ trợ một khoản chi phí để sang "mua vợ" tại các nước đang phát triển[245][246], những khu vực, quốc gia có con người, văn hóa, phong tục tập quán gần gũi với Hàn Quốc đặc biệt như Trung Quốc[247] và Việt Nam (nhóm cộng đồng chiếm số lượng đông đảo nhất)[248][249][250], Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar, Uzbekistan và Philippines,... thường được họ ưu tiên chọn lựa để tiến hành các cuộc "hôn nhân mua bán". Mặc dù bước đầu cơ bản giải quyết được các vấn đề xã hội và ổn định dân số, thế nhưng, những cuộc hôn nhân trên thường đem lại nhiều hệ lụy đáng tiếc do sự khác biệt về văn hóa, lối sống, sự bất đồng trong ngôn ngữ cùng thái độ coi thường, kỳ thị "con lai" và tư tưởng "trọng nam" của nam giới, những người bảo thủ theo chủ nghĩa thuần huyết Triều Tiên; xã hội cũng như văn hóa gia đình Hàn Quốc, đồng thời góp phần khiến cho tỷ lệ dân nhập cư và số lượng các gia đình đa chủng tộc tại đất nước này đang ngày một tăng cao.[251][252]

Quá trình di dân

Ngược lại cũng có rất nhiều người Hàn Quốc-Bắc Triều Tiên hiện đang sinh sống, học tập, làm việc tại nước ngoài, ví dụ như Trung Quốc và nhiều nước thuộc vùng Trung Á (nguyên nhân bắt nguồn từ việc nhà độc tài Liên Xô cũ Stalin đã đưa hàng ngàn người Triều Tiên tới đó sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đầu chiến tranh thế giới thứ hai và đặc biệt, chính tại Hàn Quốc lại là nơi có đông đảo nhất cộng đồng người đào tẩu Bắc Triều Tiên sinh sống). Trong thời kỳ bị Nhật Bản đô hộ, một số lượng lớn người Hàn-Triều Tiên cũng bị đưa sang Nhật, hình thành nên một cộng đồng dân cư mới ở đây. Sau Thế Chiến 2, sự bất ổn chính trị, xã hội và kinh tế trong nước đã dẫn tới việc một số Hàn Quốc di cư sang châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Canada, Nga và Hoa Kỳ. Sau năm 1992, khi tình hình chính trị trong nước dần trở lại ổn định, nhiều người đã quay trở về quê hương và mang cho mình hai quốc tịch.

Áp lực cuộc sống và nạn tự sát

Xã hội Hàn Quốc hiện đại tạo nên những áp lực rất lớn trong cuộc sống, từ học tập, thi cử, cho tới kiếm việc làm - làm việc[253], kết hôn, sinh - nuôi dạy con cái,...[254][255] Do các áp lực này, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc cũng luôn thuộc mức rất cao trên thế giới. Năm 2012, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc là 28,9 vụ/100.000 dân, cao hơn nhiều so với mức 12,1 vụ của Mỹ, 7,8 vụ của Trung Quốc và cao hơn 2,5 lần so với mức trung bình trên toàn cầu. Áp lực cuộc sống cao dẫn tới nhiều chứng bệnh nguy hiểm như trầm cảm, căng thẳng tâm lý, rối loạn lo âu và tự sát là nguyên nhân số một trong những ca tử vong của thanh thiếu niên (từ 15 tới 30 tuổi).[256][257][258] Ngoài ra, một bộ phận giới trẻ Hàn Quốc ngày nay đang có xu hướng gia tăng bạo lực trong tính cách và hành vi, nguyên nhân chính cũng xoay quanh sự bế tắc, bất lực do áp lực cuộc sống, xuất phát từ khủng hoảng việc làm.[259]

Hiện nay, ngày càng có nhiều người già, người cao tuổi Hàn Quốc đang phải sống, làm các công việc chân tay nặng nhọc, thậm chí nhạy cảm[260][261][262] và cuối cùng là vào tù do phạm pháp[263][264][265] hoặc qua đời trong cô độc[266], đây là một trong những tồn tại nhức nhối của xã hội mà chính phủ Hàn Quốc vẫn đang loay hoay tìm cách giải quyết. Những biến động ở Hàn Quốc vốn đã bắt đầu nhen nhóm kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1997 tàn phá nền kinh tế đồng thời làm nhiều người mất việc và điều này khiến cho họ bị tụt lại trong sự cạnh tranh gay gắt của xã hội. Nhiều người cao tuổi không có tiền tiết kiệm khi về hưu, họ gặp khó khăn nghiêm trọng về tài chính trong khi con cái cùng những thế hệ kế cận lại không đủ khả năng chu cấp cho cha mẹ, kết hợp với tâm lý, văn hóa "không muốn bản thân trở thành gánh nặng cho con cháu" vốn đã ăn sâu vào suy nghĩ của nhiều thế hệ người cao tuổi Hàn Quốc đã khiến cho vấn đề trên ngày càng trở nên trầm trọng.[260] Trợ cấp xã hội dành cho những người ngoài độ tuổi 50 chỉ ở mức tương đối thấp. Chỉ số Hưu trí toàn cầu Mercer Melbourne 2015 xếp hạng Hàn Quốc đứng thứ 24 trong 25 quốc gia có nền kinh tế lớn, chỉ cao hơn Ấn Độ. Năm 2014, chỉ 45% người Hàn Quốc trong độ tuổi từ 55 đến 79 có lương hưu và chi tiêu trung bình hàng tháng của họ là 431 USD, bằng 82% mức chi phí sinh hoạt tối thiểu cho một người trẻ tuổi. Khoảng 30% người cao tuổi có thu nhập hàng tháng dưới mức 'nghèo tuyệt đối' - theo quy chuẩn của chính phủ Hàn Quốc. Cứ 4 người cao tuổi Hàn Quốc lại có một người mắc chứng trầm cảm, tỷ lệ tự sát của nhóm người cao tuổi cao gấp đôi so với mức trung bình cả nước và được dự báo sẽ còn tiếp tục gia tăng.[260]

Hàn Quốc là nước xếp cao nhất trong các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và liên tục có số vụ tự sát thuộc hàng đầu trong các nước phát triển. Nhà ga tàu điện ngầm ở Seoul đã phải dựng hàng rào chắn để ngăn chặn những người mắc bệnh trầm cảm có thể nhảy xuống bất kỳ lúc nào khi tàu đến và toàn bộ 8 cây cầu trong thành phố đều được lắp đặt dày đặc các hệ thống camera CCTV nhằm phát hiện nhanh người có ý định tự sát. Quốc gia này là nơi thường xuyên diễn ra các vụ tự tử của sinh viên, ca sĩ, người mẫu, diễn viên, vận động viên thể thao, các chính trị gia và những người nổi tiếng, trong đó bao gồm cả vụ tự sát nổi tiếng của cựu tổng thống Roh Moo-hyun vào năm 2009.[267]

Ngày 30 tháng 6 năm 2010, tài tử, ngôi sao Hallyu Park Yong-ha khiến cho cả đất nước cũng như làng giải trí Hàn Quốc bàng hoàng và đau xót khi bất ngờ tự tử không rõ nguyên nhân ở tuổi 32.[270] Trong vòng chưa đầy 4 tháng đầu năm 2011, bốn sinh viên và một giáo sư của Viện Đại học Kaist - ngôi trường danh tiếng bậc nhất Hàn quốc - đã lần lượt tự sát.[271] Vào ngày 18 tháng 12 năm 2017, Kim Jong-hyun, giọng ca chính của nhóm nhạc Shinee, tự tử ở tuổi 27, anh được các nhân viên y tế phát hiện trong tình trạng bất tỉnh sau khi gửi thư tuyệt mệnh cho em gái và sau đó được tuyên bố là đã qua đời trên đường đi đến bệnh viện. Vào ngày 21 tháng 1 năm 2018, nam diễn viên Jun Tae-soo tự tử ở tuổi 33, sau một thời gian chiến đấu với căn bệnh trầm cảm nghiêm trọng. Vào ngày 29 tháng 6 năm 2019, nữ diễn viên gạo cội Jeon Mi-seon tự tử không rõ nguyên nhân ở tuổi 48. Vào ngày 14 tháng 10 năm 2019, Sulli Choi, nữ diễn viên và cựu thành viên của ban nhạc F(x), tự tử ở tuổi 25, nguyên nhân được xác định cũng là do căn bệnh trầm cảm. Vào ngày 24 tháng 11 năm 2019, Goo Hara, nữ diễn viên và cựu thành viên của ban nhạc Kara, tự tử ở tuổi 28, trước đó, cô đã cố gắng tự kết liễu cuộc đời mình một lần vào ngày 26 tháng 5 cùng năm, nhưng được người quản lý phát hiện kịp thời và đưa đến bệnh viện. Ngày 9 tháng 7 năm 2020, thị trưởng thành phố Seoul đương nhiệm Park Won-soon bất ngờ tự tử ở tuổi 64[272], trước đó, ông để lại di thư nhưng không nói rõ lý do tại sao bản thân lại tự tìm đến cái chết[273], ngay sau khi cảnh sát đưa ra thông báo kết luận rằng ông tự sát[274], đã bắt đầu xuất hiện rất nhiều giả thuyết, lời đồn đoán cũng như tranh cãi về nguyên nhân đứng đằng sau sự ra đi của thị trưởng Park, theo đó, ông có thể lựa chọn tự tử vì không thể chịu được những áp lực cũng như sức ép khi phải đối mặt với hàng loạt các cáo buộc liên quan đến quấy rối tình dục và gian lận tài chính.[275]

Theo một chuyên gia về tâm thần học tại Đại học Quốc gia Seoul và cũng là thành viên trong Hiệp hội ngăn chặn tự sát ở Hàn Quốc, tự sát tập thể khá phổ biến ở nước này và có xu hướng tăng cao[276]. Tỷ lệ này tăng mạnh sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và tiếp tục tăng sau đó.[277] Trong vòng 5 năm trước 2007, tỷ lệ tự sát ở Hàn Quốc tăng gấp đôi.[278] Năm 2011, trước tình hình này, một số người đứng ra tổ chức những khoá học chết thử, với lý do "trải nghiệm cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ". Mục đích của chương trình này là muốn người tham gia "nghĩ về cuộc sống và tận hưởng nó một cách có ý nghĩa hơn" thay vì tìm đến cái chết.[277]

Ở các gia đình có 2 vợ chồng cùng đi làm, đàn ông chỉ dành khoảng 40 phút làm việc nhà hoặc trông con, ít hơn so với phụ nữ là trung bình 3 giờ một ngày. Theo thống kê, số giờ làm việc trung bình của người Hàn Quốc là 2.113 giờ một năm, đứng thứ hai trong số các quốc gia thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và chỉ xếp sau México[279]. Tuy nhiên, nhiều cuộc khảo sát gần đây đã cho thấy thực tế còn tệ hơn và có xu hướng giống Nhật Bản, nơi thường xuyên có người lao động chết hoặc tự kết liễu bản thân do lao lực, căng thẳng tâm lý và kiệt sức. Đã xuất hiện cụm từ mới phản ánh tình trạng này ở Hàn Quốc là "Kawarosa" (mượn từ cụm từ Karōshi - có nghĩa là chết vì làm việc quá sức trong tiếng Nhật).[280][281][282]

Hàn Quốc đã thực hiện Chiến lược ngăn ngừa tự tử (STOPS) nhằm tăng cường nhận thức của cộng đồng và sự hỗ trợ của chính phủ trong vấn đề phòng chống nạn tự sát[283]. Những biện pháp này đã đem lại hiệu quả rất tích cực, kể từ năm 2010, tỷ lệ tự tử ở Hàn Quốc đã giảm mạnh, cả hai thành phố lớn nhất của Hàn Quốc là Busan và Incheon đã thực hiện tích cực các chương trình ngăn ngừa tự tử. Việc cấm lưu hành một loại thuốc diệt cỏ mang nhiều thành phần chất chứa độc tính cao có tên gọi là Paraquat được coi là chìa khóa trong việc giảm mạnh tỷ lệ tự sát ở nơi đây. Từ khoảng năm 2011 đến 2015, tỷ lệ tử vong do tự tử ở Hàn Quốc đã giảm gần 15%, theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2017 cho biết. Ông Moon Jae-in - Tổng thống Hàn Quốc nhậm chức trong năm 2018, đã cam kết sẽ hạ thấp tỷ lệ tự tử xuống còn 20 vụ trên 100.000 người vào năm 2020.[284]

Tôn giáo

Tôn giáo tại Hàn Quốc (2015)[6]

  Không tôn giáo (56.1%)
  Tin Lành (19.7%)
  Phật giáo (15.5%)
  Công giáo Rôma (7.9%)
  Khác (0.8%)

Theo số liệu thống kê đến năm 2015 do chính phủ Hàn Quốc cung cấp, có khoảng 56,1% công dân cho biết họ theo chủ nghĩa vô thần - tức không đặt niềm tin hay tuân theo bất kỳ một tín ngưỡng, tôn giáo nào. Người theo đạo Cơ đốc hoặc Kitô giáo chiếm 27,6% dân số - trong số đó, Tin Lành chiếm 19,7%, Công giáo là 7,9% và 15,5% là Phật tử[285]. 0,8% còn lại theo các tôn giáo thiểu số khác như Đạo giáo, Vu giáo hay Shaman giáo.

Tại Hàn Quốc có khoảng ≈40.000 người bản địa theo Hồi giáo (khoảng 0,09% dân số), bổ sung vào con số hơn 100.000 lao động nước ngoài từ các quốc gia Hồi giáo[286]. Hàn Quốc cũng là quốc gia có dân số theo đạo Công giáo đông thứ năm ở châu Á (sau Philippines, Ấn Độ, Trung Quốc và Indonesia).

Nhiều người dân Hàn Quốc không đặt nặng vấn đề tôn giáo, họ tổ chức ngày lễ của nhiều tôn giáo khác nhau. Việc pha trộn tôn giáo này từng vấp phải sự phản đối kịch liệt của hơn 100.000 tín đồ Nhân chứng Giê-hô-va. Những nghi lễ cổ truyền vẫn còn được duy trì. Các giá trị của đạo Khổng hiện nay vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống thường ngày của người dân xứ Hàn.

Người dân Hàn Quốc được hưởng tự do tôn giáo ở mức độ cao, tuy nhiên, những vấn nạn, bê bối liên quan đến các giáo phái cuồng giáo luôn luôn là một trong những vấn đề gây nhức nhối, ám ảnh trong xã hội nước này.[287]

Thành tựu

Mặc dù còn nhiều tồn tại, góc khuất cũng như hạn chế, tuy nhiên; xã hội Hàn Quốc vẫn có những mặt tích cực đáng ghi nhận. Hàn Quốc là một trong những quốc gia có tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thấp nhất trên thế giới, với chỉ 3,03%[288][289]. Quốc gia này cũng đứng thứ 4 châu Á sau Singapore, Nhật Bản và Hồng Kông, giữ hạng 9 toàn cầu về tuổi thọ trung bình của người dân (đồng hạng với Israel).[23][25] Tỷ lệ tội phạm giết người có chủ đích tính riêng trong phạm vi lãnh thổ Hàn Quốc năm 2018 là 0.60% - mức rất thấp theo nghiên cứu và công bố của Văn phòng Liên Hợp Quốc về chống Ma túy và Tội phạm (UNODC).[290][291] Chỉ số khủng bố bằng 0 (hoàn toàn không có khủng bố)[292] và chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức rất cao[22], đồng thời gần như không có người mù chữ - với tỷ lệ biết chữ đạt 99% dân số trong năm 2020.[293]

Theo một loạt các cuộc khảo sát được tiến hành bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn QuốcViện nghiên cứu Gallup (Mỹ) vào năm 2019 cho kết quả: 82% người Hàn Quốc được hỏi đã trả lời rằng Hàn Quốc là một nơi đáng để sinh sống, 63.6% số người được hỏi trả lời rằng họ cảm thấy ổn và tương đối hài lòng với cuộc sống hiện tại. Cũng theo Báo cáo Hạnh phúc toàn cầu năm 2019 của Liên Hợp Quốc, Hàn Quốc là quốc gia hạnh phúc thứ 54 trên thế giới[294]. Năm 2020, đất nước này đứng thứ 2 châu Á (sau Nhật Bản) và hạng 17 thế giới về chỉ số tiến bộ xã hội (Social Progress Index).[40][41][42]

Giáo dục

… Nếu ngủ 3 tiếng mỗi đêm, bạn có thể mơ tới việc thành một phần của S.K.Y. Nếu ngủ 4 tiếng, bạn có thể thi đỗ vào trường đại học khác. Còn nếu ngủ 5 tiếng hoặc hơn, nhất là trong năm cuối cấp, thì hãy quên ngay ý định bước chân vào cổng trường đại học…

Cuộc chiến thi đại học Hàn Quốc, Pháp luật và bạn đọc - Báo điện tử Sức khỏe & Đời sống, 17 tháng 9 năm 2020[295]

Hệ thống trường học hiện đại ở Hàn Quốc bao gồm có sáu năm tiểu học, ba năm trung học cơ sở và ba năm trung học phổ thông. Học sinh bắt buộc phải học tiểu học và trung học cơ sở nhưng không phải trả chi phí giáo dục, ngoại trừ một khoản phí nhỏ gọi là "phí hỗ trợ các hoạt động của nhà trường". Khoản phí này khác nhau tùy theo từng trường học. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế - do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới (OECD) khởi xướng và chỉ đạo - hiện đang xếp hạng giáo dục khoa học của Hàn Quốc tốt thứ 3 trên thế giới và luôn cao hơn mức trung bình của OECD.[296][297]

Trong năm 2015, quốc gia này đã chi 5,1% GDP cho tất cả các cấp cũng như hoạt động giáo dục - cao hơn khoảng 0,8 điểm phần trăm so với mức trung bình của OECD (4,3%). Giáo dục là chìa khóa giúp cho đất nước vốn nghèo tài nguyên thiên nhiên này[298], từ một vùng đất hoang tàn do chiến tranh, nhanh chóng phát triển thịnh vượng trong suốt hơn 60 năm qua nhưng đồng thời cũng tồn tại nhiều mặt tối.[299] Sang đến năm 2019, con số này đã tăng lên mức 6,3%[300] - vượt xa so với các nước cùng khu vực[301] và 2020 tiếp tục tăng thêm 2,6% - lên mức 8,9%.[302]

Cũng trong năm 2020, chính phủ Hàn Quốc chi ra tổng cộng 4,81% GDP cho nghiên cứu và phát triển - con số này cao thứ 2 châu Á cũng như toàn cầu chỉ sau Israel (với 4,95%).[303]

Một chính quyền tập trung ở Hàn Quốc sẽ giám sát quá trình giáo dục trẻ em từ mẫu giáo đến năm thứ ba và năm cuối của trường trung học. Năm học được chia thành hai học kỳ, lần đầu tiên bắt đầu vào đầu tháng ba và kết thúc vào giữa tháng bảy, lần thứ hai bắt đầu vào cuối tháng tám và kết thúc vào giữa tháng hai. Lịch trình không được chuẩn hóa thống nhất và thay đổi từ trường này sang trường khác. Hầu hết các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông của Hàn Quốc đều có đồng phục học sinh, được mô phỏng theo đồng phục kiểu phương Tây. Đồng phục nam thường bao gồm quần dài và áo sơ mi trắng, còn nữ mặc váy và áo sơ mi trắng (điều này chỉ áp dụng ở trường trung học cơ sở và trung học phổ thông).

