Bán đảo Triều Tiên

nước khu vực Đông Á:Gồm Nam+Bắc Hàn

Bán đảo Triều Tiên hoặc Bán đảo Hàn là để ám chỉ Triều Tiên(Hàn), Triều Tiên là chỉ dải đất và khu vực văn hóa nằm nhô ra biển ở Đông Á, đây là khu vực của 1 dân tộc thuần chủng và thống nhất duy nhất trên xứ sở này (Người Triều Tiên hoặc còn gọi là người Hàn); nó thì có đường biên giới đất liền với Trung Quốc. Bán đảo này bắt đầu từ lục địa Châu Á chạy dài về phía nam 1.100 km từ sông Đồ Môn cho đến đảo Jeju. Triều Tiên là khu vực được bao bọc bởi biển ở ba phía:

Bán đảo Triều Tiên
Hangul한반도; Hanja韓半島; RomajaHan Bando
(CHDCND Triều Tiên)
Chosŏn'gŭl조선반도; Hancha朝鮮半島; McCune–ReischauerChosŏn Pando
(Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản)
N Korea sat image.jpg
Vị tríTriều Tiên
Tọa độLỗi Lua trong Mô_đun:Coordinates tại dòng 461: attempt to index field '?' (a number value).
Mộa phần củaĐông Á
Vùng nước ngoài khơiBiển Nhật Bản (Biển Đông), Biển Hoa Đông, Hoàng Hải (Biển Tây), Eo biển Triều Tiên
Điểm cao nhất
 – độ cao
Núi Paektu
2.744 m (9.003 ft)
Chiều dài1.100 km (680 dặm)
Diện tích220.748 km2 (85.231 dặm vuông Anh)
Đất liền: 217,818 km2 (84,100 dặm vuông Anh)
Nước: 2.293 km2 (885 dặm vuông Anh)
Bán đảo Triều Tiên

Eo biển Triều Tiên là nơi phân cách Biển Nhật Bản và Biển Hoa Đông.

Cho đến năm 1948, Triều Tiên vẫn là một thực thể chính trị-xã hội và kinh tế thống nhất. Từ sau khi chiến tranh Triều Tiên ngừng bắn năm 1953, bán đảo này luôn bị chính thức chia cắt lâu dài thành hai quốc gia tại 2 miền đất nước là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Triều Tiên hoặc Bắc Triều Tiên) và Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc, Đại Hàn hoặc Nam Hàn). 2 miền đối địch và thù ghét nhau này đang nỗ lực xây dựng hòa bình và tái thống nhất đất nước làm thành 1 mối duy nhất.

Ranh giới phía bắc của bán đảo Triều Tiên trùng khớp với biên giới của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên với Trung Quốc (Trung Quốc đại lục) (dài 1.416 km) và Nga (dài 19 km). Đây là các đường biên giới tự nhiên gồm sông Áp Lụcsông Đồ Môn. Tổng diện tích bán đảo Triều Tiên khoảng 220.000 km².

Tên gọiSửa đổi

Tên của bán đảo, bằng tiếng Triều Tiên, tiếng TrungTiếng Nhật, đều có chung nguồn gốc, đó là "Triều Tiên" (Joseon), tên cũ Triều Tiên dưới nhà Triều TiênCổ Triều Tiên thậm chí còn lâu hơn trước đó. Trong tiếng Triều Tiên chuẩn, bán đảo được gọi là Chosŏn Pando (Chosŏn'gŭl조선반도; Hancha朝鮮半島; RomajaJoseon Bando; McCune–ReischauerChŏsŏn Bandŏ), trong khi ở Trung Quốc nó được gọi là Triều Tiên bán đảo; Cháoxiǎn Bàndǎo (朝鲜半岛/朝鮮半島).Ở Nhật Bản, nó là một trong hai Chōsenhantō (Kanji: 朝鮮半島 / Hiragana: ちょうせんはんとう) hoặc Kanhantō (chỉ dành riêng cho Hàn Quốc) (Kanji: 韓半島 / Hiragana: かんはんとう). Tại nước ta, thường gọi "Bán đảo Triều Tiên". Trong khi đó, ở Hàn Quốc, nó được gọi là Hanbando (Hangul한반도; Hanja韓半島; Hán-Việt: Hàn bán đảo), đề cập đến Tam Hàn, cụ thể là Tam Quốc, không phải là các liên minh cổ đại ở bán đảo phía Hàn Quốc.[1][2] Cả hai đều sử dụng "Korea" như một phần của tên tiếng Anh chính thức của họ, đó là một tên xuất phát từ Cao Ly (hay Koryŏ, ở CHDCND Triều Tiên) (고려; 高麗).

