Phạm Quỳnh

chính trị gia, nhà báo, nhà văn người Việt

Phạm Quỳnh (chữ Hán: 范瓊; 17 tháng 12 năm 1892 - 6 tháng 9[1] năm 1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi (尚之), bút danh: Hoa Đường (華堂), Hồng Nhân.

Phạm Quỳnh
Phamquynh.jpg
Chức vụ
Thượng thư Bộ Lại
Nhiệm kỳ1942 – 1945
Hoàng đếBảo Đại
Tiền nhiệmThái Văn Toản
Kế nhiệmcuối cùng
Vị tríĐại Nam
Nhiệm kỳ1933 – 1942
Kế nhiệmTrần Thanh Đạt
Nhiệm kỳ1932 – 1933
Nhiệm kỳ1917 – 1932
Tiền nhiệmđầu tiên
Kế nhiệmNguyễn Tiến Lãng
Thông tin chung
Sinh(1892-12-17)17 tháng 12, 1892
Hà Nội, Bắc Kỳ, Liên bang Đông Dương
Mất6 tháng 9, 1945(1945-09-06) (52 tuổi)
Thừa Thiên, Trung Bộ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nghề nghiệpNhà báo, quan lại
Dân tộcKinh
VợLê Thị Vân (1892-1953)
ChaPhạm Hữu Điển
Con cáiPhạm Giao
Phạm Thị Giá
Phạm Thị Thức
Phạm Bích
Phạm Thị Hảo
Phạm Thị Ngoạn
Phạm Khuê
Phạm Thị Hoàn
Phạm Tuyên
Phạm Thị Diễm (Giễm)
Phạm Thị Lệ
Phạm Tuân
Phạm Thị Viên.
Trường lớpTrường Bưởi

Ông được xem là người có quan điểm ủng hộ việc tự trị của Việt Nam dưới sự bảo hộ của Pháp, việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), và kiên trì chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến. Tuy nhiên, ông cũng bị nhiều người đương thời chỉ trích vì thái độ thân Pháp và cộng tác với chính quyền thực dân Pháp.[2]

Tiểu sửSửa đổi

Ông sinh tại số 17 phố Hàng Trống, Hà Nội; quê quán ở làng Lương Ngọc (nay thuộc xã Thúc Kháng), phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, một làng có nhiều người đỗ khoa bảng, có truyền thống hiếu học. Mồ côi mẹ từ 9 tháng tuổi, mồ côi cha khi lên 9 tuổi, Phạm Quỳnh mồ côi được bà nội nuôi ăn học.

Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng, đỗ đầu bằng Thành chung (tốt nghiệp) Trường trung học Bảo hộ (tức Trường Bưởi, còn gọi là trường Thông ngôn).

Hoạt động báo chí, văn hóa xã hộiSửa đổi

Năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc ở Trường Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội lúc vừa tuổi 16.

Từ năm 1916 ông tham gia viết báo cho một số tờ có uy tín đương thời; làm chủ bút kỳ cựu của Nam Phong tạp chí từ ngày 1 tháng 7 năm 1917 cho đến năm 1932. Tôn chỉ của Nam phong tạp chí là "Mục đích báo Nam phong là thể cái chủ nghĩa khai hóa của Chính phủ, biên tập những bài bằng Quốc văn, Hán văn, Pháp văn để giúp sự mở mang tri thức, giữ gìn đạo đức trong quốc dân An Nam, truyền bá các khoa học của Thái Tây, nhất là học thuật tư tưởng Đại Pháp, bảo tồn quốc túy của nước Việt Nam ta, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế... Báo Nam phong lại chủ ý riêng về sự tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An Nam"[3]. Không những ca ngợi chính quyền thực dân, Nam Phong còn ca ngợi cả triều đình nhà Nguyễn của vua Khải Định. Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn đã gọi Nam Phong là "cơ quan tuyên truyền chính thức cho đường lối chính trị của thực dân Pháp ở Việt Nam"[4].

Cũng trong thời kỳ 1924-1932, ông còn là giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội.

Ngày 2 tháng 5 năm 1919, ông sáng lập và là Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến Đức, Trần Trọng Kim là Trưởng ban Văn học của Hội; và Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ.

Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục.

Năm 1924 ông được mời làm giảng viên Khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt, Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France - Indochine.