Năm 2017, thống kê có khoảng 123 nghìn sinh viên quốc tế đang theo học tại các trường Đại học của Hàn Quốc, trong số đó, hơn một nửa đến từ Trung Quốc. Cũng theo Bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ nước này, số lượng học bổng cho sinh viên nước ngoài tại Hàn Quốc sẽ tăng gấp đôi (tuỳ theo chương trình) theo từng năm và số lượng dự kiến sẽ tăng lên tới hơn 200.000 sinh viên vào năm 2023.[304]

Hàn Quốc là một trong những quốc gia hàng đầu trong OECD về kỹ năng đọc viết, toán học và khoa học với số học sinh trung bình đạt điểm 519 so với mức trung bình của OECD là 492 - đứng thứ 9 trên thế giới, xếp hạng 4 châu Á về năng lực Anh ngữ trong năm 2020 theo công bố của tổ chức giáo dục quốc tế EF[305] và là một trong những nước có lực lượng lao động với trình độ học vấn bình quân cao nhất thế giới trong OECD[306]. Hàn Quốc nổi tiếng với quan điểm "chạy đua" về giáo dục, nơi nỗi ám ảnh quốc gia về vấn đề dạy và học được gọi là cơn sốt giáo dục[307]. Tuy vậy, "nỗi ám ảnh" về học tập này về một khía cạnh khác; cũng đem lại thành quả tích cực - đã giúp cho quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên này liên tục đứng top đầu trong các bảng xếp hạng giáo dục quốc tế, trong đó, năm 2014, trong bảng xếp hạng Toán học và Khoa học của sinh viên do Tổ chức Hợp tác và Kinh tế và Phát triển (OECD) công bố, Hàn Quốc xếp thứ hai trên toàn thế giới, chỉ sau Singapore.[308]

Hàn Quốc cũng xếp thứ hai về toán học và văn học, đứng thứ nhất về giải quyết vấn đề. Mặc dù học sinh và sinh viên Hàn Quốc thường được xếp hạng cao trong các bài kiểm tra, cuộc thi kiến thức và so sánh quốc tế, tuy nhiên hệ thống giáo dục đôi khi bị lên án vì tập trung nhấn mạnh vào việc học thụ động và học thuộc lòng. Cũng giống như hệ thống giáo dục tại những quốc gia Đông Á láng giềng khác như Trung Quốc và Nhật Bản, hệ thống giáo dục, thi cử và tuyển sinh Đại học của Hàn Quốc khắt khe, khắc nghiệt, cạnh tranh và rập khuôn hơn hệ thống giáo dục ở hầu hết các nước phương Tây[309]. Đặc điểm nổi bật nhất của giáo dục Hàn Quốc là sự cạnh tranh khốc liệt. Cuộc đua đến với các trường đại học hàng đầu sớm được khởi tranh bắt đầu ngay từ lớp mẫu giáo, khi lên các cấp độ cao hơn, trường tiểu học và trung học giống như một đấu trường để tranh giành thành tích, điểm số, học sinh Hàn Quốc hiện nay học trung bình 16 tiếng/ngày - bao gồm cả việc học chính, học thêm giờ, ăn bữa tối tại trường và học tiếp luôn sang đến hết ngày thứ bảy, vẫn phải chịu một số hình phạt thể xác nếu học tập không tốt, không đạt được điểm cao[310], nhưng chỉ điểm cao hay vừa đủ đậu vẫn là không đủ, điều quan trọng là điểm của mỗi học sinh này luôn phải tốt hơn những người khác. Điểm mấu chốt của nền giáo dục Hàn Quốc là lấy thi cử làm trung tâm. Su-neung (Tu năng), tức kỳ thi tuyển sinh đại học - là cánh cửa duy nhất dẫn học sinh/thanh niên đến với sự nghiệp, tiền tài, thành công, địa vị xã hội và khả năng kết hôn trong cuộc sống. Khi Su-neung diễn ra, học sinh/thí sinh tự do thi liên tục 8 tiếng trong một ngày, cùng vào khoảng thời gian đó, phương tiện giao thông bị cấm bấm còi, hạn chế di chuyển vào những tuyến đường xung quanh địa điểm thi, các văn phòng, công sở bắt đầu vào làm muộn hơn thường nhật, lực lượng cảnh sát, y tế, cứu hỏa, bảo vệ,... túc trực toàn thời gian, sẵn sàng trợ giúp thí sinh khi xảy ra sự cố, máy bay dân sự tạm dừng cất/hạ cánh trong thời gian diễn ra phần thi nghe của môn tiếng Anh, các địa điểm tôn giáo như chùa, nhà thờ,... mở cửa nhiều ngày liền để phục vụ nhu cầu tâm linh; như cầu nguyện, cầu may mắn, bình an, thuận lợi,... cho con em mình trong kỳ thi của các bậc phụ huynh. Ngoài ra, việc thành lập các trường tư thục độc lập với học phí cao (Hagwon (학원)) cũng bị các bậc cha mẹ Hàn Quốc lên án như là một vấn đề lớn, nhức nhối của xã hội.[299]

Giáo dục đại học là một vấn đề luôn được đặt lên hàng đầu trong xã hội Hàn Quốc, nơi nó được xem là một trong những nền tảng cơ bản của cuộc sống Hàn Quốc. Giáo dục được coi là ưu tiên hàng đầu của các gia đình Hàn Quốc vì thành công trong giáo dục thường là niềm tự hào cho các gia đình và trong xã hội Hàn Quốc nói chung, và là một điều cần thiết để cải thiện vị thế kinh tế xã hội của một người trong xã hội Hàn Quốc. Người Hàn Quốc coi giáo dục là động lực chính cho sự di chuyển xã hội cho bản thân và gia đình như một cửa ngõ cho tầng lớp trung lưu. Tốt nghiệp một trường đại học hàng đầu là điểm đánh dấu cuối cùng của uy tín, tình trạng kinh tế xã hội cao, triển vọng hôn nhân đầy hứa hẹn và con đường sự nghiệp đáng nể. Lối vào một tổ chức giáo dục đại học hàng đầu dẫn đến một công việc uy tín, an toàn và được trả lương cao từ chính phủ, ngân hàng hoặc một tập đoàn lớn của Hàn Quốc như Samsung, Hyundai hoặc LG,... Một cuộc sống trung bình của trẻ em Hàn Quốc xoay quanh giáo dục vì áp lực phải thành công trong học tập đã ăn sâu vào tiềm thức chúng từ khi còn nhỏ. Với áp lực lớn đối với học sinh trung học để đảm bảo vị trí tại các trường đại học tốt nhất của quốc gia, danh tiếng tổ chức và mạng lưới cựu sinh viên của trường đó là những dự đoán mạnh mẽ về triển vọng nghề nghiệp trong tương lai. Ba trường đại học hàng đầu ở Hàn Quốc, thường được gọi là "SKY" - bao gồm Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Cao LyĐại học Yonsei. Cạnh tranh khốc liệt để đạt điểm thi cao nhất và áp lực học tập để trở thành sinh viên hàng đầu đã ăn sâu vào tâm lý của các sinh viên Hàn Quốc khi còn trẻ. Có một điều cấm kỵ lớn trong văn hóa xã hội Hàn Quốc gắn liền với những người không đạt được giáo dục đại học chính quy, nơi họ (những người không có bằng đại học) phải đối mặt với nhiều định kiến ​​xã hội nghiêm trọng và thường bị người khác coi là "công dân hạng hai", dẫn đến ít cơ hội việc làm hơn cũng như khó cải thiện vị trí kinh tế xã hội và triển vọng cho hôn nhân trong tương lai.[311]

Ý kiến ​​quốc tế về hệ thống giáo dục Hàn Quốc hiện đang gây nhiều tranh cãi. Hệ thống này đã được ca ngợi vì nhiều lý do, bao gồm kết quả kiểm tra tương đối cao và vai trò chính của nó trong việc mở ra sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc đồng thời tạo ra một trong những lực lượng lao động có tay nghề, kỹ năng làm việc và khả năng sáng tạo cao nhất trên thế giới theo các nghiên cứu và công bố của Bloomberg L.P. cùng International Innovation Index (chỉ số đổi mới toàn cầu)[312][313]. Thành tích học tập đáng gờm của Hàn Quốc thậm chí còn đã thuyết phục cả các quan chức trong ngành giáo dục Anh Quốc như Bộ trưởng Bộ giáo dục - tích cực nâng cấp, sửa đổi lại chương trình giảng dạy và các kỳ thi sát hạch của mình để cố gắng bắt kịp với tốc độ phát triển giáo dục của Hàn Quốc[313]. Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng ca ngợi hệ thống giáo dục nghiêm ngặt của đất nước này, nơi có hơn 80% học sinh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào các trường đại học[314]. Tỷ lệ tuyển sinh đại học cao của quốc gia này đã tạo ra một lực lượng lao động có tay nghề cao, biến Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia có trình độ học vấn cũng như sáng tạo cao nhất thế giới[315][316][317] với tỷ lệ cao nhất trong số các công dân có bằng giáo dục đại học. Trong năm 2017, quốc gia này đứng thứ 5 về tỷ lệ phần trăm từ 25 đến 64 tuổi đã đạt được giáo dục đại học với 47,7 phần trăm. Ngoài ra, 69,8% người Hàn Quốc ở độ tuổi 25-34 đã hoàn thành một số hình thức trình độ giáo dục đại học và bằng cử nhân được nắm giữ bởi 34,2% người Hàn Quốc ở độ tuổi 25-64 - tỷ lệ nhiều nhất, cao nhất trong OECD.[318][319]

Hàn Quốc thường tự hào vì nền công nghiệp giáo dục của mình. Nhưng rồi đất nước này lại đi hơi quá trớn với nó - với 407 trường cao đẳng và đại học được thành lập, kết quả là sinh viên tốt nghiệp quá nhiều khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Giáo dục đã trở thành một cổng tài chính làm tê liệt nền kinh tế lớn thứ 4 châu Á. Việc học thêm và luyện thi đại học gây nợ nần cho các gia đình nhiều hơn 3 phần trăm của tổng sản phẩm trong nước và tất cả chỉ để tạo ra những "thanh niên thất nghiệp tuổi 20".[58] Chính phủ đã đưa mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp cao vào danh sách các ưu tiên hàng đầu bằng cách đầu tư vào các công trình công cộng, nhưng chương trình này lại không quan tâm đến những người được đào tạo trẻ. OECD cũng kêu gọi ngành công nghiệp tham gia đóng một vai trò xây dựng, thiết thực và hiệu quả hơn trong việc đào tạo trình độ nghề vì việc quá tập trung vào nhóm sinh viên, cử nhân tốt nghiệp từ các trường đại học đang khiến cho tỷ lệ cạnh tranh việc làm tại khu vực đô thị tăng cao nhưng lại xảy ra tình trạng người lao động bỏ nghề, rời bỏ vùng nông thôn và thiếu hụt lao động trong lĩnh vực thủ công, gây ra một làn sóng công nhân nhập cư có tay nghề, kỹ năng thấp.[320]

Y tế và chăm sóc sức khỏe

Hàn Quốc thực hiện một hệ thống bảo hiểm sức khỏe trong đó một người thanh toán một số tiền phí bảo hiểm hàng tháng nhất định tùy theo mức thu nhập và tài sản của họ. Nếu tham gia bảo hiểm y tế thì khi ốm đau hoặc thai sản sẽ tiết kiệm được một khoản tiền không nhỏ (chi phí y tế, khám chữa bệnh, dịch vụ kèm theo,...), mặt khác; còn được kiểm tra sức khỏe định kỳ. Tất cả moi người đều phải tham gia bảo hiểm y tế, ngoại trừ những người hưởng trợ cấp y tế. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế được chia làm 2 nhóm là đối tượng tham gia bảo hiểm theo doanh nghiệp và đối tượng tham gia bảo hiểm theo khu vực. Tất cả công dân, người lao động, công nhân, nhân viên, công chức của doanh nghiệp và giáo viên đều được gọi là đối tượng tham gia bảo hiểm theo doanh nghiệp. Theo quy định gia nhập bảo hiểm doanh nghiệp, trong trường hợp là người duy trì đời sống chính trong gia đình và có đầy đủ điều kiện thu nhập và diều kiện phụng dưỡng phù hợp với quy định được ghi trong quy tắc thi hành luật bảo hiểm sức khỏe thì sẽ có thể đăng ký vào bảo hiểm doanh nghiệp bảo trợ người thân. Trong trường hợp có thu nhập riêng ngoài phần tiền lương hơn 34.000.000 Won trên 1 năm, thì sau khi trừ 34 triệu từ tổng thu nhập ra thì bản thân phải chi trả toàn bộ 100% tỷ lệ phí bảo hiểm được áp dụng.

Người tham gia bảo hiểm sức khỏe khi nhận sự trị liệu tại bệnh viện, thì một phần trong lệ phí trị liệu sẽ do Công đoàn bảo hiểm sức khỏe quốc dân chi trả, nên có thể nhận trị liệu hoặc khám bệnh với chi phí thấp tại bệnh viện hoặc các phòng khám đông y. Nhưng, cá nhân sẽ phải chi trả một phần lệ phí của việc khám, trị liệu đó. Ngoài ra còn nhận được sự ưu đãi của việc khám kiểm tra sức khỏe. Tùy theo độ tuổi mà có sự khác nhau trong việc khám kiểm tra sức khỏe, nhưng bình thường thì cứ mỗi 2 năm là sẽ được nhận một lần.

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Quốc gia Hàn Quốc (viết tắt: KDCA hoặc KCDC), được biết đến với sự thành công trong việc dẫn dắt Hàn Quốc vượt qua các đợt bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm như SARS (2002), MERS (2012) và COVID-19 là cơ quan y tế nổi tiếng nhất tại đất nước này, lãnh đạo đương nhiệm của KCDC hiện nay là tiến sĩ y khoa Jung Eun-kyeong[321][322][323], người được tạp chí TIME (Mỹ) vinh danh trong Danh sách 100 người có sức ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu năm 2020 vào tháng 9 cùng năm.[324]

Kinh tế

Tương tự phần lớn các quốc gia trên thế giới ngày nay, chính phủ Hàn Quốc định hướng xây dựng ngay từ đầu một nền kinh tế thị trường kiểu tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế của quốc gia này bao gồm một loạt các đặc điểm nổi bật như: hỗn hợp, cạnh tranh, tự do cao, ít có sự can thiệp của chính phủ và phát triển cao.[325][326] Hiện nay, Hàn Quốc đã được xếp vào nhóm những quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới. Cùng với các nền kinh tế của Hoa Kỳ, Tây Âu, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan hay Singapore,... Nền kinh tế Hàn Quốc thường được các nhà kinh tế học như Milton Friedmanviện Cato (Hoa Kỳ) xem như là một ví dụ tiêu biểu về lợi ích của chủ nghĩa tư bản tự vận hành.

Đầu những năm 1950, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với các nước nghèo ở châu Phi và châu Á thì tới năm 2018, con số này đã xếp thứ 11 trên toàn cầu. Năm 2005, GDP danh nghĩa của Hàn Quốc được ước tính đạt khoảng ~ 800 tỷ USD, GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) đạt khoảng 1.100 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người tính theo GDP danh nghĩa và theo sức mua tương đương lần lượt là 16.270 USD và 22.620 USD (lần lượt xếp hạng 33 và 34 thế giới khi ấy).

Kinh tế Hàn Quốc là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới từ đầu những năm 1960 cho đến cuối những năm 1990 và vẫn tiếp tục tăng trưởng đều đặn trong thập niên 2000. Với quy mô, chỉ số kinh tế liên tục thăng hạng kết hợp các ngành công nghiệp nặng - chế tạo tiên tiến, Hàn Quốc cùng với các quốc gia Singapore, Đài Loan và Đặc khu hành chính Hồng Kông được gọi với biệt danh "4 con Rồng kinh tế châu Á".[327]

Năm 1997, như nhiều nước châu Á khác, Hàn Quốc bị khủng hoảng kinh tế nặng nề. Để tháo gỡ khó khăn, chính phủ Hàn Quốc đã phải chấp nhận vay khẩn cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) 57 tỷ USD với những điều kiện ngặt nghèo như: tiến hành cải cách mạnh mẽ, xây dựng nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, giảm bớt quyền lực của các nhà tài phiệt nắm giữ các tập đoàn lớn, coi trọng các công ty vừa và nhỏ, giảm sự can thiệp của nhà nước, chống câu kết chính trị - kinh doanh. Mặt khác, chính phủ đã áp dụng nghiêm ngặt chính sách thắt lưng buộc bụng kết hợp huy động quốc dân quyên góp tiền vàng ủng hộ chính phủ. Kết quả là Hàn Quốc đã thành công trong việc khắc phục khủng hoảng trong thời gian 3 năm (1998-2000), trả xong nợ cho IMF. Dự trữ ngoại hối đạt 133 tỷ USD (tháng 7/2003).