Địa lýSửa đổi

Núi non chiếm 70% diện tích bán đảo Triều Tiên, những bình nguyên có thể trồng trọt đều nhỏ và bị chia cắt bởi các dãy núi. Địa hình sơn cước càng điển hình khi tiến xa hơn về phía bắc và phía đông, những đỉnh núi cao nhất của bán đảo nằm ở phía bắc, ngọn cao nhất là Bạch Đầu Sơn, 2.744 m.

Toàn bán đảo có 8.460 km bờ biển, các bờ biển phía tây và nam đặc biệt khúc khuỷu, phần lớn trong số 3.579 đảo của bán đảo phân bố ở bờ biển phía tây và nam.

Lịch sửSửa đổi

Cho đến khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, Triều Tiên chỉ có 1 chính quyền trung ương duy nhất. Vào tháng 8 năm 1945, Liên Xô đã tuyên chiến với Đế quốc Nhật Bản, là kết quả của một thỏa thuận với Hoa Kỳ, và giải phóng Triều Tiên ở phía bắc của vĩ tuyến 38. Các lực lượng Hoa Kỳ sau đó đã di chuyển vào phía nam.[3] Đến năm 1948, một sản phẩm của Chiến tranh Lạnh giữa Liên XôHoa Kỳ, Triều Tiên đã có sự đã phân chia thành hai khu vực, với các chính phủ riêng biệt khiến cho việc tái thống nhất 2 miền thêm nhiều khó khăn vì khiến cho sự chia cắt thêm sâu sắc khi hợp thức hóa việc tồn tại 2 chính quyền ở 2 khu vực. Cả hai đều tuyên bố là chính phủ hợp pháp của tất cả Triều Tiên và không chấp nhận biên giới là lâu dài. Cuộc xung đột leo thang thành chiến tranh mở khi các lực lượng Triều Tiên được Liên Xô và Trung Quốc hỗ trợ di chuyển vào miền Nam vào ngày 25 tháng 6 năm 1950. Kể từ khi Hiệp định đình chiến chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên vào năm 1953, phần phía bắc của bán đảo đã được cai trị bởi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, trong khi phần phía nam được cai trị bởi Hàn Quốc.[4]

Ranh giới phía bắc của Bán đảo Triều Tiên là phổ biến (và ngầm) được đưa ra trùng với biên giới chính trị ngày nay giữa CHDCND Triều Tiên và các nước láng giềng phía bắc, Trung Quốc (1.416 km (880 dặm) dọc theo các tỉnh Cát LâmLiêu Ninh) và Nga (19 km (12 dặm)). Các đường viền này được hình thành tự nhiên bởi các con sông Áp LụcĐồ Môn.[5] Theo định nghĩa này, Bán đảo Triều Tiên (bao gồm các đảo của nó) có diện tích là 220.847 km2 (85.270 dặm vuông Anh).

Khí hậuSửa đổi

Khí hậu trên bán đảo Triều Tiên khác biệt rất rõ giữa miền nam và miền bắc. Miền nam của bán đảo có khí hậu khá ấm và ẩm giống với Nhật Bản nhờ ảnh hưởng của các dòng nước ấm từ đại dương trong đó có Dòng nước ấm tây Triều Tiên. Miền bắc mang khí hậu lạnh và thiên về khí hậu lục địa giống như Mãn Châu. Ví dụ, lượng mưa hàng năm ở thung lũng sông Áp Lục là 600 mm, trong khi tại bờ biển phía nam bán đảo là 1.500 mm. Tương tự, nhiệt độ vào tháng Giêng ở hai miền bắc, nam bán đảo chênh lệch nhau tới 20 °C.

Tuy nhiên, toàn bộ bán đảo có mô hình khí hậu tương đồng: giữa mùa hè có gió mùa và thường có bão nhiệt đới vào mùa thu. Mưa chủ yếu xảy ra trong những tháng hè mà gần nửa lượng mưa vào thời gian gió mùa. Mùa đông lạnh giá, nhiệt độ trong tháng Giêng thường dưới không độ, ngoại trừ đảo Jeju. Lượng mưa trong mùa đông là rất ít, chỉ một chút tuyết ngoài những vùng núi.

