Chủ nghĩa dân tộc

Thế giới quan và các phong trào vận động xã hội các nước liên quan vì các dân tộc họ, chính trị vì nước-xã hội tốt.

Chủ nghĩa dân tộc (tiếng Anh: nationalism), là một khái niệm phức tạp, có tính đa chiều, liên quan đến nhận biết cộng đồng (communal identification) với dân tộc (nation) của một người. Chủ nghĩa dân tộc không phải là một hệ tư tưởng nhất thể, nhưng các chủ nghĩa dân tộc khác nhau có những điểm tương đồng nhất định. Thông thường nó hay được hiểu là một ý thức hệ thúc đẩy sự thống nhất của một cộng đồng người thành một dân tộc. Khái niệm này hay được cho là ra đời vào cuối thế kỷ XVIII, trong các tác phẩm của các nhà Khai sáng. Trong Cách mạng Pháp, chủ nghĩa dân tộc đặt dân tộc, những người dân là hiện thân của đất nước, đưa ra khái niệm quốc gia dân tộc, trái ngược với tầm nhìn của chế độ cũ vua Pháp là hiện thân đất nước. Khi đó chủ nghĩa dân tộc là cánh tả, nó đi kèm với khái niệm quốc tịch, quyền công dân, quyền tự quyết dân tộc, các giá trị tự do dân chủ. Johann Gottfried von Herder một người được cho là theo chủ nghĩa dân tộc bảo thủ Đức, hay được xem như là một trong những người định nghĩa sớm nhất về chủ nghĩa dân tộc, khi ông cho rằng Vua cũng như nông dân, đều là thuộc về một giai cấp, là Volk (mọi người), nhằm bác bỏ lý thuyết giai cấp của những người cộng sản, và đề cao văn hóa dân tộc bác bỏ lý thuyết khế ước xã hội của chủ nghĩa tự do[1].

Theo Anthony D. Smith, Ý thức hệ chính trị này hướng đến việc giành được, và duy trì sự tự trị (self-governance), hoặc chủ quyền hoàn toàn (full sovereignty), trên một vùng lãnh thổ có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với một nhóm người (như là tổ quốc của họ). Chủ nghĩa dân tộc do đó cho rằng một dân tộc nên tự mình cai trị, không bị ảnh hưởng từ bên ngoài, và được kết nối với khái niệm self-determination (tự xác định, tự định hướng). Xa hơn nữa, chủ nghĩa dân tộc còn hướng đến sự phát triển và duy trì bản sắc dân tộc (national identity) dựa trên các đặc trưng chung như văn hóa, ngôn ngữ, chủng tộc, tôn giáo, các mục tiêu chính trị và/hoặc niềm tin về tổ tiên chung.[2][3] Vì vậy, chủ nghĩa dân tộc tìm cách bảo tồn văn hóa của dân tộc. Nó cũng thường liên quan cảm giác tự hào về những thành tựu của dân tộc, và có sự liên kết chặt chẽ với khái niệm chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa dân tộc theo các nghĩa này có thể tích cực hay tiêu cực.[4]

Do đa số các quốc gia là đa sắc tộc hoặc có nhiều nhóm tự nhận vị thế quốc gia[5]. Chủ nghĩa dân tộc là một hiện tượng xã hội mạnh mẽ trên thế giới, khi các quốc kỳ, quốc ca, và những sự phân biệt quốc gia là các ví dụ về chủ nghĩa dân tộc sáo rỗng (banal nationalism) mà người ta thường thể hiện một cách vô thức.[6] Hơn nữa, một số học giả cho rằng chủ nghĩa dân tộc với hình thức tình cảm hoặc văn hóa, mà đôi khi được miêu tả bằng từ 'bản sắc dân tộc' (national identity) để tránh ảnh hưởng của nghĩa "hệ tư tưởng", là nền tảng xã hội hiện đại. Công nghiệp hóa, dân chủ hóa, và sự ủng hộ đối với sự tái phân bố kinh tế đã phần nào đóng góp cho sự đoàn kết xã hội mà chủ nghĩa dân tộc mang lại.[7][8][9] Chủ nghĩa dân tộc đã giữ vai trò ảnh hưởng chính hay nguyên nhân của Chiến tranh thế giới thứ nhất, và đặc biệt là Chiến tranh thế giới thứ hai do sự nổi lên của chủ nghĩa phát xít), một hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cấp tiến và độc đoán.[10][11][12][13]

Chủ nghĩa dân tộc lý giải quyền lực nhà nước hình thành trên cơ sở dân tộc, khác với những người theo chủ nghĩa Marx cho quyền lực nhà nước trên cơ sở phân hóa giai cấp, hay chủ nghĩa tự do quyền lực Nhà nước trên cơ sở khế ước xã hội của các cá nhân. Chủ nghĩa dân tộc góp phần quan trọng hình thành nên các quốc gia từ các phong trào giải phóng dân tộc hay ly khai, hoặc có ảnh hưởng các chính sách dân tộc của nhà nước. Chính sách dân tộc chủ nghĩa có thể biểu hiện qua chính sách kinh tế, văn hóa, ví dụ cấm (hạn chế) nhập một hàng hóa từ bên ngoài vào để bảo vệ hàng nội, hay cấm (hạn chế) các tư tưởng, văn hóa, sản phẩm nghệ thuật từ bên ngoài vào để bảo vệ văn hóa, tư tưởng dân tộc, hay các sản phẩm văn hóa quốc nội, những chính sách mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa này không đồng nghĩa có lợi cho toàn thể dân tộc, mà có khi chỉ cho một nhóm người (ví dụ những người đang sản xuất mặt hàng, sản phẩm đó,...). Chủ nghĩa dân tộc thường được xem là rộng hơn, có tính chính trị hơn và không hoàn toàn trùng nhau với chủ nghĩa yêu nước, một khái niệm có tính mơ hồ hơn. Nó khởi nguồn cho rất nhiều các cuộc chiến tranh hoặc các tư tưởng bài ngoại, đóng cửa, phân biệt chủng tộc (như Đảng Dân tộc ở Nam Phi trước đây), kỳ thị sắc tộc thiểu số hay tôn giáo thiểu số (như ở Myanmar một thời), đối xử tệ với thổ dân (như ở châu Mỹ và Úc một thời), sự xích lại của một dân tộc trong một khu vực không phân biệt lãnh thổ. Sở dĩ từ chủ nghĩa dân tộc hay được những người cánh tả gọi là để phân biệt với chủ nghĩa quốc gia, vì mục tiêu dân tộc gắn với chủ nghĩa quốc tế, không tách rời nhau (như giải phóng dân tộc gắn với giải phóng nhân loại), chứ không hiểu là chủ nghĩa quốc gia hay được họ xem là gắn với phân biệt, kỳ thị chủng tộc, đế quốc hay nhân danh chủ nghĩa quốc gia để bảo vệ lợi ích những người cai trị. Quốc gia gắn liền với cương vực lãnh thổ, địa lý, còn dân tộc là một khái niệm khác.