Hàn Quốc tiếp tục duy trì được mức độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong khoảng thời gian sau đó, đạt mức 6,2% trong năm 2010[328], tuy vậy đến năm 2016 đã tụt xuống chỉ còn hơn 2,6%. Năm 2019, Hàn Quốc là quốc gia đứng thứ 7 thế giới về kim ngạch xuất khẩu[329], hạng 9 về nhập khẩu[330]. Cùng năm 2019, Hàn Quốc đứng thứ 20 toàn cầu trong bảng xếp hạng về chỉ số thương hiệu quốc gia công bố bởi Future Brand[331]. Cũng trong năm đó, theo công bố, đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (World Economic Forum), Hàn Quốc xếp hạng 4 châu Á sau Singapore, Hồng Kông và Nhật Bản, đứng thứ 13 thế giới trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu[332]. Năm 2020, Brand Finance - đơn vị chuyên định giá thương hiệu và tư vấn chiến lược độc lập hàng đầu Vương quốc Anh công bố báo cáo về thương hiệu quốc gia, theo đó, tổng giá trị của các thương hiệu Hàn Quốc xếp thứ 4 châu Á sau Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, đồng thời đứng thứ 10 toàn cầu.[30] Về chỉ số tự do kinh tế, Hàn Quốc xếp thứ 6 châu Á, hạng 25 thế giới.[333]

Từ những năm 1970, nhiều công ty, tập đoàn lớn của Hàn Quốc bắt đầu xâm nhập và tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên thị trường thế giới, biến quốc gia này trở thành một thực thể thương mại quốc tế quan trọng. Những tập đoàn Tài phiệt khổng lồ (Chaebol - 재벌), do các gia tộc kỹ nghệ đại tư bản (kế thừa và phát triển trực tiếp theo mô hình từ Zaibatsu hay Keiretsu - các tài phiệt Nhật Bản) điều hành, kiểm soát, nắm trong tay quyền lực và khả năng chi phối nền kinh tế Hàn Quốc qua nhiều thế hệ có thể kể tới như Samsung, Hyundai, Kia, LG, Lotte, CJ, SK, Shinsegae hay Daewoo. Những quốc gia đang phát triển như Việt Nam mặc dù được đầu tư lớn nhưng trên thực tế mới chỉ được làm quen, tiếp cận với một vài lĩnh vực của các tập đoàn này. Ví dụ như ở Hàn Quốc, ngoài lĩnh vực chính là công nghệ, Samsung cũng rất năng động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chế tạo máy, thương mại điện tử và bất động sản. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á năm 1997, nhiều chi nhánh của các tập đoàn này ở nước ngoài đã bị đóng cửa. Một ví dụ điển hình là Daewoo - Chaebol từng một thời có quy mô và tầm ảnh hưởng lớn mạnh bậc nhất đối với nền kinh tế xứ Hàn đã sụp đổ, phải tái cơ cấu và buộc phải bán bộ phận sản xuất xe hơi cho tập đoàn General Motors của Mỹ (tạo nên hãng xe hơi nội địa GM Daewoo như hiện nay)[334]. Ngoài những cái tên quen thuộc, phổ biến kể trên, Hàn Quốc còn là quê hương của một số thương hiệu nổi tiếng trên thế giới khác, có thể kể đến như: KT (viễn thông), Pantech (điện tử tiêu dùng), SsangYong, Renault-Samsung Motors, Genesis (xe hơi), Hanwha (bảo hiểm - tài chính), Posco (thép), Doosan, Kumho Asiana, Hyosung (công nghiệp), Hanjin (vận tải), Hansol (hóa chất - công nghệ sinh học), GS (năng lượng), Tous les Jours, Nongshim (thực phẩm), Shinhan, Woori (ngân hàng), Coupang[335] (thương mại điện tử), CGV (điện ảnh, kinh doanh cụm rạp chiếu phim và các dịch vụ giải trí),...

Năm 2020, Hàn Quốc với hơn 51 triệu dân[16] và xấp xỉ 1,6 nghìn tỷ USD (danh nghĩa) hoặc 2,3 nghìn tỷ USD (sức mua) hiện đang là nền kinh tế có quy mô lớn thứ 4 ở châu Á (nếu tính ngang theo giá trị đô la Mỹ), sau nền kinh tế của các quốc gia Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ hoặc thứ 5 (nếu tính theo dân số đi kèm sức mua), sau Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Indonesia[26]. Lớn thứ 10 trên thế giới (theo IMF) (trên Nga và dưới Canada)[27] hoặc xếp hạng 9 (trên Canada và dưới Ý) (theo OECD)[336][337][338][339] tính theo GDP danh nghĩa[26][339], xếp hạng 14 toàn cầu nếu xét theo sức mua tương đương[340], hạng 13 trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu năm 2019[341]. Thu nhập bình quân đầu người đạt mức 30,644 USD/người theo danh nghĩa[342] hoặc 44,292 USD/người theo sức mua[343], lần lượt xếp hạng 26[342] và 24 thế giới[343]. Nền kinh tế quốc dân chủ yếu dựa vào xuất khẩu, tập trung vào các ngành mũi nhọn như: công nghiệp nặng, điện tử tiêu dùng, xe hơi, vận tải biển (đóng tàu), sản xuất máy móc tự động hóa, hóa dầu, Robot, viễn thông, dược phẩm, thiết bị quân sự, năng lượng, luyện kim,... Ngoài ra, Hàn Quốc cũng là quốc gia phát triển, đi tiên phong trong các ngành dịch vụ, du lịch, nghệ thuật, thời trang và giải trí. Cùng với Làn sóng Hàn Lưu (Hallyu), Hàn Quốc là một trong những thị trường luôn dẫn đầu trong việc sáng tạo ra xu hướng mới cho các ngành ẩm thực, điện ảnh, thời trang, làm đẹp, mỹ phẩm,...[344]

Du lịch

 
Bãi biển Haeundae ở thành phố cảng Busan

Hàn Quốc là nơi có nhiều khu du lịch với cảnh đẹp và văn hóa đặc sắc, giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Thủ đô Seoul có nhiều cung điện hoàng gia cổ được xây dựng từ thời Joseon. Ngoài ra, những trung tâm thương mại lớn như Lotte World, các chợ Dongdaemun, Gwangjang, Noryangjin, Gyeongdong, NamdaemunJagalchi,... luôn nhộn nhịp, du khách tới đây có thể dễ dàng tìm mua đủ các loại thực phẩm, hàng hóa theo nhu cầu. Ngoài Seoul, Hàn Quốc còn có các điểm du lịch nổi tiếng như đảo Nami, đảo Jeju, núi Namsan, khu phi quân sự Triều Tiên, công viên Everland, Myeong-dong, Incheon, Busan, Gyeongju, Gangwon, Yongin hay Jeonju.

Trong năm 2016, Hàn Quốc đã đón tổng cộng trên 17 triệu lượt khách du lịch tới từ nước ngoài[357], trong đó có 167.143 tới từ Việt Nam, xếp thứ 9 trong số tất cả các quốc gia. Với triển vọng du lịch đang gia tăng, đặc biệt là từ các nước ngoài ngoài châu Á, chính phủ Hàn Quốc đã đặt mục tiêu thu hút 20 triệu khách du lịch nước ngoài mỗi năm vào năm 2017. Trong số các nước Đông Á, Trung Quốc là quốc gia đem lại nguồn thu lợi nhuận tốt nhất, Hàn Quốc đã đầu tư 1,4 tỷ USD vào thị trường nước láng giềng - với phần số vốn được rót vào lĩnh vực dịch vụ, tăng gấp 7 lần so với năm 2001 - nhằm mục tiêu đón tiếp nhiều du khách Trung Quốc ghé thăm hơn nữa trong tương lai.

Viện nghiên cứu Hyundai (Hyundai Research Institute) cũng báo cáo rằng Làn sóng Hàn Quốc có tác động trực tiếp trong việc khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ngược trở lại nước này thông qua nhu cầu lớn về sản phẩm và chất lượng dịch vụ du lịch, đặc biệt là từ Trung Quốc và Nhật Bản.

Ngành du lịch Hàn Quốc được phát triển, quảng bá và thúc đẩy bởi nhiều yếu tố, như các chiến dịch truyền thông đại chúng, sự phổ biến của nhạc K-pop cùng điện ảnh - đặc biệt là tại các khu vực Đông Á, Đông Nam Á, ngoài ra còn có những thế mạnh tự nhiên trong văn hóa truyền thống, ẩm thực và cảnh quan môi trường tự nhiên.

Một số địa điểm du lịch, tham quan nổi tiếng:

Truyền thông

 
KBS - đài phát thanh quốc gia
   
EBS
Đài phát thanh
giáo dục
Chosun Ilbo
Cơ quan báo chí
lớn, lâu đời nhất

Các phương tiện truyền thông cơ bản của Hàn Quốc bao gồm có báo chí, truyền hình, đài phát thanh và Internet. Báo chí ở Hàn Quốc bắt đầu xuất hiện khi đất nước mở cửa giao thương với nước ngoài vào thế kỷ XIX và phát triển kể từ đó. Các tờ báo lớn bao gồm: Chosun Ilbo, JoongAng IlboDong-A Ilbo. Tất cả những tờ báo này đều được xuất bản bằng tiếng Hàn, những báo có thêm phiên bản tiếng Anh bao gồm: The Korea Herald, The Korea TimesJoonAng Daily.[358]

Giống như báo chí, phần lớn các chương trình phát thanh cũng được phát bằng tiếng Hàn bên cạnh một số nhà đài cung cấp thêm những chương trình hoàn toàn bằng tiếng Anh.[359]

Hệ thống chương trình truyền hình ở Hàn Quốc cũng được phát sóng phần lớn bằng tiếng Hàn, các nội dung nước ngoài thì được lồng tiếng. Những kênh truyền hình lớn nhất của Hàn Quốc bao gồm có: KBS, MBC, EBS, SBS, Mnet, JTBCtvN. Ngoài ra còn có các kênh phát sóng chương trình độc quyền bằng tiếng Anh chẳng hạn như Arirang TV.[360]

Internet là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người Hàn Quốc, trung bình cứ 10 hộ gia đình thì có tới 9 hộ có dịch vụ Internet. Đây là một trong những quốc gia có số lượng thuê bao đăng ký sử dụng Internet trên đầu người lớn nhất, số lượng công ty cung cấp dịch vụ Internet trên đầu người lớn nhất cùng tốc độ kết nối thuộc nhóm nhanh nhất trên thế giới[33][34]. Hàn Quốc cũng là một trong những nước dẫn đầu về công nghệ DMB.[361]

Giao thông

Chính phủ và người dân Hàn Quốc qua nhiều năm đã xây dựng và hoàn thiện thành công một mạng lưới giao thông tiên tiến, quy củ, tinh vi và hiện đại bao gồm có các tuyến đường sắt cao tốc, đường bộ cao tốc, xe buýt, dịch vụ phà và các tuyến đường hàng không trải dài khắp đất nước, 91% các tuyến đường bộ tại Hàn Quốc được trải nhựa, trong khi tỷ lệ này của Bắc Triều Tiên chỉ là 6%.[362]

Hệ thống tàu điện cao tốc tại Hàn Quốc là một trong những mạng lưới đường sắt cao tốc nhanh, đúng giờ và có mật độ phân bố dày đặc nhất trên thế giới[363][364]. Korea Expressway Corporation là tập đoàn vận hành hệ thống đường cao tốc thu phí và các tiện nghi dịch vụ trên đường. Korail điều hành hệ thống đường sắt tại tất cả các thành phố lớn của Hàn Quốc. Hai tuyến đường sắt là Tuyến Gyeong-ui và Tuyến DongHae-Bukbu đi đến biên giới với Bắc Triều Tiên hiện đang được kết nối lại. Hệ thống đường sắt cao tốc của Hàn Quốc - KTX, cung cấp dịch vụ đường sắt tốc độ cao dọc theo các tuyến Gyeongbu và Honam. Cả sáu thành phố lớn nhất của Hàn Quốc - Seoul, Busan, Daegu, Gwangju, Daejeon và Incheon,... đều có hệ thống tàu điện ngầm. Hệ thống xe buýt tốc độ cao cũng có mặt ở hầu hết các thành phố trên cả nước.[365]

Sân bay lớn nhất của Hàn Quốc là Sân bay quốc tế Incheon, phục vụ trên 60 triệu hành khách trong năm 2016[366]. Các sân bay quốc tế khác bao gồm có: Gimpo, GimhaeJeju. Ngoài ra còn có nhiều sân bay khác được hình thành như một phần của sự bùng nổ xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng chưa được tận dụng hết mức. Ở Hàn Quốc, phần lớn trên nóc các tòa nhà cao tầng đều có bãi đậu trực thăng. Hãng hàng không quốc gia cũng như lớn nhất - Korean Air (Korean Airlines) đã phục vụ tổng cộng hơn 30 triệu hành khách, trong đó bao gồm gần 20 triệu hành khách quốc tế trong năm 2016[367]. Hãng hàng không lớn thứ hai, Asiana Airlines cũng phục vụ các chuyến bay trong nước và quốc tế. Kết hợp lại, các hãng hàng không Hàn Quốc phục vụ gần 300 tuyến quốc tế. Các hãng hàng không có quy mô nhỏ hơn, chẳng hạn như Jeju Air, thì cung cấp dịch vụ bay nội địa với giá vé thấp hơn.[368] Hàn Quốc cùng với Korean Air là một thành viên tham gia sáng lập của Liên minh Hàng không quốc tế SkyTeam.[369]

Sân bay quốc tế Incheon và Korean Air là hai đơn vị đầu tàu của ngành hàng không Hàn Quốc, thường xuyên được vinh danh, xếp hạng cao cũng như lọt top những sân bay và hãng hàng không tốt nhất trên thế giới.[370][371][372][373]

Khoa học và công nghệ

Thời kỳ cổ đại

 
Tàu con rùa
 
Hỏa xa

Nền khoa học và công nghệ Triều Tiên cổ đại đã phát minh ra kỹ thuật in ấn dùng kim loại, đồng hồ tự gõ, máy đo lượng nước mưa đầu tiên và tàu chiến bọc chông sắt. Ngoài ra, một trong những hiện vật nổi tiếng khác là Chiêm tinh đài (첨성대 - một đài quan sát cao 9,4 mét được xây dựng vào khoảng năm 634).

Mẫu bản in khắc gỗ cổ xưa nhất còn sót lại là bộ Kinh Đại bi tâm Đà la ni Mô cấu tinh quang đại, bản mẫu này được tin rằng đã được in tại Hàn Quốc vào khoảng những năm 750-751, nếu đúng như vậy thì bản in này còn nhiều tuổi hơn cả Kim Cương kinh.[374] Bát vạn Đại tạng kinh là tập hợp các bản khắc kinh Phật Hán văn với khoảng trên 81.000 khối gỗ được in dưới thời vua Cao Ly Cao Tông vào thế kỷ 13, đây là phiên bản Đại tạng kinh được bảo tồn nguyên vẹn và đầy đủ nhất về giáo quy bằng chữ Hán của thế giới.[375] Tơ Cao Ly được người phương Tây đánh giá rất cao và đồ gốm sứ Hàn Quốc cũng được săn đón, sưu tầm, gốm Cao Ly, đặc biệt là loại làm bằng gốm men ngọc, có màu xanh dương hoặc xanh lá là những loại gốm có chất lượng cao nhất và luôn được các thương gia Ả Rập săn lùng. Trong thời kỳ hoàng kim, Cao Ly sở hữu một nền kinh tế thị trường với thủ đô Kaesong thường xuyên được các thương gia từ khắp nơi trên thế giới tấp nập ghé qua.

Trong thời kỳ của Nhà Triều Tiên, những Quy bối thuyền (thuyền mai rùa - sử dụng sàn gỗ và bọc gai sắt) đã được phát minh, cùng các loại vũ khí độc đáo khác như Phi kích thần thiên lôi (비격진천뢰) và Hỏa xa (Hwacha).[376][377][378] Những vũ khí này về sau được vị danh tướng huyền thoại Lý Thuấn Thần sử dụng trong các cuộc kháng chiến của quân dân Triều Tiên chống lại quân xâm lược nhà Kim (Trung Quốc) và Nhật Bản.

Bảng chữ cái Hangul của Hàn Quốc cũng được vua Triều Tiên Thế Tông phát minh trong thời gian này.

Thời kỳ hiện đại

Khái quát

Hàn Quốc hiện nay đang là một trong những quốc gia dẫn đầu thế giới trong nhiều ngành khoa học ứng dụng, điện tử, công nghệ[379][380][381] và là quốc gia sáng tạo nhất trên thế giới năm 2021[382][383][384]. Kể từ sau khi nền kinh tế của đất nước này được công nghiệp hóa, nhiều tập đoàn công nghiệp nặng - công nghệ cao đã lần lượt ra đời, giữ vị trí quan trọng, không thể thay thế trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. Samsung Electronics, SK Hynix là những công ty sản xuất hàng điện tử, máy tính, điện thoại di động, chất bán dẫn, chip nhớ, hóa chất, vi mạch, CPU,... hàng đầu thế giới trong nhiều năm[385][386][387], LG Electronics là nhà sản xuất thiết bị gia dụng hàng đầu thế giới tính theo doanh thu năm 2021[388], liên minh Hyundai - Kia lần lượt là các nhà sản xuất xe hơi có giá trị thương hiệu lớn thứ 5 và 13 toàn cầu trong năm 2020[389] - là hạt nhân chính thúc đẩy, biến Hàn Quốc trở thành một trong những cường quốc về sản xuất và xuất khẩu ô tô trên thế giới[390][391], ngoài ra, liên minh này cùng với thương hiệu hạng sang Genesis đồng thời cũng được đánh giá cao về chất lượng sản phẩm tại những thị trường khó tính như Đức[392] hay Hoa Kỳ[393]. Samsung C&T là công ty xây dựng đa quốc gia hàng đầu trên thế giới - đơn vị đã xây dựng nên các công trình nhân tạo cao nhất hiện nay như tháp đôi Petronas Twin TowersMerdeka 118 ở thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia (các tòa tháp cao nhất hiện nay và trong tương lai gần của Malaysia), Đài Bắc 101 ở thủ đô Đài Bắc, Đài Loan (tòa nhà cao nhất tại Đài Loan nói riêng và trên thế giới nói chung trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến 2010) và đặc biệt là Burj KhalifaDubai, thành phố lớn nhất của UAE - công trình nhân tạo cao nhất trong lịch sử thế giới từng được xây dựng, cùng nhiều công trình tiêu biểu, quan trọng khác trên toàn cầu.