Mùa xuânSửa đổi

Khi ảnh hưởng từ Siberia suy yếu, nhiệt độ bắt đầu tăng lên trong khi áp suất cao bắt đầu di chuyển đi. Nếu thời tiết khô bất thường, Siberia sẽ có ảnh hưởng nhiều hơn đến bán đảo dẫn đến thời tiết lạnh giá như tuyết.[6]

Mùa hạSửa đổi

Trong tháng sáu vào đầu mùa hè, có xu hướng có nhiều mưa do không khí lạnh và ẩm ướt từ biển Okhotsk và không khí nóng và ẩm từ Thái Bình Dương kết hợp. Khi các mặt trận này kết hợp, nó dẫn đến một mùa mưa được gọi là những ngày thường có mây và mưa, đôi khi rất nặng nề. Gió nóng và ẩm từ gió tây nam thổi vào làm tăng độ ẩm và điều này dẫn đến các mặt trận di chuyển về phía Mãn Châu ở Trung Quốc và do đó có ít mưa hơn và đây được gọi là giữa mùa hè; nhiệt độ có thể vượt quá 30 °C (86 °F) hàng ngày vào thời điểm này trong năm.

Mùa thuSửa đổi

Thông thường, áp suất cao chiếm ưu thế lớn trong mùa thu dẫn đến điều kiện rõ ràng. Hơn nữa, nhiệt độ vẫn cao nhưng độ ẩm trở nên tương đối thấp.

Mùa đôngSửa đổi

Thời tiết ngày càng bị chi phối bởi Siberia trong mùa đông và dòng máy bay phản lực di chuyển xa hơn về phía nam khiến nhiệt độ giảm. Mùa này tương đối khô với một số tuyết rơi vào thời điểm đó.

Quần thể sinh vậtSửa đổi

 
Thông Triều Tiên

Các cuộc điều tra quần thực vật ở Triều Tiên đã xác định có 3.000 loài, trong đó hơn 500 là loài đặc hữu. Các vùng thực vật được chia thành vùng ôn đới, ôn đới ấm và ôn đới lạnh.

Vùng ôn đới ấm chiếm ưu thế ở các bờ biển phía nam, các hòn đảo ngoài khơi và đảo Jeju. Vùng này đặc trưng bởi các cây lá rộng bản xanh tốt quanh năm.

Vùng ôn đới bao trùm phần lớn bán đảo, ngoại trừ bờ biển phía nam và những ngọn núi cao. Cây chủ yếu của vùng này là thông Triều Tiên và các cây lá rộng bản có thay lá trong năm.

Thực vật vùng ôn đới lạnh có ở các bìa rừng phía bắc và trên núi cao bao gồm cả đỉnh Hallasan cao nhất đảo Jeju. Những cây có lá quanh năm là thông rụng lá và bách xù. Phần lớn thực vật của vùng ôn đới lạnh tương tự Mãn Châu.

Địa chấtSửa đổi

 
Hồ hình thành từ miệng núi lửa trên đảo Jeju

Địa hình bán đảo Triều Tiên nhấp nhô do những dãy núi thấp, cổ. Phần lớn đá có nguồn gốc từ rất lâu, trước Liên đại Hiển Sinh. Song, cũng có những khu vực phân tán, hình thành ở đại Cổ Sinh, đại Trung Sinhđại Tân Sinh.

Không có núi lửa đang hoạt động trên bán đảo. Nhưng ở Bạch Đầu Sơn phía bắc và Hallasan trên đảo Jeju có các hồ hình thành từ miệng núi lửa cho thấy núi lửa đã hoạt động trước đây không lâu. Thêm vào đó, đảo Ulleungo và nhóm đảo nhỏ Dokdo trên biển Nhật Bản được cho là có nguồn gốc từ núi lửa. Hơn nữa, các suối nước nóng phân bố khắp bán đảo là dấu hiệu của hoạt động núi lửa ở mức độ thấp. Nhìn chung, hàng năm bán đảo chịu hai trận động đất nhưng không gây chấn động đáng kể.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 이기환 (ngày 30 tháng 8 năm 2017). “[이기환의 흔적의 역사]국호논쟁의 전말…대한민국이냐 고려공화국이냐”. 경향신문 (bằng tiếng Hàn). The Kyunghyang Shinmun. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2018. 
  2. ^ 이덕일. “[이덕일 사랑] 대~한민국”. 조선닷컴 (bằng tiếng Hàn). Chosun Ilbo. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2018. 
  3. ^ “Chiến tranh Triều Tiên”. 
  4. ^ Tuy nhiên, cả hai bên đều tuyên bố toàn bộ bán đảo là thuộc thẩm quyền của họ. Devine, Robert A.; Breen, T.H.; Frederickson, George M.; Williams, R. Hal; Gross, Adriela J.; Brands, H.W. (2007). America Past and Present. II: Since 1865 (ấn bản 8). Pearson Longman. tr. 819–21. ISBN 978-0321446619. 
  5. ^ “Identity, Policy, and Prosperity: Border Nationality of the Korean Diaspora”. 
  6. ^ “Climate of Korea: Climatic Data”. 

Liên kết ngoàiSửa đổi

Tọa độ: 37°B 127°Đ / 37°B 127°Đ / 37; 127