Về cơ bản hầu hết các khuynh hướng chính trị ở các quốc gia đều chịu ảnh hưởng ít nhiều của chủ nghĩa dân tộc nhưng lý giải khác nhau. Thông thường chủ nghĩa dân tộc hay gắn bó với cánh hữu hơn vì họ coi trọng đoàn kết dân tộc, bảo vệ quyền lợi quốc gia - dân tộc hơn là tính đến các vấn đề giai cấp, và ít chịu ảnh hưởng hơn của chủ nghĩa quốc tế. Đôi khi chủ nghĩa dân tộc đi kèm với chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa nhà nước, và đối trọng với chủ nghĩa tự do coi trọng bảo vệ quyền cá nhân hơn. Do bản chất dân tộc là một khái niệm tranh cãi, cho nên chủ nghĩa dân tộc cũng hay được xem là mơ hồ, trong một sự cố gắng liên kết của những nhóm người có cùng huyết thống, màu da, hay ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo,...

Một số phong trào chủ nghĩa dân tộc hiện nay có thể có hình thức hùng biện chính trị mị dân hoặc chiến lược liên kết với chủ nghĩa dân túy.

Trong thời gian Đại dịch COVID-19, Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres nhiều lần cảnh báo nguy cơ thuyết âm mưu kích động chủ nghĩa dân tộc đe dọa hòa bình thế giới, gây ra các cuộc xung đột, phân biệt sắc tộc, bài ngoại, dân túy, thi hành các chính sách độc đoán, vi phạm quyền con người...[14][15][16]

Thuật ngữ

Trước năm 1800, ở châu Âu, từ nation (dân tộc) được dùng để chỉ những cư dân (inhabitant) của một quốc gia (country) hoặc chỉ những bản sắc tập thể (collective identity) có thể có chung lịch sử, luật pháp, các quyền chính trị, tôn giáo và truyền thống, với nghĩa tương đối giống với quan niệm hiện nay.[17]

Chủ nghĩa dân tộc (tiếng Anh: Nationalism, còn được dịch thành: tư tưởng dân tộc, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa quốc dân) là một thuật ngữ mới hơn; trong tiếng Anh thuật ngữ này có từ năm 1844, mặc dù khái niệm thì đã có từ trước.[18] Thuật ngữ này trở nên quan trọng vào thế kỷ XIX,[19], và dần dần mang nghĩa tiêu cực từ sau năm 1914. Glenda Sluga viết rằng "Thế kỷ XX, thời đại mà người ta bị vỡ mộng với chủ nghĩa dân tộc, cũng là thời đại tuyệt vời của chủ nghĩa quốc tế."[20] Người theo chủ nghĩa dân tộc được gọi là người dân tộc chủ nghĩa (hoặc người quốc gia).