Năm 2010, khoảng trên 90% người Hàn Quốc sở hữu ít nhất một chiếc điện thoại di động[394]. Hàn Quốc là nước có tốc độ đường truyền kết nối mạng Internet nhanh nhất trên thế giới, với tốc độ tải xuống trung bình là 25,3 Mbit/s.[395] Năm 2018, Hàn Quốc đã chính thức trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thành công trong việc phổ cập và thương mại hóa thế hệ mạng di động thứ 5 (5G)[396][397][398] thông qua các nhà mạng viễn thông lớn như SK Telecom, KT Corporation, LG Uplus, SOFTBANK Korea Co., Ltd., Samsung Telecommunications,... Ngoài ra, không chỉ tiến hành thương mại hóa sớm nhất[399][400], Hàn Quốc còn dẫn đầu thế giới về công nghệ 5G.[401][402][403]

Ngoài công nghệ viễn thông, Hàn Quốc còn là một quốc gia mạnh về lập trình, thiết kế trò chơi điện tử trực tuyến, độc lập cũng như di động. Một số tựa game nổi tiếng được phát triển bởi người Hàn có thể kể đến như: PUBG, Play Together, Sudden Attack, CrossFire, FIFA Online, Blade & Soul, MU Online, hay Counter-Strike,...

Hàn Quốc là quốc gia thứ 22 trong lịch sử thế giới có vệ tinh nội địa được phóng thành công vào quỹ đạo không gian vũ trụ, với KITSAT-1 trong năm 1992.

Năm 2020, Hàn Quốc là quốc gia được xếp hạng 14 thế giới, thứ 2 châu Á (chỉ sau Singapore) trong chỉ số sẵn sàng kết nối mạng (NRI - một chỉ số để xác định mức độ phát triển công nghệ thông tin và truyền thông của một quốc gia) công bố bởi Diễn đàn kinh tế thế giới.[404] Đất nước này cũng đồng thời đứng hạng 2 thế giới sau Israel trong top 5 quốc gia chi nhiều phần trăm ngân sách trên tổng GDP nhất cho các hoạt động nghiên cứu & phát triển cùng với Nhật Bản, Thụy Sĩ và Thụy Điển.[303]

Công nghệ vũ trụ

Danh sách các vệ tinh:[406][407][408]

Vệ tinh Loại Trang bị Quỹ đạo Hoạt động Trạng thái
KOMPSAT 1 (Arirang 1) Quan sát trái đất EO SSO
1999-2008
Nghỉ hưu
KOMPSAT 2 (Arirang 2) Quan sát trái đất EO SSO
2006-2015
Nghỉ hưu
KOMPSAT 3 (Arirang 3) Quan sát trái đất EO SSO
2012-
Hoạt động
KOMPSAT 3A (Arirang 3A) Quan sát trái đất EO/IR SSO
2015-
Hoạt động
KOMPSAT 5 (Arirang 5) Quan sát trái đất SAR SSO
2013-
Hoạt động
KOMPSAT 6 (Arirang 6) Quan sát trái đất SAR SSO
2022
Dự kiến
KOMPSAT 7 (Arirang 7) Quan sát trái đất EO/IR SSO
2022
Dự kiến
KOMPSAT 7A (Arirang 7A) Quan sát trái đất EO/IR SSO
2024
Dự kiến
CAS 500-1 (Compact Advanced Satellite 500) Quan sát trái đất EO SSO
2021-
Hoạt động
CAS 500-2 (Compact Advanced Satellite 500) Quan sát trái đất EO SSO
2022
Dự kiến
GEO-KOMPSAT 1 (COMS 1, Cheollian 1) Khí tượng học Máy chụp ảnh Meteo, máy ảnh màu đại dương, bộ phát đáp băng tần S-/L, bộ phát đáp băng tần Ka GEO
2010-
Hoạt động
GEO-KOMPSAT 2A (GK 2A, Cheollian 2A) Khí tượng học AMI (máy chụp ảnh khí tượng nâng cao) và KSEM (thiết bị giám sát môi trường không gian Hàn Quốc) GEO
2018-
Hoạt động
GEO-KOMPSAT 2B (GK 2B, Cheollian 2B) Khí tượng học GOCI-II (máy ảnh màu đại dương địa tĩnh-II) và GEMS (cảm biến giám sát môi trường) GEO
2020-
Hoạt động
KPLO (Korea Pathfinder Lunar Orbiter) Quan sát Mặt Trăng LUTI, PolCam, KMAG, KGRS, DTNPL, ShadowCam LO
2022
Dự kiến

Công nghệ hạt nhân

 
 
Hanbit
 
Hanul
 
Shin Hanul
 
Kori
 
Shin Kori
 
Wolseong
 
Shin Wolseong
 
Cheonji
Bản đồ các nhà máy điện hạt nhân ở Hàn Quốc
  •   Đang hoạt động
  •   Đang xây dựng
  •   Hủy bỏ

Hàn Quốc là một trong những nhà sản xuất điện hạt nhân lớn nhất trên thế giới trong năm 2020.[409] Năng lượng hạt nhân ở Hàn Quốc cung cấp tới 45% sản lượng điện và nước này hiện đang rất tích cực nghiên cứu, nâng cấp nhiều loại lò phản ứng tiên tiến, bao gồm các lò phản ứng mô-đun nhỏ, lò phản ứng nhanh/biến đổi kim loại lỏng và thiết kế sản xuất Hydro ở nhiệt độ cao. Sản xuất nhiên liệu và công nghệ xử lý chất thải hạt nhân cũng được phát triển kèm theo. Quốc gia này là một thành viên của dự án ITER.[410]

Hàn Quốc là nhà xuất khẩu lò phản ứng hạt nhân mới nổi, nước này đã ký kết thỏa thuận với UAE để xây dựng và duy trì bốn lò phản ứng hạt nhân tiên tiến[411], với Jordan cho một lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu[412][413] và với Argentina để xây dựng và sửa chữa những lò phản ứng hạt nhân nước nặng. Kể từ năm 2010, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu đàm phán về việc xây dựng hai lò phản ứng hạt nhân[414][415][416]. Hàn Quốc cũng đang chuẩn bị đấu thầu để xây dựng lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ cho Argentina.[416]

Hàn Quốc không được phép tự mình làm giàu Uranium hoặc tự mình phát triển công nghệ làm giàu Uranium truyền thống - vì các quy định của luật pháp quốc tế cũng như áp lực chính trị từ phía đồng minh Hoa Kỳ[417], không giống như hầu hết các cường quốc hạt nhân lớn như Nhật Bản, Đức và Pháp, đối thủ của Hàn Quốc trên thị trường hạt nhân quốc tế. Sự cản trở này đối với sự cam kết về nền công nghiệp hạt nhân bản địa của Hàn Quốc đã gây ra các mâu thuẫn ngoại giao thường xuyên giữa hai đồng minh. Mặc dù Hàn Quốc đã thành công trong việc xuất khẩu công nghệ hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân sản xuất điện, nhưng lại không thể tận dụng thị trường cho các cơ sở và nhà máy lọc dầu để làm giàu Urani, những hạn chế đó đã ngăn cản không cho nước này mở rộng thị trường xuất khẩu, tuy vậy, Hàn Quốc đã tìm kiếm các công nghệ độc đáo như xử lý Pyrotin để vượt qua những trở ngại này và đồng thời tìm kiếm một cuộc cạnh tranh có lợi hơn[418]. Hoa Kỳ gần đây cũng đã bắt đầu cảnh giác với chương trình hạt nhân đang âm thầm phát triển của Hàn Quốc, hành động mà Hàn Quốc khẳng định sẽ chỉ dành cho các mục đích thương mại và dân sự.

Tòa án Tối cao Hàn Quốc đã tiến hành bắt giữ và truy tố hơn 100 người, trong đó có một cựu quan chức nhà nước hàng đầu trong vụ tham nhũng trong một vụ bê bối trên xác nhận an toàn giả mạo cho các bộ phận trong lò phản ứng hạt nhân của mình. Nền kinh tế lớn thứ tư của châu Á đã phải từng phải ngừng hoạt động một loạt các lò phản ứng hạt nhân do các tài liệu giả mạo vào cuối năm 2012. Ngành công nghiệp hạt nhân của Hàn Quốc đã bị chỉ trích vì hoạt động của nó diễn ra rất bí ẩn, dẫn đến nạn tham nhũng của các quan chức liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận an toàn. Do các nhà máy hạt nhân này sản xuất một phần ba lượng điện năng của Hàn Quốc nên các quan chức cho biết họ sẽ chỉ kiểm tra và thay thế các bộ phận, chứ không phải là loại bỏ dần chúng.[419] Tuy nhiên, Hàn Quốc vẫn là quốc gia sản xuất điện hạt nhân đứng thứ 5 trên thế giới tính đến năm 2010.[420]

Hàn Quốc là một trong số ít các quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu, tiến hành xây dựng và vận hành thành công lò phản ứng nhiệt hạch - hay còn được giới khoa học gọi với biệt danh "Mặt Trời nhân tạo".[421][422] Ngoài ra, công trình này còn xác lập kỷ lục thế giới mới khi thành công trong việc duy trì Plasma ở nhiệt độ cao trong hơn 20 giây với nhiệt độ ion lên tới trên 100 triệu độ C.[421][422]

Dưới đây là danh sách chi tiết hệ thống các nhà máy điện hạt nhân ở Hàn Quốc cùng kế hoạch phát triển, mở rộng, nâng cao công suất trong tương lai:[423]

Tên Số Lò phản ứng Trạng thái Công suất tính bằng MW Khởi công xây dựng Hoạt động thương mại Hoạt động khép kín
Loại Kiểu Nhận Tổng
Hanbit 1 PWR Westinghouse F Hoạt động 960 996 4 tháng 6 năm 1981 25 tháng 8 năm 1986
2 PWR WH F Hoạt động 958 993 10 tháng 12 năm 1981 10 tháng 6 năm 1987
3 PWR OPR-1000 Hoạt động 997 1050 23 tháng 12 năm 1989 31 tháng 3 năm 1995
4 PWR OPR-1000 Hoạt động 997 1049 26 tháng 5 năm 1990 1 tháng 1 năm 1996
5 PWR OPR-1000 Hoạt động 997 1053 29 tháng 6 năm 1997 21 tháng 5 năm 2002
6 PWR OPR-1000 Hoạt động 995 1052 20 tháng 11 năm 1997 24 tháng 12 năm 2002
Hanul 1 PWR France CPI Hoạt động 960 1003 26 tháng 1 năm 1983 10 tháng 9 năm 1988
2 PWR France CPI Hoạt động 962 1008 5 tháng 7 năm 1983 30 tháng 9 năm 1989
3 PWR OPR-1000 Hoạt động 994 1050 21 tháng 7 năm 1993 11 tháng 8 năm 1998
4 PWR OPR-1000 Hoạt động 998 1053 1 tháng 11 năm 1993 31 tháng 12 năm 1999
5 PWR OPR-1000 Hoạt động 996 1051 1 tháng 10 năm 1999 29 tháng 7 năm 2004
6 PWR OPR-1000 Hoạt động 996 1051 29 tháng 9 năm 2000 22 tháng 4 năm 2005
Shin-Hanul 1 PWR APR-1400 Đang xây dựng 1340 1400 10 tháng 7 năm 2012
2 PWR APR-1400 Đang xây dựng 1340 1400 19 tháng 7 năm 2012
Kori 1 PWR WH 60 Đóng cửa 576 608 27 tháng 4 năm 1972 29 tháng 4 năm 1978 18 tháng 6 năm 2017
2 PWR WH F Hoạt động 640 681 4 tháng 12 năm 1977 25 tháng 7 năm 1983
3 PWR WH F Hoạt động 1011 1044 1 tháng 10 năm 1979 30 tháng 9 năm 1985
4 PWR WH F Hoạt động 1012 1044 1 tháng 4 năm 1980 29 tháng 4 năm 1986
Shin-Kori 1 PWR OPR-1000 Hoạt động 996 1046 16 tháng 6 năm 2006 28 tháng 2 năm 2011
2 PWR OPR-1000 Hoạt động 996 1047 5 tháng 6 năm 2007 20 tháng 7 năm 2012
3 PWR APR-1400 Hoạt động 1416 1486 16 tháng 10 năm 2008 15 tháng 1 năm 2016
4 PWR APR-1400 Hoạt động 1418 1455 19 tháng 8 năm 2009 29 tháng 8 năm 2019[424]
5 PWR APR-1400 Đang xây dựng 1340 1400 1 tháng 4 năm 2017
6 PWR APR-1400 Đang xây dựng 1340 1400 20 tháng 9 năm 2018
Wolsong 1 PHWR CANDU-6 Đóng cửa 657 687 30 tháng 10 năm 1977 22 tháng 4 năm 1983 24 tháng 12 năm 2019
2 PHWR CANDU-6 Hoạt động 655 678 22 tháng 6 năm 1992 1 tháng 7 năm 1997
3 PHWR CANDU-6 Hoạt động 684 698 17 tháng 3 năm 1994 1 tháng 7 năm 1998
4 PHWR CANDU-6 Hoạt động 688 703 22 tháng 7 năm 1994 1 tháng 10 năm 1999
Shin-Wolsong 1 PWR OPR-1000 Hoạt động 991 1043 20 tháng 11 năm 2007 31 tháng 7 năm 2012
2 PWR OPR-1000 Hoạt động 960 1000 23 tháng 9 năm 2008 26 tháng 2 năm 2015

Công suất dự kiến:

Lò phản ứng Thành phố tỉnh Công nghệ sơ cấp Công suất hiện tại (MWe) Công suất dự kiến ​​(MWe)
Kori Gijang Busan PWR 6040 7937
Hanul (tên cũ: Ulchin) Uljin Gyeongbuk PWR 5900 8700
Wolsong Gyeongju Gyeongbuk PHWR/PWR 2779 4779
Hanbit (tên cũ: Yeonggwang) Yeonggwang Jeonnam PWR 5900 5900
Cheonji (hủy bỏ - giữ nguyên) Yeongdeok Gyeongbuk PWR 3000 3000

Văn hóa

Khái quát

   
Sir Peter Paul Rubens
Người châu Âu đầu tiên
giới thiệu văn hóa
Joseon đến với phương Tây
Triều Tiên Thế Tông
Người đưa văn hóa
Joseon lên đỉnh cao
 
Trang phục thời Joseon
 
Văn hóa thứ bậc khi uống rượu luôn được người Hàn Quốc đặc biệt coi trọng.

Trong thời kỳ phong kiến chuyên chế, đặc biệt là nhà Triều Tiên, văn hóa Triều Tiên đạt đến đỉnh cao dưới thời Triều Tiên Thế Tông (vua Sejong). Sau này, dưới sự cai trị của Đế quốc Nhật Bản, văn hóa Hàn Quốc cận đại chịu ảnh hưởng lớn từ nước láng giềng. Bước sang thời kỳ hiện đại, Hàn Quốc chia sẻ văn hóa truyền thống của mình với Bắc Triều Tiên, thế nhưng, hai miền đã phát triển các hình thức văn hóa đương đại khác biệt kể từ khi bán đảo bị chia cắt vào năm 1945. Trong lịch sử, mặc dù văn hóa của Hàn Quốc từng có khoảng thời gian dài chịu ảnh hưởng lớn và sâu sắc từ nước láng giềng Trung Quốc, tuy nhiên họ vẫn có thể tự phát triển một bản sắc văn hóa độc đáo khác biệt so với người hàng xóm. Nền văn hóa phong phú và rực rỡ của Hàn Quốc đã để lại 19 di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, đứng thứ 3 trên thế giới, cùng với đó là 15 di sản thế giới[425]. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc tích cực khuyến khích nghệ thuật truyền thống, cũng như các hình thức nghệ thuật đương đại, thông qua các chương trình tài trợ và giáo dục.

Sự công nghiệp hóa và đô thị hóa của Hàn Quốc đã mang lại nhiều thay đổi cho cách sống của người Hàn Quốc hiện đại. Kinh tế phát triển và lối sống thay đổi đã dẫn đến sự tập trung dân số tại các thành phố lớn, đặc biệt là thủ đô Seoul.

Uống nhiều rượu cùng cung cách uống rượu cũng là một nét văn hóa đặc sắc trong lối sống của người Hàn Quốc. Đây là một trong những quốc gia mà người dân tiêu thụ đồ uống có cồn với mức trung bình nhiều nhất trên thế giới trong năm 2018[426], tuy nhiên, sang đến năm 2021, con số này đã giảm xuống đáng kể.[427]

Ngôn ngữ và chữ viết

 
Bản đồ biểu thị sự phân bố phương ngữ của tiếng Hàn Quốc
 
Chữ Hangul ban đầu có tên gọi là Hunmin jeong-eum - Huấn dân chính âm.

Ở Hàn Quốc, ngôn ngữ chính thức là tiếng Hàn Quốc (tiếng Hàn hay Hàn ngữ). Một số nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngữ này vào ngữ hệ Altai, một số khác thì cho rằng tiếng Hàn Quốc là một ngôn ngữ biệt lập (Language Isolate). Kể từ bậc tiểu học, ngoài tiếng mẹ đẻ, các giáo viên bắt đầu dạy tiếng Anh cho học sinh. Sau này, tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật cũng trở thành các ngoại ngữ chính. Các ngôn ngữ châu Âu khác như tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha,... thì ít phổ biến hơn và thường được giảng dạy trong các trường đại học.

Khác với chữ viết của các nước vùng Đông Á, Hangul - chữ viết chính của người Hàn Quốc - sử dụng một bảng chữ cái gồm 51 ký tự, 24 ký tự đơn và 27 ký tự kép. Những ký tự này được kết hợp theo âm tiết thành các chữ. Đối với những người không biết thì chữ Triều Tiên cũng phức tạp y như chữ Hán vậy. Nhưng thực ra người học có thể nắm được căn bản của loại chữ viết này chỉ sau 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Vì lẽ đó mà chữ Hangeul được gọi là Atsim-Gul (chữ viết buổi sáng - trong một buổi sáng là có thể học xong).

Hanja, bộ chữ Hán của người Triều Tiên, có ý nghĩa tương tự như chữ Latinh ở các nước châu Âu. Giống như các ngôn ngữ ở Đông Á và Đông Nam Á, rất nhiều từ trong tiếng Hàn Quốc có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên việc loại bỏ đi các thanh âm trong tiếng Hán dẫn đến việc trong tiếng Hàn Quốc có rất nhiều từ đồng âm. Các từ này được phát âm giống nhau nhưng mang ý nghĩa khác nhau và chỉ phân biệt được ý nghĩa dựa vào ngữ cảnh. Vì vậy, để cho rõ nghĩa, trong các văn bản khoa học người ta thường ghi chú thích bằng chữ Hanja ở đằng sau những cụm từ quan trọng. Trên các tấm danh thiếp người ta cũng thường sử dụng chữ Hanja để giải thích ý nghĩa tên của họ.

Trong thập niên 2000 của thế kỉ 21, những tín đồ Hồi giáo tại Hàn Quốc đã tiếp nhận thêm bảng chữ cái Ả rập và biến đổi lại để ghi âm tiếng Hàn gọi là Kuryan (tương tự như chữ Jawi của người Mã Lai). Hệ chữ này sử dụng văn tự Ả Rập để ghi âm tiếng Hàn, phục vụ trong hoạt động giao tiếp và truyền bá trong cộng đồng người Hồi giáo tại Hàn Quốc.

Nghệ thuật

 
Pansori - nghệ thuật hát ả đào
 
Talchum - nghệ thuật múa mặt nạ

Nghệ thuật Hàn Quốc truyền thống vốn chịu ảnh hưởng rất lớn từ Phật giáo và Nho giáo, có thể thấy trong nhiều bức tranh, tác phẩm điêu khắc, gốm sứ và nghệ thuật biểu diễn. Đồ gốm sứ Hàn Quốc, chẳng hạn như BaekjaBuncheong của nhà Triều Tiên, Celadon của vương quốc Cao Câu Ly nổi tiếng trên khắp thế giới. Ngoài ra, Trà đạo Hàn Quốc, Pansori, TalchumBuchaechum cũng là những nét văn hóa nghệ thuật dân gian đặc sắc của quốc gia này.

Nghệ thuật hiện đại của Hàn Quốc sau chiến tranh bắt đầu phát triển vào những năm 1960 và 1970, khi các nghệ sĩ bắt đầu quan tâm đến hình dạng hình học và các chủ đề phi vật thể. Thiết lập sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên cũng là một chủ đề được yêu thích trong giai đoạn này. Cùng với những biến động xã hội, các vấn đề chính trị bắt đầu xuất hiện như một chủ đề lớn trong suốt thập niên 1980. Ngày nay, nghệ thuật Hàn Quốc truyền thống được quảng bá chủ yếu qua phim ảnh, du lịch cùng các sự kiện cũng như triển lãm quốc tế khác nhau.

Kiến trúc

 
Động Seokguram - di sản thế giới UNESCO

Do lịch sử đầy biến động của Hàn Quốc, việc xây dựng và phá hủy các công trình kiến trúc được lặp đi lặp lại nhiều lần, dẫn đến sự pha trộn thú vị trong phong cách thiết kế.

Kiến trúc truyền thống Hàn Quốc được biểu hiện đặc trưng bởi sự hài hòa với thiên nhiên. Các kiến ​​trúc sư cổ đại đã thiết kế các hệ thống mái tranh và sàn gỗ sưởi ấm được gọi là Ondol. Người dân thuộc tầng lớp thượng lưu thường xây dựng những ngôi nhà lớn hơn với mái ngói cong thanh lịch hoặc mái hiên nâng. Kiến trúc truyền thống có thể được nhìn thấy trong các cung điện, đền thờ, địa danh tôn giáo, những ngôi nhà cổ được bảo tồn gọi là Hàn Ốc cùng nhiều địa điểm thăm quan nổi tiếng như làng dân gian Hahoe, làng Hanok Bukchon, làng YangdongGyeongjulàng dân tộc Hàn Quốc. Hàn Quốc sở hữu 15 di sản thế giới UNESCO.[425]

Kiến trúc phương Tây lần đầu tiên được giới thiệu đến Hàn Quốc vào cuối thế kỷ 19. Nhà thờ, văn phòng cho người nước ngoài, các trường trung học, đại học bắt đầu được xây dựng theo phong cách mới. Với sự sáp nhập của bán đào Triều Tiên vào Đế quốc Nhật Bản năm 1910, chế độ thuộc địa đã can thiệp vào nhiều di sản kiến ​​trúc truyền thống đồng thời kiến ​​trúc hiện đại theo phong cách Nhật Bản được áp đặt. Tuy nhiên, chiến tranh Triều Tiên đã phá hủy hầu hết các công trình xây dựng trong thời gian đó.

Kiến trúc Hàn Quốc bước vào giai đoạn phát triển mới trong quá trình tái thiết đất nước sau chiến tranh, xu hướng, phong cách kiến ​​trúc hiện đại được sử dụng rộng rãi. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong những thập niên 1970 và 1980, việc tái phát triển đã chứng kiến ​​nhiều triết lý kiến ​​trúc mới. Sau Olympic 1988, với sự mở cửa thị trường nội địa cho các kiến ​​trúc sư nước ngoài, kiến ​​trúc Hàn Quốc chứng kiến những thay đổi lớn trong phong cách thiết kế. Tuy vậy, kiến ​​trúc đương đại vẫn không ngừng cố gắng để cân bằng triết lý "hòa hợp với thiên nhiên" truyền thống.

Văn học

 
Ngũ lão hội thiệp đồ - tranh do họa sĩ Lưu Thục (유숙) vẽ năm 1861, miêu tả cảnh đàm đạo văn chương của giới trí thức thời Joseon.

Văn học hiện đại Hàn Quốc bắt nhịp khá chậm trước các xu thế mới, một phần do sự kiểm duyệt của chính quyền thuộc địa kết hợp với việc người dân nơi đây chưa có thói quen cũng như không được tiếp cận với nền văn học khai phóng của phương Tây. Trước năm 1945, tất cả các phong trào văn học, thơ ca yêu nước, cổ vũ tinh thần ái quốc ở Hàn Quốc đều bị coi là bất hợp pháp. Năm 1919, Kim Dong-in khai trương tạp chí văn học Sáng tạo (Changjo, 創造, 창조) - mở ra hướng phổ cập văn chương hoàn toàn mới lạ, đánh dấu bước khởi đầu của nền văn học đương đại Hàn Quốc.

Ngày nay, văn hóa đọc sách và các tác phẩm văn học của Hàn Quốc thu hút một số lượng lớn độc giả. Những buổi đọc sách thậm chí còn được tổ chức ngoài trời tại các sân vận động.

Hwang Sok-yong là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất Hàn Quốc. Ông trải qua các cuộc chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam. Đề tài chính trong các tác phẩm của ông là những mâu thuẫn giữa hai thái cực truyền thống và hiện đại.

Ẩm thực

Ẩm thực Hàn Quốc nổi tiếng nhất với món Kim chi (dưa muối kiểu Hàn), đây là một món ăn sử dụng quá trình lên men đặc biệt để bảo quản một số loại rau, trong đó phổ biến nhất là cải thảo và cải bắp. Kim chi là một loại thực phẩm lành mạnh vì nó cung cấp các vitamin và chất dinh dưỡng cần thiết cho hệ tiêu hóa của cơ thể. Khổ tiêu tương, Doenjang cùng Guk-ganjang là những loại nước chấm rất thông dụng trong các món ăn hàng ngày cũng như tương tiêu hoặc tương ớt là những gia vị điển hình của một nền ẩm thực nổi tiếng với vị cay.

Bulgogi (thịt nướng tẩm gia vị, thường là thịt bò), Galbi (xương sườn cắt khúc tẩm gia vị nướng) và Samgyeopsal (thịt lợn ở phần bụng) đều là những đặc sản từ thịt phổ biến. Cá biển cũng là một thực phẩm phổ biến vì là loại thịt truyền thống mà người Hàn Quốc hay dùng trong bữa ăn hàng ngày. Galbi-tang (canh xương sườn bò hầm ăn kèm với cơm) và Doenjang jjigae (canh xúp đậu phụ lên men) là những món xúp và hầm nổi tiếng, các loại món ăn phụ được gọi là Banchan.

Những món ăn nổi tiếng khác bao gồm Bibimbap, Samgyeopsal, ChimaekNaengmyeon. Ngoài ra, mì ăn liền (Ramyeon) cũng là một loại thức ăn nhanh phổ biến. Người Hàn Quốc rất thích ăn uống tại các Pojangmacha (quán lều bán dạo trên đường phố - một hình thức cơ sở thương mại dựa trên một căn lều nhỏ dựng bằng vải dù hoặc quầy hàng ven đường), ở đây người ta có thể mua Tteokbokki (bánh gạo cay), khoai tây chiên mực, bánh mực chiên kiểu Nhật (Takoyaki) hay khoai lang tẩm bột rán. Ngoài ra, Sundae (dồi lợn luộc) cũng được rất nhiều người ưa thích. Ngoài ra, ẩm thực Hàn Quốc còn có một số món ăn nhẹ phổ biến khác như Choco Pie, bánh tôm, bánh xèo hải sản, bánh hành (Haemul Pajeon), bánh gạo giòn hay Nurungji (cơm cháy).

Các loại đồ uống có cồn phổ biến của Hàn Quốc bao gồm có Soju (rượu nếp), Makgeolli (rượu gạo) và Bokbunja-ju (rượu trái cây), đặc biệt, người Hàn còn hay pha rượu Soju với bia tươi (Somaek), sữa chua hoặc Sprite - một loại nước ngọt có ga; để tăng độ mạnh cho thức uống truyền thống này.

Một số món ăn nổi tiếng:

Âm nhạc

 
BTS - nhóm nhạc nam K-pop thành công nhất hiện nay
 
Blackpink - nhóm nhạc nữ K-pop nổi tiếng nhất
 
Twice - nhóm nhạc nữ K-pop nổi tiếng nhất tại thị trường Nhật Bản.[428][429]

K-pop (viết tắt của Korean pop hay nhạc pop Hàn Quốc) là dòng nhạc pop ở Hàn Quốc, ban đầu chịu sự ảnh hưởng của J-pop (nhạc pop Nhật Bản). Nhờ chiến lược đầu tư, phát triển bài bản cùng sự quảng bá mạnh mẽ của truyền thông nước nhà mà K-pop đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, thu hút hàng chục triệu người hâm mộ cuồng nhiệt cũng như lực lượng hùng hậu các fan trung thành trên khắp thế giới, trở thành một hiện tượng giải trí toàn cầu.[46][430] Năm 2012, người Hàn tiếp tục gây sốt khắp thế giới với "điệu nhảy ngựa" trong ca khúc Gangnam Style của ca sĩ PSY, đạt hơn 3 tỷ lượt xem trên YouTube. Năm 2020, Baby Shark vượt qua Despacito để trở thành video có "nhiều lượt xem nhất mọi thời đại" trên nền tảng này với con số hơn 7 tỷ[431][432], không chỉ dừng lại ở đó, bài hát thiếu nhi này còn tiếp nối thành công của Gangnam Style, trở thành một "hiện tượng văn hóa toàn cầu mới".[433][434][435][436][437]

Vào ngày 21 tháng 8 năm 2020, MV cho bài hát "Dynamite" của nhóm nhạc BTS đã xác lập kỷ lục Guinness mới khi chính thức trở thành MV ca nhạc đạt số lượng người xem trực tiếp cũng như view cao nhất trên YouTube sau 24 giờ phát hành, với hơn 3 triệu và 101,1 triệu lượt xem chỉ trong vòng một ngày, vượt qua con số 1,66 và 86,3 triệu - kỷ lục mà trước đó nhóm nhạc Blackpink đã từng thiết lập với MV "How You Like That"[438][439]. Cũng với ca khúc này, BTS đã đạt hạng #1 Billboard Hot 100 trong hai tuần liên tiếp, đây là điều mà trước đó chưa có nhóm nhạc hay ca sĩ người châu Á nào làm được, là niềm tự hào của nền âm nhạc Hàn Quốc hiện đại nói riêng cũng như châu Á nói chung. Cùng với phim ảnh, K-pop gây nên một cơn sốt đặc biệt lớn đối với giới trẻ, đi kèm theo đó là một số hệ lụy không đáng có.

SM Entertainment, YG EntertainmentJYP Entertainment là ba công ty lớn, truyền thống và có tầm ảnh hưởng nhất trong ngành công nghiệp giải trí tại Hàn Quốc, thường được gọi chung là "Tam Đại" hay "Big Three/Big3", ngoài ra còn có Big Hit Entertainment (nay là HYBE Corporation), Cube Entertainment, Pledis Entertainment, FNC Entertainment,...[440] Các hãng thu âm này chịu trách nhiệm tìm kiếm, phát hiện tài năng, tuyển dụng, tài trợ, đào tạo và lăng xê cho những nghệ sĩ trực thuộc, ngoài ra họ còn quản lý mọi hoạt động liên quan đến âm nhạc, đảm nhận, phụ trách thương hiệu và quan hệ công chúng của các nghệ sĩ. Hệ thống quản lý nghệ sĩ mặc dù rất chuyên nghiệp, chi tiết nhưng lại quá nghiêm ngặt, khắt khe và áp lực của nhiều công ty giải trí tại Hàn Quốc đã bị một số tờ báo phương Tây đánh giá là "cực đoan"[441], thậm chí đài BBC của Anh đã sử dụng cụm từ "hợp đồng nô lệ" để nói về hệ thống này.[442]

Hầu hết các sáng kiến ​​của chính phủ nhằm mở rộng sự phổ biến của K-pop trên toàn thế giới được thực hiện bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đây là cơ quan chịu trách nhiệm chính cho việc thành lập các Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc trên toàn thế giới. Các đại sứ quán và lãnh sự quán Hàn Quốc cũng đứng ra tổ chức các buổi hòa nhạc K-pop ở nước ngoài, và Bộ Ngoại giao thường xuyên mời fan hâm mộ K-pop ở nước ngoài tham dự Liên hoan Thế giới K-pop được tổ chức thường niên tại Hàn Quốc [443]. Ngoài việc gặt hái được những lợi ích kinh tế từ sự phổ biến của K-pop, chính phủ Hàn Quốc đã và đang tận dụng ảnh hưởng của K-pop trong vấn đề ngoại giao. Trong thời đại truyền thông đại chúng phát triển vũ bão như ngày nay, quyền lực mềm (soft power) được coi là một chiến lược ngoại giao hiệu quả, tiềm năng và thực dụng hơn tương đối nhiều so với việc chỉ dựa vào quyền lực cứng (hard power) truyền thống. Ngoại giao văn hóa thông qua K-pop là một hình thức của quyền lực mềm đang được chính phủ Hàn Quốc thực hiện rất thành công.[444]

Năm 2020, Hàn Quốc là thị trường âm nhạc lớn thứ 2 tại khu vực châu Á (sau Nhật Bản), xếp hạng 6 toàn cầu (sau các thị trường Pháp, Đức, Anh, Nhật Bản và Mỹ), mặc dù vẫn giữ nguyên thứ hạng nhưng mức tăng trưởng so với năm 2019 đã tăng thêm 8,2%.[445]

Điện ảnh

 
Đạo diễn Bong Joon-ho
 
Nữ diễn viên Youn Yuh-jung

Kể từ thành công của Shiri (1999), ngành công nghiệp điện ảnh ở Hàn Quốc có sự thăng tiến không ngừng[446]. Đây là một trong số ít những thị trường mà phim nội địa luôn được ưu tiên trước các sản phẩm của Hollywood, thể hiện qua việc tỷ lệ khán giả đến rạp xem phim trong nước thường cao hơn so với các tác phẩm nước ngoài.

Năm 2000, bộ phim Vùng an ninh chung, kể về sự kiện chia cắt bán đảo Triều Tiên là tác phẩm tiêu biểu. Friend tiếp tục là bộ phim thành công của năm 2001. Cô nàng ngổ ngáo thậm chí còn được khán giả Hàn yêu thích hơn cả Chúa tể của những chiếc nhẫn hay Harry Potter. Năm 2004, bộ phim Old Boy giành giải thưởng lớn tại Liên hoan phim Cannes và được bán bản quyền cho nhiều thị trường khác. Sau khi dự liên hoan phim, đạo diễn nổi tiếng Quentin Tarantino đã phát biểu: "Những bộ phim hay, hấp dẫn nhất thế giới hiện đến từ Hàn Quốc và Nhật Bản" đồng thời bản thân ông cũng có cảm tình đặc biệt với tác phẩm điện ảnh gai góc và đầy bạo lực này.[447][448]

Miramax đã mua lại bản quyền của phim Vợ tôi là Gangster. Những bộ phim nổi tiếng khác như My Sassy Girl, Old Boy hay A Tale of Two Sisters cũng được các nhà làm phim người Mỹ mua bản quyền và làm lại.