Ở Việt Nam hay dịch lẫn lộn state, nation, country, nhưng luật quốc tế có sự phân biệt. Chữ state hay country khi dịch sang tiếng Trung có nghĩa là 国家, nếu dịch từ tiếng Trung sang tiếng Việt thì quốc và nước là một, gia và nhà là một (ví dụ Nam Quốc sơn hà nam đế cư, có nghĩa Sông núi nước Nam vua Nam ở, theo thuyết Trung quân ái quốc của thời phong kiến, quốc gia gắn với nhà nước, với vua, khác với khái niệm công dân vay mượn từ phương Tây). Chữ "quốc gia" và "nhà nước" của Việt Nam là vay mượn từ tiếng Hán. Nhưng ở Trung Quốc, thì quốc gia và nhà nước là một. Còn chữ "dân tộc" là vay mượn từ phương Tây, chỉ vào Việt Nam khoảng đầu thế kỷ 20. Trước cận đại cả Trung Quốc và Việt Nam không hề biết đến chữ "dân tộc". Nation khi dịch sang tiếng Trung Quốc, là "quốc tộc", nhưng cũng có khi để chỉ "dân tộc" với nghĩa dân tộc cộng đồng, còn Việt Nam là "dân tộc". Người Trung Quốc lấy từ tài liệu tiếng Đức qua tiếng Nhật. Quốc tộc là từ ghép của dân tộc và quốc gia, để chỉ gắn bó dân tộc với nhà nước trong một quốc gia. Còn chữ ethnic group hay được dịch là dân tộc ở Trung Quốc (Việt Nam dịch sắc tộc). Nation ở Trung Quốc còn có thể dịch là chủng tộc. Và sự phân biệt sắc tộc hay chủng tộc thì cũng như nhau. Lòng yêu nước ở Việt Nam, bên Trung Quóc gọi là lòng ái quốc (chữ patriot người Anh vay mượn từ tiếng Pháp trung cổ). Chữ Tổ quốc người Việt vay mượn từ tiếng Trung, chỉ quốc gia tổ tiên, tức xác định nguồn gốc quê quán của một ai đó. Nó còn có nghĩa là quê hương. Ở Trung Quốc, do quốc gia và Nhà nước là một, nên chủ nghĩa nhà nước qua tiếng Trung có thể được dịch ra là chủ nghĩa quốc gia, nhấn mạnh quyền lực nhà nước, nó khác với chủ nghĩa dân tộc. Còn chữ quốc dân có từ thời Tôn Trung Sơn làm cách mạng và về sau thành lập Trung Hoa dân quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời gian hợp tác với Quốc dân Đảng không phủ nhận chữ quốc dân, nhưng họ hay dùng từ nhân dân để thay thế. Chữ "nhân dân" không phải toàn bộ quốc dân (công dân) mà có nghĩa là tất cả những quần chúng cách mạng chống lại các thế lực được họ coi là giai cấp bóc lột, Hán gian, phản cách mạng. Nhưng có một thời kỳ họ gọi là "dân chúng" (bình dân), nhưng sau đó lại dùng từ "nhân dân". Vì thế trong mắt của nhiều học giả phương Tây, Mao Trạch Đông hay được xem là chủ nghĩa dân túy, do ông thay từ giai cấp vô sản bằng khái niệm nhân dân rộng hơn. Khác với thời Tôn Trung Sơn, ban đầu chủ nghĩa dân tộc là để chỉ đòi lại quốc gia cho người Hán với Vạn Lý trường thành là biên giới, thời Mao, chủ nghĩa dân tộc là đoàn kết 56 dân tộc anh em trong một quốc gia duy nhất. Mao chủ trương chống lại chủ nghĩa Sôvanh Đại Hán, nhưng cũng chống lại chủ nghĩa dân tộc cục bộ, nên ông ta đưa ra khái niệm tự trị của các dân tộc thiểu số (Hiến pháp 1954). Nó có tác động đến Việt Nam, và thông thường ở Việt Nam 54 sắc tộc hay được xem là 54 dân tộc (chữ dân tộc trở nên có hai nghĩa), là học từ Trung Quốc.

Những khái niệm này có ảnh hưởng đến Việt Nam khi chủ nghĩa dân tộc du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ XX qua các con đường khác nhau. Khái niệm chủ nghĩa quốc gia là nhấn mạnh đến quyền lực nhà nước, không thay thế chủ nghĩa dân tộc. Tức là cánh hữu của chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên về sau chữ chủ nghĩa quốc gia hay bị lạm dụng, cho nhiều người không phải theo hệ tư tưởng này khi nó du nhập vào Việt Nam và được một số học giả xây dựng lên thành học thuyết, như là một sự bác bỏ các lý thuyết không nhà nước phe cánh tả lẫn các lý thuyết tự do.

Chủ nghĩa dân tộc thường được nhìn nhận dưới hai hình thức. Không phải là hai trường phái, mà là cách nhìn nhận khác nhau từ khái niệm dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc công dân là hình thức chủ nghĩa dân tộc gắn dân tộc với khái niệm quốc tịch, quyền công dân, tức sự gắn bó của người dân với một nhà nước hiện đại, có tự do, dân chủ. Các tiếp cận này bắt đầu từ Cách mạng Pháp. Sau này Napoleon đi xâm chiếm các lãnh thổ khác và phổ biến các giá trị Cách mạng Pháp như tự do dân chủ tới các vùng đó, từ đó có khái niệm quốc gia dân tộc, chứ không xem người dân như là thần dân chỉ có phục tùng, và quyền lực là thần quyền dưới các quốc gia chuyên chế. Chủ nghĩa dân tộc hình thành nên nhiều quốc gia dưới các hình thức cách mạng và sự hợp nhất (như ở Đức, Ý... là hợp nhất) đi kèm với các khái niệm chủ quyền nhân dân, tự quyết dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc công dân định nghĩa dân tộc là toàn bộ công dân sinh sống trên một lãnh thổ, cho dù họ có thể có nguồn gốc huyết thống, văn hóa, hay truyền thống, lịch sử khác nhau. Ví dụ ở Việt Nam, đó là 54 dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, và các các công dân khác nhập tịch. Chủ nghĩa này chấp thuận một sự đa nguyên văn hóa, và thường được xem là ôn hòa. Với cách tiếp cận này, thông thường ở các quốc gia, sẽ nghiên cứu chủ nghĩa dân tộc kể từ khi chủ nghĩa đó ra đời từ cuối thế kỷ XVIII, và chủ nghĩa dân tộc mỗi quốc gia, được nghiên cứu từ khi nó được du nhập vào quốc gia đó, hay sớm hơn khi xã hội có những biểu hiện xuất hiện chủ nghĩa dân tộc như vậy. Ví dụ Trung Quốc chủ nghĩa dân tộc nghiên cứu từ thời nhà Minh, khi mà có sự giao lưu nhiều với phương Tây và những biểu hiện hình thành quốc gia hiện đại. Chủ nghĩa dân tộc sắc tộc, là hình thức chủ nghĩa dân tộc gắn dân tộc với khái niệm sắc tộc, tức nhìn vào cội nguồn huyết thống, bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, đức tin... Dạng chủ nghĩa dân tộc này hay bị xem là cực đoan, khi mà nó luôn nhấn mạnh sự khác biệt của một sắc tộc này với một sắc tộc khác. Ví dụ ở Việt Nam có 54 dân tộc (sắc tộc), thì đó là chủ nghĩa dân tộc của mỗi sắc tộc riêng lẻ đó. Có thể hiểu chủ nghĩa dân tộc của tất cả người Kinh sinh sống tại Việt Nam và hải ngoại, chủ nghĩa dân tộc của người H'Mông sinh sống tại Việt Nam, Lào, Trung Quốc và các nơi khác, chủ nghĩa dân tộc của người Khmer ở Việt Nam, Campuchia và các nơi khác. Ở nhiều nước đôi khi có các phong trào ly khai hay giải phóng từ các dạng chủ nghĩa dân tộc sắc tộc, ví dụ người Kurd sinh sống ở Thổ Nhĩ Kỳ, ở Iraq, Iran..., người Basque ở Tây Ban Nha, Pháp..., có phong trào đòi thống nhất dân tộc từ nhiều quốc gia như người Ả Rập sinh sống rộng khắp Trung Đông - Bắc Phi. Hay phong trào đòi thống nhất người Slav... Những người nghiên cứu chủ nghĩa dân tộc dưới góc độ này, sẽ nghiên cứu về sự hình thành của các quốc gia dân tộc từ thời Cổ đại, cho dù khái niệm chủ nghĩa dân tộc đi kèm với quyền công dân chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Ví dụ ở Việt Nam sẽ nghiên cứu chủ nghĩa dân tộc từ thời Hùng Vương hay sớm hơn, thay vì nghiên cứu từ khi nó du nhập vào Việt Nam, và trên thực tế, nếu như vậy có thiếu sót nếu nó không phải là chủ nghĩa dân tộc của cả 54 dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc dạng này hay bị xem là cực đoan, hay là mang tính độc tài, khác với khái niệm chủ nghĩa dân tộc công dân hay được xem là ôn hòa, có tính khoan dung, dân chủ và chấp nhận một sự đa nguyên văn hóa.