Bộ phim The Host - Quái Vật Sông Hàn (2006) và sau đó là bộ phim tiếng Anh Snowpiercer (2013) của đạo diễn điện ảnh Bong Joon-ho kết hợp với nam tài tử Chris Evans, hay Đại thủy chiến (2014) của Kim Han-min và tài tử Choi Min-sik đều là những tác phẩm điện ảnh có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở Hàn Quốc và được các nhà phê bình phim nước ngoài đánh giá cao (Đại thủy chiến là bộ phim Hàn Quốc đầu tiên đạt mức doanh thu hơn 100 triệu USD)[449][450]. Bộ phim về đề tài tận thế - xác sống Train to Busan (2016) của đạo diễn Yeon Sang-ho cũng là một trong những bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở quốc gia này và trở thành bộ phim có doanh thu cao thứ hai tại thị trường Hồng Kông trong năm 2016.[451] Năm 2019, Bong Joon-ho đã cùng với Song Kang-ho tiếp tục giúp cho nền điện ảnh xứ Kim Chi gây được tiếng vang với bộ phim điện ảnh tâm lý xã hội - hài kịch đen mang tựa đề Parasite (Ký sinh trùng), tác phẩm sau đó đã đoạt giải thưởng Cành cọ vàng (Palme d'Or) tại Liên hoan phim Cannes 2019 (Pháp)[452], và đặc biệt nhất là Oscar - giải thưởng danh giá của Viện Hàn Lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ, tại Lễ trao giải Oscar lần thứ 92, Ký sinh trùng đã chiến thắng 4 trên 6 đề cử, cùng với giải thưởng quan trọng nhất - Best Picture, danh sách 4 hạng mục đoạt giải, bao gồm: Phim xuất sắc nhất, Phim Quốc tế xuất sắc nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất cho cá nhân Bong Joon-ho và Kịch bản Gốc xuất sắc nhất, đồng thời, Ký Sinh Trùng cũng trở thành bộ phim giành được nhiều giải thưởng nhất Oscar 2020, đây là bộ phim Hàn Quốc đầu tiên trong lịch sử chiến thắng giải Oscar[453], đặc biệt hơn, thành công của Ký sinh trùng đến vào đúng dịp kỷ niệm 100 năm nền điện ảnh xứ Hàn ra đời và phát triển,[452] qua đó tiếp tục khẳng định vị thế của điện ảnh Hàn Quốc trong làng điện ảnh châu Á nói riêng và thế giới nói chung. Năm 2021, tại Lễ trao giải Oscar lần thứ 93, nữ diễn viên gạo cội Youn Yuh-jung đoạt giải Oscar cho Nữ phụ xuất sắc nhất với phim điện ảnh độc lập Minari, bà là diễn viên Hàn Quốc đầu tiên nhận tượng vàng Oscar về diễn xuất và là sao châu Á thứ 2 chiến thắng Oscar cho Nữ phụ xuất sắc nhất, chỉ sau nữ minh tinh quá cố Miyoshi Umeki của điện ảnh Nhật Bản.[454][455][456]

Giống như ở nhiều nước châu Á khác, tại Việt Nam, phim truyền hình Hàn Quốc hay còn được biết đến với tên gọi K-drama cũng giành được sự ưu ái đặc biệt. Ngoài những tác phẩm điện ảnh được chiếu ngoài rạp, các bộ phim truyền hình dài tập của nước này cũng thu hút số lượng rất lớn khán giả. Một số loạt phim nổi tiếng gần đây của Hàn Quốc có thể kể đến như: Trò chơi con mực, Penthouse: Cuộc chiến thượng lưu, Hạ cánh nơi anh, Tầng lớp Itaewon, Những bác sĩ tài hoa, Kingdom hay Mr. Queen,...

Thể thao

Hàn Quốc là một nền thể thao mạnh ở châu Á cũng như trên thế giới. Những môn thể thao tiêu biểu có thể kể đến như:

  • Taekwondo: Quốc võ kiêm môn thể thao mang tính biểu tượng quốc gia.
  • Bắn cung: Môn thể thao truyền thống, là thế mạnh, sở trường tại mỗi kỳ Thế vận hội.
  • Bóng chày: Môn thể thao được chơi cũng như xem nhiều nhất bên cạnh bóng đá.
  • Bóng đá: Đội tuyển bóng đá quốc gia Hàn Quốc thường xuyên giành quyền tham dự các kỳ World Cup (với tổng cộng 10 lần tính cho đến hết World Cup 2018, trong đó có tới 9 lần tham dự liên tiếp, nhiều hơn bất kỳ quốc gia châu Á nào khác)[457], từng xếp hạng tư chung cuộc tại World Cup 2002, lọt vào đến vòng 16 đội tại World Cup 2010, 2 lần vô địch Cúp bóng đá châu Á vào các năm 19561960 bên cạnh 4 lần á quân (1972, 1980, 1988, 2015) và 4 lần hạng 3 (1964, 2000, 2007, 2011). Ngoài ra, đội tuyển Olympic Hàn Quốc cũng đã từng giành huy chương đồng tại Thế vận hội mùa hè 2012 và 2 lần vô địch Á vận hội, Hàn Quốc cùng với Nhật Bản là hai quốc gia châu Á đầu tiên giành quyền đăng cai tổ chức World Cup. Bóng đá Hàn Quốc hiện nay vẫn đang tiếp tục phát triển bên cạnh những nền bóng đá hàng đầu châu Á như Nhật Bản, Ả Rập Xê Út, Úc và Iran.

Bóng chày được du nhập vào từ khoảng năm 1905 và nhanh chóng trở thành một môn thể thao được nhiều người yêu thích và thường xuyên theo dõi ở Hàn Quốc.[458] Liên đoàn Bóng chày Hàn Quốc được thành lập năm 1982, là liên đoàn thể thao chuyên nghiệp đầu tiên ở Hàn Quốc. Đội tuyển bóng chày Hàn Quốc đoạt giải 3 trong Giải Bóng chày Thế giới năm 2006, giải nhì trong năm 2009 và huy chương vàng tại Olympic Bắc Kinh 2008.[459]

Năm 1988, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1988 ở Seoul, quốc gia này xếp hạng 4 chung cuộc với 12 huy chương vàng, 10 bạc, 11 đồng[459] và cũng xuất sắc trong nhiều môn thể thao khác. Hàn Quốc cũng đoạt nhiều huy chương ở Thế vận hội Mùa đông so với các quốc gia châu Á khác. Tại Thế vận hội Mùa đông 2010Vancouver, các đội tuyển Hàn Quốc giành được tổng cộng 14 huy chương (gồm 6 vàng, 6 bạc và 2 đồng) trên tổng số 45 huy chương (23 vàng, 14 đồng và 8 bạc)[459]. Năm 2018, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa đông 2018Pyeongchang và đây cũng là lần đầu tiên một kỳ Thế vận hội được tổ chức tại vùng ngoại ô, đoàn thể thao Hàn Quốc đã đạt tổng số 17 huy chương (gồm 5 vàng, 8 bạc và 4 đồng). Năm 2016 tại Olympic Rio (Brasil), đoàn thể thao Hàn Quốc đoạt 9 huy chương vàng, 3 bạc và 9 đồng - xếp hạng 8 chung cuộc.[460][461]

Hàn Quốc đã đăng cai tổ chức các kỳ Đại hội thể thao châu Á trong các năm 1986 (Seoul), 2002 (Busan) và 2014 (Incheon),[462] Đại hội thể thao Mùa đông châu Á năm 1999, sự kiện thể thao liên minh các trường đại học thế giới Universiade mùa đông vào năm 1997 và mùa hè năm 2003. Đồng đăng cai tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2002 cùng với Nhật Bản. Đây là đội tuyển châu Á đầu tiên lọt vào đến vòng bán kết của 1 kỳ World Cup.[463]

Thể thao điện tử, hay còn được gọi là E-Sports hoặc eSports, rất phổ biến trong giới trẻ Hàn Quốc, không những trở thành một nét văn hóa riêng biệt[464] mà còn được chính phủ nước này công nhận là một ngành nghề hợp pháp[465]. Quốc gia này được coi là khu vực trọng điểm mà E-Sport phát triển mạnh mẽ, được đầu tư lớn, quy tụ nhiều tuyển thủ tài năng và có hệ thống tổ chức các giải đấu chuyên nghiệp nhất trên thế giới[466], tuy nhiên, sự cạnh tranh trong nghề là vô cùng nghiêm túc và khốc liệt[467]. Hai trò chơi được tranh tài thường xuyên là League of Legends (Liên Minh Huyền Thoại) - người Hàn có tổng cộng 6 lần vô địch thế giới ở bộ môn này tính cho đến năm 2020 cùng với StarCraft[468] và gần đây nhất là PUBG - với 3 lần vô địch thế giới các năm 2017[469], 2018[470], 2019[471][472] và 1 lần Á quân cùng năm 2019 ở cấp độ đội tuyển quốc gia[473]. Các giải đấu E-Sport tại Hàn Quốc được quản lý bởi Hiệp hội Thể thao điện tử Hàn Quốc (KeSPA). Một số danh thủ E-Sport nổi tiếng có thể kể tới như: Lim "BoxeR" Yo-Hwan, Lee "Faker" Sang-hyeok, Hong "MadLife" Min-gi, Choi "inSec" In-seok, Kim "Doinb" Tae-sang, Cha "Pio" Seung-hoon hay Lee "The Tyrant" Jae-Dong,...

Hàn Quốc còn là quốc gia rất mạnh về bộ môn cờ Vây, với một loạt các danh thủ nổi tiếng thế giới như: Cho Hun-hyun, Lee Se-dol, Cho Nam-chul, Kim In, Seo Bong-soo, Yoo Chang-hyuk, Lee Chang-ho, hay Park Yeong-hun,...

Một số vận động viên nổi tiếng:

Những ngày lễ lớn

Ngày Tên tiếng Việt Hangul Romaja Ghi chú
1 tháng 1 Tết Dương lịch 양력설 Yanglyeogseol
1 tháng 1 (âm lịch) Tết Nguyên Đán 설날 Seollal
1 tháng 3 Phong trào 1 tháng 3 3.1절 Samiljeol Kỷ niệm ngày nổi dậy đấu tranh đòi độc lập
5 tháng 4 Tết cây xanh 식목일 Singmogil
8 tháng 4 (âm lịch) Lễ Phật Đản 부처님 오신날 Bucheonim Osinnal Kỷ niệm ngày sinh của Đức Phật
5 tháng 5 Tết thiếu nhi 어린이날 Eorininal
6 tháng 6 Ngày tưởng niệm 현충일 Hyeonchung-il Tưởng niệm những người đã hy sinh vì đất nước
17 tháng 7 Ngày lập hiến (Chế Hiến tiết) 제헌절 Jehyeonjeol Kỷ niệm ngày ban hành Hiến pháp Hàn Quốc lần đầu tiên
15 tháng 8 Ngày độc lập (Quang Phục tiết) 광복절 Gwangbokjeol Kỷ niệm ngày giành độc lập từ tay phát xít Nhật
15 tháng 8 (âm lịch) Tết Trung thu 추석 Chuseok
3 tháng 10 Ngày khai sinh dân tộc (Khai Thiên tiết) 개천절 Gaecheonjeol Kỷ niệm sự thành lập của nhà nước Cổ Triều Tiên
9 tháng 10 Ngày Hàn văn 한글날 Hangeullal Kỷ niệm sự sáng lập (1443) và tuyên bố sử dụng (1446) của chữ Hangul
25 tháng 12 Lễ Giáng Sinh 크리스마스 Keuliseumaseu

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng sử dụng quốc ca này nhưng khác nhạc và lời.

Tham khảo

  1. ^ “A New Way of Seeing Country Social Responsibility” (PDF). Faculty of Philosophy and Social-Political Sciences. Alexandru Ioan Cuza University: 6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014.
  2. ^ [시행 2016.8.4.] [법률 제13978호, 2016.2.3., 제정] [Enforcement 2016.8.4. Law No. 13978, enacted on February 3, 2016] (bằng tiếng Hàn). 2016. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2017.
  3. ^ “Foreign population in Korea tops 2.5 million”. koreatimes. 24 tháng 2 năm 2020.
  4. ^ “Foreign population in Korea tops 2.5 million”. koreatimes. 24 tháng 2 năm 2020.
  5. ^ Kim, Han-soo; Shon, Jin-seok (20 tháng 12 năm 2016). 신자 수, 개신교 1위… "종교 없다" 56%. Chosun Ilbo. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
  6. ^ a b South Korea National Statistical Office's 19th Population and Housing Census (2015): "Religion organizations' statistics". Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016
  7. ^ http://image.kmib.co.kr/online_image/2016/1219/201612191738_61220011145071_1.jpg
  8. ^ Quinn, Joseph Peter (2019). “South Korea”. Trong Demy, Timothy J.; Shaw, Jeffrey M. (biên tập). Religion and Contemporary Politics: A Global Encyclopedia. ABC-CLIO. tr. 365. ISBN 978-1-4408-3933-7. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2020.
  9. ^ Kosis 100대 지표.
  10. ^ a b c d “World Economic Outlook Database, April 2021”. IMF.org. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2021.
  11. ^ Inequality - Income inequality - OECD Data. OECD. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2021.
  12. ^ “Fragile States Index 2021”. Fund for Peace. 20 tháng 5 năm 2021.
  13. ^ “Country Dashboard”. Fund for Peace.
  14. ^ “Human Development Indicators”. United Nations Development Programme. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  15. ^ U.S. News & World Report. “South Korea: Overview of South Korea - 2020 Overall Best Countries Ranking”. www.usnews.com.
  16. ^ a b “South Korea Population 2020”. www.worldometers.info. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  17. ^ "About Korea". Trang web quảng bá cho Hàn Quốc. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2015.
  18. ^ a b Muscato, Christopher. “South Korea Ethnic Groups”. study.com. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2020.
  19. ^ “South Korea history - geography: Economic and social developments”. www.britannica.com. Encyclopedia Britannica. 18 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020.
  20. ^ IMF. “World Economic and Financial Surveys World Economic Outlook Database - WEO Groups and Aggregates Information April 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2020.
  21. ^ Investopedia (21 tháng 11 năm 2019). “Economics: Top 25 Developed and Developing Countries”. www.investopedia.com.
  22. ^ a b “2019 Human Development Index Ranking”. hdr.undp.org. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2020.
  23. ^ a b c Logan Chamberlain (16 tháng 11 năm 2020). “Life Expectancy for Countries: The places where people live the longest”. www.infoplease.com.
  24. ^ UNDP. “Latest Human Development Index Ranking: Human Development Index (HDI) Ranking - From the 2020 Human Development Report”. hdr.undp.org.
  25. ^ a b Minh Thu (1 tháng 7 năm 2020). “Tuổi thọ của người dân Triều Tiên hay Hàn Quốc cao hơn?”. infonet.vietnamnet.vn.
  26. ^ a b c IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  27. ^ a b IMF (20 tháng 11 năm 2020). “Projected GDP Ranking 2020”. statisticstimes.com.
  28. ^ Jung Suk-yee (11 tháng 8 năm 2020). “South Korea Expected to Rise in GDP Ranking”. www.businesskorea.co.kr. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2020.
  29. ^ “List of Asian countries by GDP”. statisticstimes.com. 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  30. ^ a b Brand Finance. “Nation Brands 2020 Ranking”. brandirectory.com. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  31. ^ a b The Economist Intelligence Unit. “Democracy Index 2019: A year of democratic setbacks and popular protest” (PDF). www.in.gr.
  32. ^ a b “Democracy Index 2019”. www.eiu.com.
  33. ^ a b Fastmetrics. “Fastest Internet In The World - Median Download Speeds 2020”. www.fastmetrics.com.
  34. ^ a b Speedtest Global Index. “Global Speeds July 2021”. www.speedtest.net.
  35. ^ a b c Global Firepower. “Defense Spending by Country (2021)”. www.globalfirepower.com.
  36. ^ Anh Minh (Theo CNN) (7 tháng 1 năm 2021). “Ba nước châu Á đứng top đầu hộ chiếu quyền lực nhất 2021”. vnexpress.net.
  37. ^ Ngọc Ánh (theo Hindustan Times) (7 tháng 10 năm 2021). “Mỹ tiếp tục rớt khỏi top 5 hộ chiếu quyền lực thế giới”. vnexpress.net.
  38. ^ “Passport Index: Global Passport Power Rank 2020: Passports of the world ranked by their total mobility score”. www.passportindex.org. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020.
  39. ^ Phạm Huyền (22 tháng 2 năm 2018). “Hàn Quốc lập kỷ lục khi sở hữu hộ chiếu quyền lực nhất thế giới”. vnexpress.net. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020.
  40. ^ a b “SOCIAL PROGRESS SUMMARY: Republic of Korea”. www.socialprogress.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  41. ^ a b “2020 Social Progress Index rankings”. www.socialprogress.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  42. ^ a b “2020 Social Progress Index rankings” (PDF). www.socialprogress.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  43. ^ a b Sheridan, Greg (27 tháng 11 năm 2008). “The plucky country and the lucky country draw closer”. www.theaustralian.news.com.au.
  44. ^ Jongryn Mo (JSTOR Collection). “South Korea's middle power diplomacy”. www.jstor.org.
  45. ^ a b President Obama Vows Strengthened U.S.-South Korea Ties Lưu trữ 2009-07-04 tại Wayback Machine 2 Apr 2009. Embassy of the United States, Seoul.
  46. ^ a b Christy Choi & Amy Nip (30 tháng 11 năm 2012). “How Korean culture stormed the world”. www.scmp.com. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  47. ^ Aja Romano (26 tháng 2 năm 2018). “How K-pop became a global phenomenon”. www.vox.com.
  48. ^ Donya Saberi (14 tháng 3 năm 2018). “The Rise of South Korea's Soft Power in the Middle East”. thediplomat.com.
  49. ^ China Daily (21 tháng 11 năm 2004). “Japanese fans mob TV star in "Korea fever". www.chinadaily.com.cn (bằng tiếng Anh).
  50. ^ a b Martin Roll. “Korean Wave (Hallyu) – The Rise of Korea's Cultural Economy & Pop Culture”. martinroll.com.
  51. ^ Asia Exchange (4 tháng 10 năm 2018). “THE KOREAN WAVE IS TAKING THE WORLD BY STORM!”. asiaexchange.org.
  52. ^ Hoàng Phong (theo Bloomberg) (31 tháng 5 năm 2021). “Giới trẻ Hàn Quốc lười kết hôn, ngại sinh con”. vnexpress.net.
  53. ^ Thùy Linh (theo Koreantimes) (24 tháng 6 năm 2020). “Giới trẻ Hàn Quốc nghĩ 'sinh con là không cần thiết'. vnexpress.net.
  54. ^ Jung Suk-yee (31 tháng 8 năm 2020). “Korean Society Is Aging Rapidly”. www.businesskorea.co.kr.
  55. ^ a b Mai Lâm (7 tháng 12 năm 2019). “Những cô gái thề 'chết cũng không lấy chồng'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  56. ^ Claire Lee (8 tháng 11 năm 2018). “Human rights report says Korea has 'serious racism problem'. www.koreaherald.com.
  57. ^ Katrin Park (17 tháng 11 năm 2020). “South Korea Struggles to Confront Its Own Racial Prejudices”. foreignpolicy.com.
  58. ^ a b Hồng Hạnh (Theo Reuters) (13 tháng 5 năm 2019). “Làn sóng cử nhân thất nghiệp đổ xô ra nước ngoài của Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  59. ^ Julian Ryall (15 tháng 9 năm 2020). “South Korea's soaring suicide, self-harm rates pinned on pandemic”. www.dw.com.
  60. ^ David D. Lee & Park Chan-kyong (13 tháng 12 năm 2020). “Young South Korean women are turning to suicide in ever greater numbers. Covid-19 is just the start of their problems”. www.scmp.com.
  61. ^ a b SCMP/Reuters (3 tháng 12 năm 2019). “Thanh niên Hàn Quốc chật vật trong phân hóa giàu nghèo”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  62. ^ Vũ Hoàng (27 tháng 11 năm 2019). “Tầng lớp 'thìa đất' tuyệt vọng trong xã hội Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  63. ^ An Chi. Sông Hán và Hàn Quốc. Ngày 10 tháng 12 năm 2012.
  64. ^ “News”. Royal Ontario Museum.
  65. ^ KBS WORLD Radio (29 tháng 10 năm 2012). “Gwanggaeto, nhà chinh phục vĩ đại (Gwanggaeto, The Great Conqueror)”. rki.kbs.co.kr.
  66. ^ Prehistoric Times - Gojoseon & Korean Cultural Center New York. “Korea Information - History: Three Kingdoms And Other State”. www.koreanculture.org.
  67. ^ Franklin Rausch, jckim (24 tháng 8 năm 2009). “Ahn Jung-geun - An ordinary man, an extra-ordinary life: Why Did Ahn Jung-geun Kill Hirobumi Ito?”. www.koreatimes.co.kr. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  68. ^ Kimberly Amadeo (28 tháng 2 năm 2021). “Korean War Facts, Costs, and Timeline: The History of the War and How Much Money Was Spent”. www.thebalance.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2021.
  69. ^ BBC News Vietnamese (28 tháng 5 năm 2019). “Lịch sử dân chủ hóa đẫm máu của Hàn Quốc”. www.bbc.com.
  70. ^ “[한국갤럽 여론조사] '나라 잘 이끈 대통령'에 국민 44% "박정희". news.kmib.co.kr.
  71. ^ Se Young Jang (17 tháng 7 năm 2017). “The Gwangju Uprising: A Battle over South Korea's History”. www.wilsoncenter.org.
  72. ^ Nguyễn Hạnh (theo BBC) (19 tháng 5 năm 2005). “Vụ thảm sát Kwangju ở Hàn Quốc và di sản”. vnexpress.net.
  73. ^ Plunk, Daryl M. "South Korea's Kwangju Incident Revisited." Asian Studies Backgrounder No. 35 (September 16) 1985: p. 5.
  74. ^ “Flashback: The Kwangju massacre”. BBC News. ngày 17 tháng 5 năm 2000.
  75. ^ a b “S. Korean junta punished civilians with military camp in early 1980s: Report”.
  76. ^ "Two Decedes After Seoul Olympics". Korea Times. ngày 30 tháng 10 năm 2007.
  77. ^ Gunnar Berge: Chairman of The Norwegian Nobel Committee. “The Nobel Peace Prize 2000: Kim Dae-jung”. www.nobelprize.org.
  78. ^ “Hàn Quốc bắt khẩn cấp cựu Tổng thống Lee Myung-bak”. Truy cập 2 tháng 4 năm 2018.
  79. ^ Khánh Minh (19 tháng 2 năm 2020). “Cựu Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak bị kết án 17 năm tù”. laodong.vn.
  80. ^ Phan Yến (theo Korea Times) (31 tháng 3 năm 2017). “Các đời Tổng thống Hàn Quốc: Người tự vẫn, người ngồi tù”. www.tienphong.vn.
  81. ^ Thành Đạt (27 tháng 3 năm 2018). “Vòng xoáy lao lý của các cựu tổng thống Hàn Quốc”. dantri.com.vn.
  82. ^ Vũ Hoàng (theo Guardian, Straits Times, New York Times) (10 tháng 7 năm 2020). “Loạt bê bối tình dục từng rúng động Hàn Quốc”. vnexpress.net.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  83. ^ a b Huyền Lê (theo AFP) (4 tháng 5 năm 2021). “Hồi ký Kim Nhật Thành gây tranh cãi ở Hàn Quốc (đoạn 9)”. vnexpress.net.
  84. ^ a b “Hàn Quốc trục xuất một Hàn kiều vì dám ca ngợi Triều Tiên”. Một Thế giới. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2015. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015.
  85. ^ a b CHOE SANG-HUN (10 tháng 1 năm 2015). “South Korea Deports American Over Warm Words for Trips to North” (bằng tiếng Anh). The New York Times. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  86. ^ a b “South Korea to deport Korean-American accused of praising North”. www.theguardian.com. The Guardian.
  87. ^ McCurry, Justin (ngày 15 tháng 8 năm 2019). “Korean peninsula will be united by 2045, says Seoul amid Japan row”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019.
  88. ^ Phương Anh (16 tháng 9 năm 2017). “Triều Tiên ngồi trên nguồn tài nguyên khoáng sản trị giá 10.000 tỷ USD”. thanhnien.vn.
  89. ^ Thành Đạt (15 tháng 9 năm 2017). “Tiết lộ về kho tài nguyên 10 nghìn tỷ USD của Triều Tiên”. dantri.com.vn.
  90. ^ Sầm Hoa (11 tháng 10 năm 2018). “Choáng với trữ lượng 'kho báu' của Triều Tiên”. vietnamnet.vn.
  91. ^ Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 230.
  92. ^ “Park Chung-hee Quotes”. BrainyQuote.
  93. ^ “Park Chung-hee Quotes”. BrainyQuote.
  94. ^ Michael Schuman (2009). The Miracle. The Epic Story of Asia’s Quest for Wealth. HarperCollins Publishers. New York. Tr. 36
  95. ^ Lie, Han Unbound, 73.
  96. ^ Woo, Race to the Swift, 132.
  97. ^ Michael Schuman (2009). Sđd. Tr. 31.
  98. ^ Chapter VI: The Republic of Korea
  99. ^ Tucker, Spencer, ed. Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social, and Military History. Oxford, UK: Oxford University Press, 1998. tr 902
  100. ^ a b c d yhchoi65 (2 tháng 7 năm 2008). “[책갈피 속의 오늘]1965년 전투병 베트남 파병 의결”. www.donga.com.
  101. ^ Tucker, Spencer, ed. Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social, and Military History. Oxford, UK: Oxford University Press, 1998. tr 64
  102. ^ Cumings, Bruce. Korea's Place in the Sun: a Modern History. New York: Norton, 2005. Print.
  103. ^ “A Perspective on Korea's Participation in the Vietnam War”.
  104. ^ American Studies Association. “The Legacies of Korean Participation in the Vietnam War: The Rise of Formal Dictatorship”. www.allacademic.com. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012.
  105. ^ “Chuyện người chuyện ta”. 8 tháng 7 năm 2017.
  106. ^ Stewart Peter Lone and Gavan McCormack, Korea since 1850 (Melbourne, Australia: Longman, 1994), 148.
  107. ^ T. W. Kang, Is Korea the Next Japan? Understanding the Structure, Strategy, and Tactics of America’s Next Competitor (New York: The Free Press, 1989), cited in Byoung-lo Philo Kim, Two Koreas in Development: A Comparative Study of Principles and Strategies of Capitalist and Communist Third World Development, (New Brunswick, NJ: Transaction, 1992), 193.
  108. ^ Inglehart, Ronald & Christian Welzel (2009). How Development Leads to Democracy. "Foreign Affairs", March/ April.
  109. ^ “Park Chung-hee Quotes”. BrainyQuote.
  110. ^ “Ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hoá gia đình Hàn Quốc hiện đại (Phần 1)”. cks.inas.gov.vn. Trung Tâm Nghiên Cứu Hàn Quốc.
  111. ^ Mai Huyền (13 tháng 8 năm 2021). “Hyundai Pony – chiếc ôtô đầu tiên của người Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  112. ^ “South Korea - Society under Park”. countrystudies.us.
  113. ^ Hà Thu. “Gyeongbu - cao tốc được làm bằng ý chí của người Hàn”. vnexpress.net.
  114. ^ a b Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 244.
  115. ^ Ana Maria Santacreu (20 tháng 3 năm 2018). “How Did South Korea's Economy Develop So Quickly?”. www.stlouisfed.org. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  116. ^ a b Eichengreen, et al., From Miracle to Maturity, 44–45.
  117. ^ Lê Chung (4 tháng 1 năm 2021). “Hàn Quốc chính thức miễn phí giáo dục 3 cấp từ năm 2021”. tuoitre.vn.
  118. ^ Choi Seong Hyeon (5 tháng 3 năm 2021). “Can Southeast Asia Follow South Korea's Democratization Model?”. thediplomat.com.
  119. ^ Emmott, Bill (4 tháng 1 năm 2010). “South Korea: Finding its place on the world stage”. www.mckinsey.com. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  120. ^ a b c “chaebol”. Merriam-Webster. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2011.
  121. ^ a b Jung, Dong-Hyeon (ngày 1 tháng 8 năm 2004). “Korean Chaebol in Transition”. Sage. 40 (3): 299–303. doi:10.1177/000944550404000306. S2CID 154720682. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2013.
  122. ^ Moskalev, Sviatoslav; Park, Seung Chan (2010). “South Korean Chaebols and Value-Based Management”. Journal of Business Ethics. 92: 49–62. doi:10.1007/s10551-009-0138-5. S2CID 154121368.
  123. ^ Coverage of Roh Moo-hyun campaign financing scandal: Donald Macintyre (1 tháng 12 năm 2003). “Losing Face”. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018.
  124. ^ Hyondok Choi (2011). Sđd. Tr. 104-105.
  125. ^ “Korea's Geography (Land, Territory, Landforms, Climate and Weather, Four Seasons)”. www.asianinfo.org.
  126. ^ Peter Prokosch. “The Tidal Flats of the Yellow Sea within the East Asia Pacific Flyway of Coastal Birds: Saemangeum Seawall, built at the expense of international important tidal flats, South Korea”. www.grida.no.
  127. ^ Vũ Hoàng (10 tháng 8 năm 2018). “Nắng nóng kỷ lục trong hơn 100 năm qua ở Hàn Quốc, 42 người chết”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  128. ^ a b Cox, Wendell (4 tháng 11 năm 2019). “2019 DEMOGRAPHIA WORLD URBAN AREAS: POPULATION, LAND AREA & URBAN DENSITIES”. www.newgeography.com. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  129. ^ PricewaterhouseCoopers. “The 150 richest cities in the world by GDP in 2020: Richest cities and urban areas in 2020”. www.citymayors.com.
  130. ^ Milken Institute. “Worlds Best Cities: Best Performing Cities 2020”. www.bestcities.org.
  131. ^ 2015년 인구주택총조사 전수집계결과 보도자료 [2015 Population and Housing Census]. Statistics Korea.
  132. ^ a b KBS WORLD Radio & YONHAP News (3 tháng 2 năm 2021). “S. Korea Reclassified as "Full Democracy" on EIU's Global Democracy Index 2020”. world.kbs.co.kr.
  133. ^ Grace Oh (Yonhap) (16 tháng 1 năm 2021). “S. Korea's military strength 6th in world: report”. en.yna.co.kr.
  134. ^ Bhupinder Singh (3 tháng 3 năm 2021). “21 Strongest Militaries Around The World In 2021 You Should Know About”. www.indiatimes.com.
  135. ^ PANORAMA (23 tháng 3 năm 2021). “Top 10 most powerful militaries in the world”. www.businesstoday.in.
  136. ^ Global Firepower. “2021 Military Strength Ranking”. www.globalfirepower.com.
  137. ^ “South Korea's Armed Forces, CSIS (Page 24)” (PDF). ngày 25 tháng 7 năm 2006.
  138. ^ a b Nan Tian, Alexandra Kuimova, Diego Lopes da Silva, Pieter D. Wezeman, Siemon T. Wezeman. “TRENDS IN WORLD MILITARY EXPENDITURE, 2019” (PDF). www.sipri.org.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  139. ^ a b Duffin, Erin (11 tháng 5 năm 2020). “The 15 countries with the highest military spending worldwide in 2019”. www.statista.com. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  140. ^ GlobalSecurity on Military of Republic of Korea, Globalsecurity.org
  141. ^ “Conscription 'Should Be Phased Out Slowly'. Chosun Ilbo. ngày 6 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2017.
  142. ^ Stuart Smallwood (30 tháng 10 năm 2014). “Global Research: South Korea's Armed Forces to Remain Fully under US Military Command”. www.globalresearch.ca.
  143. ^ “Tyranny of the Weak”. Google Books. Truy cập 11 tháng 8 năm 2016.
  144. ^ “Public Opinion on North Korea from the Chicago Council on Global Affairs: No Evidence of Decoupling”. PIIE. 11 tháng 8 năm 2017.
  145. ^ “OPLAN 5027 Major Theater War – West”. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013.
  146. ^ Caleb Larson (10 tháng 4 năm 2020). “K2 Black Panther: The Most Expensive Tank in the World”. nationalinterest.org.