Quang phổ chính trị

Chủ nghĩa dân tộc (chủ nghĩa dân tộc công dân) gắn liền với chủ nghĩa tự do từ cuối thế kỷ XVIII hay được xem là cánh tả khi nó đưa ra các khái niệm về chủ quyền thuộc về dân tộc, chứ không phải thần quyền của lý thuyết bảo thủ phong kiến. Chủ nghĩa dân tộc gắn với tự do và dân chủ (Mác xít định nghĩa là dân chủ tư sản). Tuy nhiên chủ nghĩa bảo thủ dân tộc nổi lên như một khuynh hướng chính trị nhấn mạnh vào gìn giữ các giá trị truyền thống hơn là tự do, có ảnh hưởng rất lớn ở nhiều vùng nông thôn các nước châu Âu, là một dạng chính trị cánh hữu. Tuy nhiên công nghiệp hóa, đô thị hóa và chủ nghĩa hiện đại khiến cho chủ nghĩa bảo thủ dân tộc mất dần ảnh hưởng. Đến cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa dân tộc hay biến dạng thành chủ nghĩa đế quốc, các cuộc xâm lược thuộc địa, các chế độ độc tài, Thế chiến I rồi sau là chủ nghĩa phát xít. Từ đó, chủ nghĩa dân tộc hay bị xem là xấu xa, kể cả trong mắt những người cánh tả lẫn tự do. Lúc này chủ nghĩa dân tộc hay bị xem là hữu đến cực hữu. Phe cánh tả đều bác bỏ chủ nghĩa dân tộc, nhưng thái độ của mỗi phái không thống nhất. Như phe Xã hội, thì trong Thế chiến I họ đứng về các đảng cánh hữu nhân danh bảo vệ lợi ích dân tộc tham gia các cuộc chiến tranh. Trong khi đó Lênin kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa quốc tế, bảo vệ hòa bình, thậm trí chấp nhận hi sinh quyền lợi quốc gia trước mắt ký vào Hòa ước Brest-Litovsk. Sau này thành lập Đệ tam Quốc tế, theo chủ nghĩa quốc tế. Phe vô chính phủ cũng có lập trường chống lại chủ nghĩa dân tộc nhà nước, nhưng có nhóm chủ trương một mặt xóa bỏ nhà nước tư sản và cơ cấu giai cấp, nhưng vẫn giữ kết cấu dân tộc như một cộng đồng văn hóa, trong khi có nhóm chủ trương cộng đồng có tính xã hội kinh tế, chứ không phải dựa trên sắc tộc văn hóa. Chủ nghĩa quốc gia ở Việt Nam đầu thế kỷ XX là một dạng chủ nghĩa dân tộc cánh hữu, nó nhấn mạnh sự hình thành nên một quốc gia tự trị trong khi chưa có một quốc gia. Những người này không đấu tranh giải phóng bằng bạo lực, mà là hợp tác với Pháp, đòi tự trị "lần hồi độc lập". Trong khi những người cánh tả như cộng sản đòi đấu tranh giải phóng, nhưng là một bước trong tiến trình cách mạng chủ nghĩa quốc tế. Sau này có xuất hiện một số dạng chủ nghĩa dân tộc có tính cực đoan hơn lên cùng chủ nghĩa phát xít toàn cầu, liên quan các thuyết vị chủng, coi trọng huyết thống (khác với chủ nghĩa duy vật bác bỏ lý thuyết coi trọng huyết thống, đẻ ra nạn con ông cháu cha, thân tộc, dân tộc hẹp hòi một số truyền thống Á Đông). Chủ nghĩa quốc gia nhấn mạnh đến nhà nước, trong bối cảnh Việt Nam chưa có nhà nước, và là để đối trọng với các lý thuyết chính trị cánh tả có xu hướng bài quyền lực nhà nước, đi đến "thế giới phẳng" trong lý thuyết đại đồng. Lý thuyết này hay bị xem là duy tâm, và bị những người tự do xem là đưa đến một nhà nước độc tài, do nó nhấn mạnh đến quyền lợi chung hơn là quyền lợi riêng tư, và dễ đưa đến vi phạm nhân quyền. Lênin, Stalin hay Mao Trạch Đông đều phê phán chủ nghĩa dân tộc, như là một dạng độc tài của tư sản và địa chủ, nhưng lại đề cao lòng ái quốc (yêu nước). Chủ nghĩa yêu nước hay được xem là một tư tưởng ôn hòa, nó có tính chất tình cảm, tinh thần, hơn là một học thuyết chính trị. Nó không có tính đối lập với chủ nghĩa quốc tế. Nhưng cũng có ý kiến cho chủ nghĩa yêu nước cũng giống như chủ nghĩa quốc gia, thường vận động theo chỉ dẫn của nhà nước, hơn là học thuyết có tính chất dân chúng. Tức chủ nghĩa dân tộc nhìn dưới hai góc độ khác nhau, của dân chúng và của nhà nước.