  147. ^ SuccessStory. “Most Expensive Tanks”. successstory.com.
  148. ^ Duy Sơn (21 tháng 4 năm 2017). “Thiết giáp lưỡng cư có khả năng diệt trực thăng của Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  149. ^ World Population Review. “Largest Navies In The World 2021”. worldpopulationreview.com.
  150. ^ PickyTop (3 tháng 8 năm 2021). “Top 10 Largest Navies in the World”. pickytop.com.
  151. ^ Military-Today. “Top 10 Navies in the World”. www.military-today.com.
  152. ^ Vũ Anh (theo Yonhap) (7 tháng 9 năm 2021). “Tàu ngầm Hàn Quốc lần đầu phóng tên lửa đạn đạo”. vnexpress.net.
  153. ^ World Population Review. “Largest Air Forces In The World 2021”. worldpopulationreview.com.
  154. ^ Nancy Levin (4 tháng 12 năm 2018). “10 Largest Air Forces in the World”. largest.org.
  155. ^ KBS WORLD Radio (26 tháng 5 năm 2011). “Hàn Quốc ký kết xuất khẩu máy bay huấn luyện siêu âm T-50 sang Indonesia”. world.kbs.co.kr.
  156. ^ TTXVN (26 tháng 5 năm 2011). “Indonesia nhập máy bay siêu thanh của Hàn Quốc”. vov.vn.
  157. ^ Vũ Anh (23 tháng 12 năm 2019). “Hàn Quốc nhận UAV hơn 120 triệu USD”. vnexpress.net. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  158. ^ Thế Việt (theo Yonhap) (21 tháng 7 năm 2020). “Hàn Quốc ghi tên vào danh sách 10 quốc gia có vệ tinh liên lạc quân sự”. baoquocte.vn.
  159. ^ David Hambling (Aerospace & Defense) (4 tháng 12 năm 2020). “Why South Korea Is Building Robotic Artillery”. www.forbes.com.
  160. ^ Lê Ngọc (theo Forbes và Defensenews) (8 tháng 12 năm 2020). “Tại sao Hàn Quốc lại phát triển pháo binh robot?”. vov.vn.
  161. ^ Báo Lạng Sơn (theo VOV) (8 tháng 12 năm 2020). “Tại sao Hàn Quốc lại phát triển pháo binh robot?”. baolangson.vn.
  162. ^ Báo điện tử Hà Nội mới (theo BBC). “Robot sát thủ của Hàn Quốc”. www.hanoimoi.com.vn.
  163. ^ Vũ Anh (theo Reuters) (9 tháng 4 năm 2021). “Hàn Quốc ra mắt tiêm kích đắt nhất lịch sử”. vnexpress.net.
  164. ^ Department Global Communication and Contents Division. “International Relations”. www.korea.net.
  165. ^ “Development Assistance Committee (DAC)”. www.oecd.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  166. ^ "Quan hệ đồng minh Hàn-Mỹ vẫn đang vững chắc". world.kbs.co.kr. 28 tháng 11 năm 2019.
  167. ^ McCurry, Justin (ngày 15 tháng 8 năm 2019). “Korean peninsula will be united by 2045, says Seoul amid Japan row”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019.
  168. ^ “통일연구원”. www.kinu.or.kr. Truy cập 17 Tháng tư 2021.
  169. ^ 2014 World Service Poll Lưu trữ 2015-03-05 tại Wayback Machine BBC
  170. ^ Vietnam+ (31 tháng 12 năm 2019). “Hàn Quốc là quốc gia viện trợ nhiều nhất cho Triều Tiên trong năm 2019”. www.vietnamplus.vn.
  171. ^ “South Korea Country Profile”. MIT. ngày 10 tháng 3 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2018.
  172. ^ Trọng Thuấn (theo AFP) (9 tháng 3 năm 2019). “Bóng ma thực dân Nhật Bản và sự chia rẽ 100 năm chưa nguôi ở Hàn Quốc”. zingnews.vn.
  173. ^ The official Dokdo site by Gyeonsangbuk-do Province of Republic of Korea Official videos and a few more promotional materials in many languages.
  174. ^ Dokdo in the East Sea Detailed consideration, old maps and other resources on Dokdo Historical Issues by Northeast Asian History Foundation, in 4 languages
  175. ^ The Issue of Takeshima The Ministry of Foreign Affairs of Japan
  176. ^ a b Bảo Anh (theo SCMP). “Hàn Quốc cảnh báo Nhật Bản không hạn chế xuất khẩu công nghệ cao”. vnexpress.net.
  177. ^ Ánh Ngọc (theo SCMP). “Làn sóng tẩy chay hàng Nhật Bản tại Hàn Quốc giữa căng thẳng thương mại”. vnexpress.net.
  178. ^ a b Hà Thu (theo Diplomat/CNN). “Căng thẳng thương mại Nhật – Hàn ngày càng trầm trọng”. vnexpress.net.
  179. ^ Vũ Anh (theo AFP). “Hàn Quốc ngừng chia sẻ tin tình báo với Nhật”. vnexpress.net.
  180. ^ Như Phúc (theo CNN). “Mâu thuẫn Nhật - Hàn đe dọa nguồn cung chip nhớ toàn cầu”. vnexpress.net.
  181. ^ Bảo Anh (theo Bloomberg, Reuters). “Các hãng công nghệ có thể rơi vào cuộc chiến thương mại mới”. vnexpress.net.
  182. ^ Bảo Lâm (theo CNBC). “Xung đột Nhật - Hàn có thể đẩy giá smartphone lên cao”. vnexpress.net.
  183. ^ “韓国政府による日本文化開放政策(概要)” [Chính sách mở văn hóa đại chúng Nhật Bản của chính phủ Hàn Quốc (bản thảo)]. Đại sứ quán Nhật Bản tại Hàn Quốc (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2010.
  184. ^ “정병국 "일본 드라마 개방할 때 됐다"(종합)” [Chung Byoung-guk: 'Đã đến lúc mở cửa cho phim truyền hình Nhật Bản']. www.yna.co.kr (bằng tiếng Hàn).
  185. ^ namsh@yna.co.kr. “<芸能>韓国アイドルの新曲 日本語使用で「放送不適合」”. jp.yna.co.kr.
  186. ^ Kenta Kawasaki (Fuji News Network). “今や韓国に完敗!? 日本の大衆文化開放から20年”. www.fnn.jp (bằng tiếng Nhật).
  187. ^ Tselichtchev, Ivan (8 tháng 10 năm 2017). “Beyond THAAD: the real reason why China is angry with South Korea”. www.scmp.com. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  188. ^ "Background Briefing with a Senior Administration Official on National Security Advisor Susan Rice's Visit to China ngày 26 tháng 7 năm 2016." Beijing/China. Embassy of the United States, n.d. Web.
  189. ^ “Lotte của Hàn Quốc đành rút khỏi Trung Quốc”. www.bbc.com/vietnamese. 15 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  190. ^ Mullen, Jethro; Han, Sol (ngày 7 tháng 3 năm 2017). “One company is bearing the brunt of China's anger over U.S. missile system”. CNN Money. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017.
  191. ^ Hernandez, Javier; Guo, Owen; McMorrow, Ryan (ngày 9 tháng 3 năm 2017). “South Korean Stores Feel China's Wrath as U.S. Missile System Is Deployed”. The New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017.
  192. ^ News Agencies (23 tháng 12 năm 2019). “South Korea and China look to improve ties after THAAD dispute”. www.aljazeera.com. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  193. ^ Tisdall, Simon. "Wikileaks Cables Reveal China 'ready to Abandon North Korea'" The Guardian, 29 Nov. 2010. Web. 7 Dec. 2010.<https://www.theguardian.com/world/2010/nov/29/wikileaks-cables-china-reunified-korea>
  194. ^ “People around the globe are divided in their opinions of China”. Pew Research Center. ngày 30 tháng 9 năm 2019.
  195. ^ a b Thanh Tâm (theo SCMP) (15 tháng 4 năm 2021). “Người Hàn ngày càng mất thiện cảm với Trung Quốc”. vnexpress.net.
  196. ^ Choe Sang-Hun (The New York Times) (20 tháng 8 năm 2021). “South Koreans Now Dislike China More Than They Dislike Japan”. www.nytimes.com.
  197. ^ Hồng Hạnh (theo Guardian) (1 tháng 12 năm 2020). “Dân Trung - Hàn đấu khẩu vì kimchi”. vnexpress.net.
  198. ^ Hồ Thiên (theo Reuters) (1 tháng 12 năm 2020). “Dân mạng Trung Quốc và Hàn Quốc khẩu chiến về kim chi”. cand.com.vn.
  199. ^ Vĩnh Khang (2 tháng 12 năm 2020). “Cư dân mạng Hàn - Trung tranh cãi nảy lửa về kim chi”. plo.vn.
  200. ^ Josephine Tee, Elaine Yau & Jonathan Wong (12 tháng 2 năm 2021). “Chinese niangao vs Korean tteokbokki – which rice cake dish came first, and what's the origin story of the tasty Lunar New Year staple?”. www.scmp.com.
  201. ^ Anh Minh (26 tháng 11 năm 2020). “10 quốc gia du khách muốn tới sống nhất”. vnexpress.net. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2020.
  202. ^ Thanh Thủy (26 tháng 11 năm 2019). “Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam: Samsung Electronics Thái Nguyên vẫn "giữ chặt" ngôi vương”. baodautu.vn. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  203. ^ Ngọc Hiển (16 tháng 1 năm 2019). “Doanh nghiệp FDI đứng đầu danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất VN”. tuoitre.vn. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  204. ^ Ambitious Man (15 tháng 3 năm 2019). “SAMSUNG ĐÓNG GÓP TỚI 28% TỔNG GDP CỦA VIỆT NAM NĂM 2018”. vnreview.vn. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  205. ^ Hoàng Nam (16 tháng 5 năm 2016). “Hà Nội đưa tiếng Hàn Quốc vào chương trình cấp THCS và THPT”. vov.vn.
  206. ^ Thanh Hùng (4 tháng 3 năm 2021). “Giáo dục: Tiếng Hàn trở thành môn học 'bắt buộc' từ lớp 3”. vietnamnet.vn.
  207. ^ Dương Tâm (4 tháng 3 năm 2021). “Thí điểm dạy tiếng Hàn và Đức hệ 10 năm ở phổ thông”. vnexpress.net.
  208. ^ Dương Tâm (4 tháng 10 năm 2020). “Một ngành học lấy điểm chuẩn là 30”. vnexpress.net.
  209. ^ Dương Tâm (18 tháng 9 năm 2021). “Điểm chuẩn các ngành tiếng Hàn Quốc vượt trội”. vnexpress.net.
  210. ^ Ngọc Diệp (5 tháng 10 năm 2020). “Vì sao ngành Hàn Quốc học 'hot' đến mức lấy điểm 30/30?”. tuoitre.vn.
  211. ^ Daniel Workman (14 tháng 2 năm 2021). “South Korea's Top Trading Partners”. www.worldstopexports.com.
  212. ^ Mạnh Hùng - Hữu Tuyên (9 tháng 7 năm 2019). “Việt Nam - Hàn Quốc đẩy mạnh hợp tác phòng, chống tội phạm”. dangcongsan.vn. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  213. ^ “South Korea - Trade - European Commission”. European Commission. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2018.
  214. ^ Ramon Pacheco Pardo, Linde Desmaele and Maximilian Ernst (tháng 10 năm 2018). “Putting the EU-South Korea partnership to 'work”.
  215. ^ Hữu Tuyên (TTXVN) (31 tháng 1 năm 2020). “Hàn Quốc, EU nhất trí hợp tác chặt chẽ trong vấn đề Bán đảo Triều Tiên”. baotintuc.vn.
  216. ^ Phương Oanh (TTXVN) (24 tháng 6 năm 2021). “Hàn Quốc, EU tăng cường quan hệ quốc phòng”. baotintuc.vn.
  217. ^ Thảo Nguyên (23 tháng 6 năm 2018). “Nga - Hàn Quốc tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực”. nhandan.vn.
  218. ^ Adams, Rod. “Moon Jae-in Making Friends By Importing More Gas”. Forbes. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017.
  219. ^ “Are Warming Russia-South Korea Relations a Game-changer?”. The Diplomat. ngày 18 tháng 7 năm 2018.
  220. ^ “South Korea, Russia to begin preparations for FTA negotiations: Moon”. The Straits Times. ngày 22 tháng 6 năm 2018.
  221. ^ Vũ Anh (8 tháng 11 năm 2019). “Mỹ muốn Hàn Quốc trả gần 5 tỷ USD 'phí bảo vệ'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  222. ^ Ánh Ngọc (15 tháng 11 năm 2019). “Mỹ nói Hàn Quốc giàu, cần chi thêm 'phí bảo vệ'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  223. ^ Huyền Lê (10 tháng 2 năm 2019). “Hàn Quốc chấp thuận gánh thêm chi phí quân sự với Mỹ”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  224. ^ Vũ Anh (8 tháng 8 năm 2019). “Trump: Hàn Quốc đồng ý trả thêm 'phí bảo vệ' cho Mỹ”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  225. ^ Phương Vũ (19 tháng 12 năm 2019). “Mỹ - Hàn bất đồng về 'phí bảo vệ'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  226. ^ Vũ Anh (theo Reuters) (10 tháng 3 năm 2021). “Hàn Quốc trả hơn một tỷ USD 'phí bảo vệ' cho Mỹ”. vnexpress.net.
  227. ^ Lee Yong-soo (6 tháng 7 năm 2018). “New U.S. Ambassador Says Hello to S.Koreans”. english.chosun.com.
  228. ^ a b “Major Indicators of Korea”. Korean Statistical Information Service. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2016.
  229. ^ “South Korea”. CIA Country Studies. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2006.
  230. ^ World Population Review. “Seoul Population 2021”. worldpopulationreview.com.
  231. ^ Populations for all cities tính đến năm 2005, “Summary of Census Population (by administrative district/sex/age)”. NSO Database. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2009.
  232. ^ Kim Rahn (ngày 22 tháng 5 năm 2009). “South Korea's birthrate world's lowest”. The Korea Times. Seoul. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010.
  233. ^ “South Korea: Lowest Birthrate in the World”. LifeSiteNews. ngày 28 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010.
  234. ^ “South Korea”. CIA World Factbook. ngày 26 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
  235. ^ Anh Ngọc (Theo Bloomberg). “Hàn Quốc đau đầu trước xu hướng phụ nữ quay lưng với hôn nhân”. vnexpress.net.
  236. ^ "Childbirths in S. Korea grow 5.7 pct in 2010" Lưu trữ 2012-05-26 tại Wayback Machine. Yonhap News Agency. ngày 24 tháng 8 năm 2011.
  237. ^ "Korea's Total Fertility Rate Still Near the Bottom of the World" Lưu trữ 2011-11-19 tại Wayback Machine. The Chosun Ilbo. ngày 17 tháng 11 năm 2011.
  238. ^ “The World Factbook”. CIA. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2013.
  239. ^ Life expectancy at birth, total (years) |Data |Table. Data.worldbank.org. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2016.
  240. ^ Leipziger, Danny (ngày 6 tháng 2 năm 2014). “South Korea's Japanese Mirror”. The Diplomat. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014.
  241. ^ An Hồng. “Thanh niên Hàn Quốc ngại hẹn hò, sợ kết hôn, không sinh con”. vnexpress.net.
  242. ^ Hồng Hạnh (theo CNN/FT). “Hàn Quốc đối mặt tỷ lệ sinh thấp kỷ lục”. vnexpress.net.
  243. ^ Hoài Thu (11 tháng 7 năm 2021). "Thế hệ Sampo" Hàn Quốc: Thích sống độc thân, không sinh con”. baophapluat.vn.
  244. ^ Park, Hyejeong (1 tháng 2 năm 2012). “20's and 30's, four in every 10 people "I'm a Sampo Generation (20~30대 10명중 4명 "나는 삼포세대")”. asia economy. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013.
  245. ^ Hồng Hạnh (14 tháng 7 năm 2019). “Chính sách thúc đẩy đàn ông Hàn Quốc 'mua' cô dâu nước ngoài”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  246. ^ Ngọc Ánh (theo Korea Times) (31 tháng 5 năm 2021). “Thành phố Hàn khuyến khích nông dân cưới du học sinh Việt”. vnexpress.net.
  247. ^ “문서뷰어”. viewer.moj.go.kr.
  248. ^ An Hồng (20 tháng 11 năm 2017). “Phụ nữ Việt trở thành nhóm cô dâu ngoại quốc đông nhất Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  249. ^ Anh Ngọc (1 tháng 3 năm 2018). “Hơn 70% cô dâu ngoại ở Hàn Quốc là người Việt”. vnexpress.net.
  250. ^ Việt Anh (5 tháng 9 năm 2018). “Mỗi năm có 6.000 cô dâu Việt đến Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  251. ^ Tạ Lư (12 tháng 7 năm 2019). “Thực trạng cô dâu ngoại ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  252. ^ Vũ Hoàng (11 tháng 7 năm 2019). “Những cô dâu ngoại bị chối bỏ ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  253. ^ Thùy Linh (theo CNN). “Người Hàn Quốc quay cuồng trong áp lực làm thêm giờ”. vnexpress.net.
  254. ^ An Hồng. “Cuộc chiến tìm việc gian nan của thanh niên Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  255. ^ An Hồng. “Làn sóng người trẻ Hàn Quốc muốn rời khỏi đất nước”. vnexpress.net.
  256. ^ “Japan's suicide rate exceeds world average: WHO report The Japan Times”. The Japan Times. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015.
  257. ^ Young-ha Kim (2 tháng 4 năm 2014). “South Korea's Struggle With Suicide”. www.nytimes.com.
  258. ^ “North Korea's suicide rate among worst in world, says WHO report”. the Guardian. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015.
  259. ^ Thùy Linh (Theo Koreabiz) (21 tháng 1 năm 2021). “Giới trẻ Hàn Quốc có xu hướng bạo lực vì thiếu việc làm”. vnexpress.net.
  260. ^ a b c Hoàng Phong (theo Korea Herald) (23 tháng 6 năm 2021). “Người già Hàn Quốc chật vật mưu sinh”. vnexpress.net.
  261. ^ Duyên Nguyễn (1 tháng 10 năm 2015). “Bi kịch của gái mại dâm U80 ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  262. ^ Hồng Hạnh (30 tháng 3 năm 2017). “Nỗi đau của gái mại dâm U80 ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  263. ^ Minh Anh (5 tháng 12 năm 2019). “Giải mã hiện tượng người già phạm tội ở Hàn Quốc”. baophapluat.vn. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  264. ^ Trần Phương (19 tháng 12 năm 2018). “Băng đảng thanh niên Hàn Quốc không đáng lo bằng... 'tội phạm tóc bạc'. tuoitre.vn. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  265. ^ Anh Duy (19 tháng 12 năm 2018). “Làn sóng tội phạm "đầu bạc" phản ánh góc tối xã hội Hàn Quốc”. congan.com.vn. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  266. ^ Hồng Hạnh. “Làm việc đến khi chết - bi kịch của người già Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  267. ^ Hàn Quốc sốc vì tự tử ở đại học quý tộc Đình Ngân, Vietnamnet, 24/05/2011, theo New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011.
  268. ^ “Death rate from suicides”. Our World in Data. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2020.
  269. ^ “Share of deaths from suicide”. Our World in Data. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2020.
  270. ^ Thanh Cao (30 tháng 6 năm 2017). “Park Yong Ha - từ ngôi sao Hallyu đến bi kịch tự tử”. vnexpress.net.
  271. ^ 5 vụ tự tử chấn động học viện danh tiếng Lơ Nguyễn (Tổng hợp từ Korea Herald/Asia News Network), Vietnamet, 11/04/2011. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011.
  272. ^ Huyền Lê (10 tháng 7 năm 2020). “Buổi chiều định mệnh của thị trưởng Seoul”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  273. ^ Anh Ngọc (10 tháng 7 năm 2020). “Lời tuyệt mệnh của thị trưởng Seoul”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  274. ^ Anh Ngọc (11 tháng 7 năm 2020). “Cảnh sát kết luận thị trưởng Seoul tự tử”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  275. ^ Phương Vũ (10 tháng 7 năm 2020). “Thị trưởng Seoul chết vì tình hay tiền?”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  276. ^ Đăng Khoa (14 tháng 5 năm 2010). “Nạn tự tử tập thể ở Hàn Quốc”. plo.vn.
  277. ^ a b Khóa học chết thử ở Hàn Quốc VnExpress. 11/7/2011. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011.
  278. ^ “Xem trước khi in: Tỉ lệ tự tử ở Hàn Quốc tăng gấp đôi trong vòng 5 năm”. Báo Điện tử Tiền Phong. Truy cập 1 tháng 2 năm 2016.
  279. ^ Thùy Linh (dịch theo Worldatlas) (24 tháng 10 năm 2019). “5 quốc gia người lao động phải làm việc nhiều nhất trên thế giới”. giadinhvietnam.com.
  280. ^ Hồng Hạnh (6 tháng 7 năm 2017). “Làm việc tới chết ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  281. ^ Hồng Hạnh. “Nỗi đau sau 'làm việc tới chết' ở Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  282. ^ An Hồng. 'Nền kinh tế độc thân' ở Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  283. ^ Hendin, Herbert, Shuiyuan Xiao, Xianyun Li, Tran Thanh Huong, Hong Wang, and Ulrich Hegerl. "Suicide Prevention in Asia: Future Directions." WHO. Truy cập November 4, 2014. http://www.who.int/mental_health/resources/suicide_prevention_asia_chapter10.pdf
  284. ^ South Korea has the highest rate of deaths by suicide in the developed world — but a 2011 law helped decrease rates by 15% - Business Insider ngày 9 tháng 7 năm 2018
  285. ^ “International Religious Freedom Report 2008 - Korea, Republic of”. State.gov. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  286. ^ “The Korea Times:Islam takes root and blooms”. Islamawareness.net. ngày 22 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.