Tuy bác bỏ chủ nghĩa dân tộc, nhưng đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, thì quan niệm cánh tả, mục tiêu giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp phải song hành nhau. Một phong trào giải phóng dân tộc theo cánh tả phải liên kết với phong trào giải phóng giai cấp ở chính các nước đế quốc và ở các thuộc địa. Ví dụ các Đảng cộng sản ở thuộc địa phải liên minh liên kết với các Đảng cộng sản và tiến bộ ở các "chính quốc", hỗ trợ nhau, đưa đến sự suy yếu của phe đế quốc. Cách mạng sẽ lan ra toàn cầu và các dân tộc XHCN cùng tồn tại hòa bình trong giai đoạn quá độ khi vẫn còn quốc gia - nhà nước, nhưng sẽ xóa nhòa ranh giới bất bình đẳng dân tộc, và xã hội cộng sản chỉ được xây dựng dựa trên sự xóa bỏ giai cấp và các dân tộc cùng một trình độ phát triển tương đương nhau. Bản chất nhà nước gắn với giai cấp, nên xóa bỏ giai cấp là tiền đề xóa bỏ nhà nước. Giải phóng dân tộc (tức giải phóng con người chứ không phải chỉ là giải phóng lãnh thổ, thay cơ chế cai trị này bằng cơ chế cai trị khác) là mục tiêu của nhiều phong trào cánh tả. Do đó mới có các khái niệm như "giải phóng dân tộc", "độc lập dân tộc", tức hướng đến con người, chứ không phải khái niệm quốc gia chung chung, cũng không dùng từ chủ nghĩa dân tộc mà họ hay xem là hẹp hòi, là chủ nghĩa cơ hội (chủ nghĩa quốc gia dân tộc thập niên 1930 ở Việt Nam hay bị những người cánh tả xem là chủ nghĩa cơ hội, cải lương). "Độc lập dân tộc" phải được giương lên kể cả sau khi đã có quốc gia độc lập, vì chống chủ nghĩa tư bản, đế quốc, thực dân mới là cuộc chiến lâu dài. Có nhiều phong trào giải phóng thuộc địa (dân tộc) không lấy tên, đường lối chủ nghĩa dân tộc, ví dụ Đảng Quốc đại Ấn Độ, hay Đảng Ba'athism ở một số nước Trung Đông, Sukarno (lúc đầu là đảng Dân tộc nhưng sau theo cánh tả), Gaddafi, Arafat, các phong trào chống chủ nghĩa thực dân mới ở Mỹ Latinh, hay phong trào chống chủ nghĩa tư bản ở Venezuela...Hay quốc hữu hóa kênh đào Suez...Tương tự là phong trào cộng sản. Ngược lại rất nhiều đảng mang tên đảng Dân tộc ở các nước kém phát triển hay thuộc địa lại không phải là các đảng đấu tranh giải phóng dân tộc, mà là các đảng cánh hữu. Tại Ấn Độ, Đảng Bharatiya Janata là đảng dân tộc cánh hữu, còn Đảng Quốc đại trước đây đấu tranh giải phóng Ấn Độ là đảng cánh tả. Tại New Caledonia phong trào đòi độc lập do cánh tả phát động, thường gắn với người bản xứ, còn cánh hữu gọi là phe dân tộc thì lại ủng hộ duy trì sự cai trị của Pháp, phe này gắn với người Pháp di cư. Năm 2020 có bỏ phiếu trưng cầu dân ý tại đảo này.

Ngày nay chủ nghĩa dân tộc hay được xem là cánh hữu, và đối lập với cánh tả theo chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa vũ trụ, thường đưa ra các giải pháp liên kết quốc tế hay thậm trí đến đại đồng... Các đảng dân tộc thường quang phổ chính trị ngả từ hữu đến cực hữu, nhất là khi nó liên kết với chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa dân túy (như là các phong trào tân dân tộc chủ nghĩa chống nhập cư, bài Trung Hoa, bài Hồi giáo ở một số nước). Các đảng này thường dành được ít số phiếu trong các cuộc bầu cử, như Mặt trận Dân tộc Pháp (FN), Đảng vì tự do ở Hà Lan (PVV),...(phương Tây chữ tự do cũng hay được xem một hình thức chủ nghĩa dân tộc, không liên quan chủ nghĩa tự do) hay có xu hướng bài ngoại. Các đảng trung hữu bảo thủ thường ôn hòa hơn, họ hay nhấn mạnh các giá trị truyền thống chứ không nhấn mạnh bài ngoại hay bài trừ sự đa văn hóa... Còn chủ nghĩa dân tộc cánh tả là một khái niệm gây tranh cãi. Riêng các phong trào ly khai, thì phải nhìn vào đường lối khác để xác định là tả hay hữu hay trung dung. Chủ nghĩa dân tộc được xem là đối lập chủ nghĩa cá nhân, lẫn chủ nghĩa địa phương và cả chủ nghĩa quốc tế. Chủ nghĩa dân túy cánh hữu có thể lợi dụng một số các khía cạnh chủ nghĩa dân tộc để đạt một số lợi ích chính trị trước mắt. Ví dụ Donald Trump đưa ra khẩu hiệu Nước Mỹ trên hết, và còn khuyên các nguyên thủ khác là chỉ quan tâm đến lợi ích của dân tộc - quốc gia mình (chứ không phải là quan tâm đến lợi ích của quốc gia - dân tộc khác) như thế họ sẽ làm tốt trách nhiệm của mình hơn. Các chính sách như chủ nghĩa bảo hộ, hay được xem là "thượng đẳng da trắng" chống người nhập cư là những biểu hiện chính trị dân túy, khi Trump nhận thấy rất đông người da trắng bản địa bị mất việc làm bởi những người nhập cư, và là đối tượng tranh thủ trong bầu cử. Do đặt lợi ích nước Mỹ trên hết, nên Trump theo đường lối thực dụng, đặc biệt về kinh tế, chứ ít quan tâm đến các vấn đề toàn cầu như bảo vệ môi trường, chống hiệu ứng nhà kính, các vấn đề tự do dân chủ, nhân quyền, hay là can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia khác, khác với đường lối của nhiều tổng thống Mỹ khác. Đảng Cộng hòa về lý thuyết là bảo thủ ôn hòa, nhưng Trump về lý thuyết là phe hữu trong đảng đó, tức ngả từ hữu đến cực hữu. Ngược lại Biden và đảng Dân chủ có lập trường từ trung dung đến trung tả trong các vấn đề đối nội và đối ngoại, cởi mở hơn trong các quan hệ quốc tế, và có xu hướng tự do tả khuynh. Các vụ Biểu tình George Floyd chống phân biệt chủng tộc,...là biểu hiện của chính trị cánh tả, có sự liên kết mang tính quốc tế, lan rộng ở nhiều nước, thậm trí có biểu hiện chủ nghĩa vô chính phủ, một phong trào quốc tế. Lòng yêu nước (tinh thần yêu nước) hay tinh thần dân tộc (gắn bó cộng đồng dân tộc người với người không quan tâm đến quốc gia- nhà nước) hay trách nhiệm công dân, trách nhiệm nhà nước không liên quan đến khái niệm chủ nghĩa dân tộc như một hệ tư tưởng phức tạp liên quan nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh và hay được xem là thuộc cánh hữu. Ví dụ như có chiến tranh thì công dân phải có nghĩa vụ đi lính, Nhà nước phải bảo vệ lãnh thổ, cái đó không cấu thành chủ nghĩa dân tộc mặc dù có thể liên quan đến chủ nghĩa dân tộc.

Lịch sử

Chủ nghĩa dân tộc đã trở thành một nét đặc trưng xã hội phổ biến của các nền văn minh loài người kể từ thời cổ đại, đã được thể hiện qua nhận thức hiện đại về sự tự trị và sự độc lập chính trị của các dân tộc trên thế giới và đã được chính thức thực hiện hóa vào cuối thế kỷ thứ XVIII.[21] Ví dụ về các cuộc cách mạng chủ nghĩa dân tộc có thể được quan sát thấy trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, từ những cuộc nổi loạn của người Do Thái ở thế kỷ thứ II, cho tới sự vực dậy của nền văn minh Ba Tư trong giai đoạn Đế quốc Sassanid, và cho đến sự trở lại của nền văn minh Latin ở Đế chế Tây La Mã vào thế kỷ thứ IV và tại thế kỷ thứ V, và cũng hiện tượng này cũng xuất hiện ở nhiều dân tộc khác. Trong thời hiện đại, có thể thấy những ví dụ rõ ràng về sự hưng thịnh của chủ nghĩa dân tộc Đức như là một phản ứng chống lại sự kiểm soát của Napoleon lên dân tộc Đức, phản ứng dữ dội của dân tộc Đức chính là sự thành lập Liên bang Rhein khoảng năm 1805-14.[22][23]

Trung Đông

 
Những người Ả Rập theo chủ nghĩa dân tộc cùng nhau nổi dậy càn quét dân Do Thái ở Jerusalem

Chủ nghĩa dân tộc Ả Rập, một phong trào giải phóng và trao quyền lực cho người Ả Rập ở Trung Đông, đã xuất hiện trong thế kỷ XIX, lấy cảm hứng từ các phong trào giành tự do độc lập khác từ thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX. Khi Đế quốc Ottoman sụp đổ và Trung Đông được lãnh đạo bởi các cường quốc Châu Âu, dân Ả Rập đã tìm cách thành lập các quốc gia độc lập riêng của họ do chính bàn tay người Ả Rập kiểm soát hơn là người nước ngoài. Chính phủ Syria được thành lập vào năm 1920; Đất nước Transjordan (sau này là Jordan) dần dần từ từ giành được độc lập giữa năm 1921 và năm 1946; nhà nước Saudi Arabia được thành lập vào năm 1932; và quốc gia Ai Cập hiện đại đã lấy lại được sự độc lập tự do hạnh phúc từ năm 1922 đến năm 1952. Khối liên đoàn Ả rập được thành lập tại năm 1945 để thúc đẩy các mối quan tâm, quan hệ, và hợp tác lợi ích thịnh vượng chung cho người Ả Rập giữa các quốc gia Ả Rập hiện đại.

Song song với những nỗ lực giành độc lập tự do này, thì phong trào chủ nghĩa phục quốc của người Do Thái đã xuất hiện trong tâm tư của những người Do Thái Châu Âu vào thế kỷ thứ XIX. Bắt đầu từ năm 1882, người Do Thái chủ yếu đến từ các quốc gia châu Âu, đã bắt đầu di dân tới Ottoman Palestine với mục tiêu thiết lập một quê hương mới dành cho người Do thái. Sự cố gắng phấn đấu này lên tới đỉnh cao khi người Do Thái quyết định tuyên bố sự tự do độc lập của Nhà nước Israel vào năm 1948. Vì động thái giành độc lập tự do của người Do Thái cho quốc gia Israel đã hoàn toàn mâu thuẫn với niềm tin phổ biến của đại đa số các dân tộc Ả Rập rằng Palestine là một phần lãnh thổ của người Ả rập và quốc gia Ả Rập, cho nên các dân tộc Ả rập láng giềng nằm ở xung quanh nhà nước Do Thái Israel, các dân tộc người Ả Rập đã cùng nhau đồng loạt hô hào phát động một cuộc xâm chiếm tấn công quốc gia Do thái Israel non trẻ. Cuộc xâm lược của người Ả Rập chỉ thành công một phần nào đó và dẫn đến hàng chục thập kỷ xung đột giữa các hệ tư tưởng chủ nghĩa dân tộc Ả Rập đối đấu với dân tộc Do thái.

Châu Á

Trung Quốc

Xem chi tiết ở bài Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc (chữ Hán: 中国民族主义, Hán-Việt: Trung Quốc dân tộc chủ nghĩa). Ở Trung Quốc, chủ nghĩa dân tộc là 1 hiện tượng khách quan hiển nhiên lâu đời từ xa xưa ở Trung Quốc, chủ nghĩa dân tộc hiện đại có từ thời nhà Minh, Tôn Trung Sơn (1866–1925) thành lập Trung Quốc Quốc dân Đảng(KMT) và Trung Hoa Dân Quốc(Ngày nay là đảo Đài Loan). Đảng Cộng sản Trung Quốc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại lục địa lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trach Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình, Thuyết ba đại diện, Quan điểm phát triển khoa học, Tư tưởng Tập Cận Bình làm nền tảng phát triển Trung Quốc Đại lục bây giờ.

Việt Nam

Tại Việt Nam, một thời, từ thập niên 1930 cụm từ "chủ nghĩa quốc gia" hay được dùng. Trong thời Pháp thuộc, một số nhóm theo chủ nghĩa này ủng hộ chế độ bảo hộ của Pháp tại Đông Dương, ủng hộ chủ nghĩa quốc gia ở Pháp (chỉ các nhóm chính trị cánh hữu hay cực hữu ở Pháp). Có nhóm năm 1939 khi cánh hữu thắng cử ở Pháp, đã kêu gọi "từ giã hết chủ nghĩa xã hội, quốc tế, cộng sản xét ra không có lợi gì cho tiền đồ Tổ quốc đi, để quay đầu về phụng sự chủ nghĩa quốc gia", họ cho là các lý tưởng kia "không lấy thực nghiệm ra mà suy xét, chỉ chạy theo lý tưởng xuông" và xem một số nước "đem ra thực hành đều thất bại cả", họ kêu gọi "trông cậy vào sự chỉ đạo của nước Pháp bảo hộ,...yêu cầu nước Pháp gây dựng cho nước ta một quốc gia, có chính phủ chịu trách nhiệm các việc nội trị trước một dân Viện có quyền lập pháp". Tức đòi quyền tự trị chứ không phải độc lập.

Họ bác bỏ quan điểm của "bọn thanh niên... cứ nhứt định theo đòi văn minh Âu -Mỹ mà thôi", và kêu gọi "khôi phục quốc quyền, chấn hưng quốc thể", bác bỏ "tư tưởng và óc đảng phái đã làm cho quốc dân Việt Nam tam phân ngũ liệt", và "đòi tự trị", "quân chủ lập hiến". Họ bác bỏ "thuyết xã hội, thuyết quốc tế cùng đảng viên tả phái đi cổ động tự do", cho đó là "trái với tinh thần "trung quân ái quốc" của dân chúng, trái với luân lý Phật đà, Khổng Tử, khác với chủ nghĩa quốc gia cái rễ từ đời Trưng Nữ vương đuổi Tô Định, Triệu Ấu đuổi quân Ngô", kêu gọi "chỉ có ai là thức thời, có lòng yêu nước trung vua vốn sẵn, chỉ dựa vào cái chủ nghĩa "Pháp Nam hợp tác", "Pháp Việt đề huề", học đòi người quý quốc, làm cho nước được mạnh, dân được giàu lên đã".

Theo báo Tràng An những người này chủ trương "Nếu chúng ta mong có ngày kia, nước Pháp sẽ theo hòa ước 6 juin 1884, thi hành triệt để giao giả về quốc quyền cho chúng ta tự trị lấy việc nước nhà ta, thì trước hết chúng ta cũng phải bắt chước người Pháp đồng tâm hiệp lực lại, trên dưới một lòng, quân dân một dạ, cử quốc hiệp nhất, khiến cho nước Pháp kính nể, nước Pháp tin cẩn mới được". Một số chính trị gia theo chiều hướng này tiêu biểu như Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh...nhưng đường lối cụ thể không giống nhau. Họ chống lại Mặt trận Bình dân (cánh tả) ở Pháp. Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi... tiêu biểu cho khuynh hướng bảo hộ Pháp, quân chủ kèm dân quyền, sau có hướng thân Nhật, là nhóm "quốc gia" nhất, Bùi Quang Chiêu có hướng tự do, và lập hiến kiểu dân chủ tư sản, sau ngã sang xu hướng xã hội cấp tiến, pha trộn chủ nghĩa tự do và xã hội, gần đường lối Gandhi nhưng ủng hộ bảo hộ Pháp, một thời gian ngắn liên kết với nhóm ủng hộ thợ thuyền cộng sản và xã hội. Hồ Văn Ngà thì dựa vào Nhật ủng hộ độc lập. Ngoài ra còn có "quốc gia xã hội" (tắt là quốc xã) như nhóm Đại Việt của Trần Trọng Kim,...Pháp thời gian đó cũng có Đảng Quốc gia Xã hội Pháp, có chi nhánh tại Đông Dương.

Trên báo Phụ nữ tân văn đã bình phẩm cho "quốc gia xã hội" chỉ là một thứ "cãi xà lách" vì "quốc gia" và "xã hội" là hai chữ nghĩa khác nhau, chủ nghĩa quốc gia là chủ nghĩa của những người chỉ lấy tiếng nước mà hiệu triệu người, bảo người phải vì nước và vì kẻ thống trị của nước, mà chống nhau với nước khác. Còn chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa của những người bảo rằng: nước chỉ là nước của những người có tài sản, rốt cuộc có hai nước trong mỗi nước: nước của người có tài sản và nước của người vô sản. Quyền lợi tương phản cùng nhau...Và cho rằng thuyết quốc xã nó "có thể hợp với những bọn gọi là yêu nước để giữ quyền lợi quốc gia, tức là quyền lợi của hạng tư bản và binh lợi quyền của vô sản", một cái thuyết lộn xộn!

Ngay thời gian này, trên báo Ngày nay, Hoàng Đạo tức Nguyễn Tường Long cho "chủ nghĩa quốc gia, vì làm thiên lệch lòng ái quốc, vì quá tôn nước mình, hóa ra khinh rẻ nước người, và là cái mầm của sự chiến tranh giữa nước này với nước kia, cái mầm của sự lấn áp nước yếu của nước khỏe, cái mầm của chủ nghĩa đế quốc". Nhóm này ảnh hưởng của chủ nghĩa Tam Dân, chủ nghĩa tự do pha trộn xã hội, một thời ủng hộ Mặt trận Dân chủ chịu chi phối của giới bình dân công nông thợ thuyền, chống bảo hoàng.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ ơhttps://www.tutor2u.net/politics/reference/johann-gottfried-von-herder-1744-1803 Johann Gottfried von Herder (1744−1803)]
  2. ^ Triandafyllidou, Anna (1998). “National identity and the other”. Ethnic and Racial Studies 21 (4): 593–612. 
  3. ^ Smith, A.D. (1981). The Ethnic Revival in the Modern World. Cambridge University Press. 
  4. ^ Nairn, Tom; James, Paul (2005). Global Matrix: Nationalism, Globalism and State-Terrorism. London and New York: Pluto Press. ; and James, Paul (2006). Globalism, Nationalism, Tribalism: Bringing Theory Back In – Volume 2 of Towards a Theory of Abstract Community. London: Sage Publications. 
  5. ^ Connor, Walker (1994). Ethnonationalism: The Quest for Understanding. Princeton, New Jersey: Princeton University Press. tr. 29. 
  6. ^ Billig, Michael (1995). Banal Nationalism. London: Sage. ISBN 0803975252. 
  7. ^ Gellner, Ernest (2005). Nations and Nationalism . Blackwell. ISBN 1405134429. 
  8. ^ Canovan, Margaret (1996). Nationhood and Political Theory. Cheltenham: Edward Elgar. ISBN 1840640111. 
  9. ^ Miller, David (1995). On Nationality. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0198293569. 
  10. ^ Laqueuer, Walter." Comparative Study of Fascism" by Juan J. Linz. Fascism, A Reader's Guide: Analyses, interpretations, Bibliography. Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 1976. Pp. 15 "Fascism is above all a nationalist movement and therefore wherever the nation and the state are strongly identified."
  11. ^ Laqueur, Walter. Fascism: Past, Present, Future. Oxford University Press, 1997. Pp. 90. "the common belief in nationalism, hierarchical structures, and the leader principle."
  12. ^ "Goebbels on National-Socialism, Bolshevism and Democracy, Documents on International Affairs, vol. II, 1938, pp. 17-19. Truy cập from the Jewish Virtual Library on 5 tháng 2 năm 2009. [1] Joseph Goebbels describes the Nazis as being allied with countries which had "authoritarian nationalist" ideology and conception of the state "It enables us to see at once why democracy and Bolshevism, which in the eyes of the world are irrevocably opposed to one another, meet again and again on common ground in their joint hatred of and attacks on authoritarian nationalist concepts of State and State systems. For the authoritarian nationalist conception of the State represents something essentially new. In it the French Revolution is superseded.".
  13. ^ Koln, Hans; Calhoun, Craig. The Idea of Nationalism: A Study in its Origins and Background. Transaction Publishers. Pp 20.
    University of California. 1942. Journal of Central European Affairs. Volume 2.
  14. ^ We Are All in This Together: Human Rights and COVID-19 Response and Recovery - Video Message by the Secretary-General
  15. ^ Coronavirus Has Sparked "Tsunami Of Hate And Xenophobia": UN Chief
  16. ^ Shared Vulnerability to COVID-19 Reveals Common Humanity, Secretary-General Tells Faith Leaders, Stressing Their Key Role in Fighting Intolerance, Disinformation
  17. ^ Gat, Azar (2012). Nations: The Long History and Deep Roots of Political Ethnicity and Nationalism. Cambridge University Press. tr. 214. 
  18. ^ “Nationalism”. merriam-webster.com. 
  19. ^ See Norman Rich, The age of nationalism and reform, 1850–1890 (1970).
  20. ^ Glenda Sluga, Internationalism in the Age of Nationalism (University of Pennsylvania Press, 2013) ch 1
  21. ^ Hans Kohn, The idea of nationalism: A study in its origins and background (1944).
  22. ^ Gregorio F. Zaide (1965). World History. . tr. 274. ISBN 9789712314728. 
  23. ^ Calhoun, Craig (1993). “Nationalism and Ethnicity”. Annual Review of Sociology 19: 211–39. doi:10.1146/annurev.soc.19.1.211.