Từ năm 1925 - 1928, Phạm Quỳnh là Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ; năm 1926 ông làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ và đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương. Khi Phan Châu Trinh qua đời năm 1926, phong trào truy điệu, để tang diễn ra trên cả nước để thể hiện tinh thần yêu nước và chống Pháp, nhưng Phạm Quỳnh thì đả kích rằng “…đây chỉ là một nhóm người khai thác một cái xác chết…”[5]

Năm 1930 Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Phạm Quỳnh phản đối những phong trào chống Pháp như khởi nghĩa Yên Bái và Xô Viết Nghệ Tĩnh, ông gọi họ là "bọn cường đồ, phản loạn" và mong Nhà nước Bảo hộ (Pháp) trừng trị thật mạnh[5]

Năm 1931 ông được giao chức Phó Hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932, giữ chức Tổng Thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

Thượng thư Nam triềuSửa đổi

 
5 vị Thượng thư thời vua Bảo Đại, từ trái qua phải: Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn.

Ngày 11 tháng 11 năm 1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua thay Khải Định, ông được triều đình nhà Nguyễn triệu vào Huế tham gia chính quyền, thôi không làm chủ bút Nam Phong tạp chí nữa. Tại Huế thời gian đầu ông làm việc tại Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1942-1945).

Trong một bài viết trên báo Sông Hương, ông đã đả phá Trần Trọng Kim và các sử gia phong kiến khi cho Triệu Đà là vua của nước Nam. Theo ông, "Quốc sử phải lấy dân tộc làm nền", "sử gia phong kiến tôn y (Triệu Đà) là ông vua khai quốc, ấy là đã làm một việc vô nghĩa... Hoặc có ai ngờ cho tôi sở dĩ cái kiến giải nầy là tại quá trọng về quốc gia chủ nghĩa, và cũng bởi cái chủ nghĩa ấy khích thích nên tôi mới viết bài này".[6]

Cuối đờiSửa đổi

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Đế quốc Nhật Bản đảo chính Pháp. Chính phủ Đế quốc Việt Nam được thành lập. Ông lui về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam, Huế.

Ngày 23 tháng 8 năm 1945, Phạm Quỳnh bị Phan HàmVõ Quang Hồ bắt giữ theo lệnh của Mặt trận Việt Minh và áp giải ra khỏi Huế cùng với nguyên Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi (anh cùng cha khác mẹ với Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (con trai của Ngô Đình Khôi).[7]

Ngày 28 tháng 8 năm 1945, sáu lính Pháp do thiếu tá Casténa đứng đầu nhảy dù xuống ga xe lửa Hiền Sĩ nhằm liên lạc với các lực lượng Pháp ở Đông Dương và những nhân vật thân Pháp để bàn về vấn đề cướp lại Đông Dương khi thời cơ đến. Nhóm này bị Việt Minh bắt. Phạm Quỳnh khi đó đang bị giam giữ cùng với Ngô Đình Khôi và Ngô Huân tại nhà lao Thừa Phủ bị nghi ngờ có ý đồ câu kết với thực dân Pháp để lật đổ chính quyền cách mạng.[8] Trong cặp của Casténa có Mật lệnh của Thống chế Pháp là De Gaulle ghi rõ: "Quan tư Casténa có nhiệm vụ bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, với các lực lượng Pháp ở hải ngoại (FFE) và các lực lượng Pháp nội địa (FFI) để tổ chức chiếm lĩnh các công sở và thành lập chính quyền thuộc địa ở miền Trung Việt Nam."[9]

Ba người bị xử tử không lâu sau đó vào ngày 6 tháng 9 năm 1945 vì tội danh liên lạc với thực dân Pháp để làm đảo chính[7]. Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú, và được cải táng ngày 9 tháng 2 năm 1956 tại Huế, trong khuôn viên chùa Vạn Phước.[10]

Di sảnSửa đổi

Phạm Quỳnh được coi là người đi tiên phong trong việc dùng tiếng Việt để viết lý luận. Dương Quảng Hàm đánh giá các công trình của ông là đã "luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới".[11] Ông chủ trương dung hòa hai nền văn hóa Đông và Tây, bỏ mọi cái dở, chỉ chọn lấy cái tốt bổ ích; đề xướng dùng tiếng Việt để diễn đạt mọi khái niệm, tư tưởng, học thuyết chứ không dùng tiếng Hán như những người theo cựu học hoặc tiếng Pháp như những người theo tân học. Ông phê phán giới trí thức Việt Nam xưa sùng bái chữ Hán, nay sùng bái tiếng Pháp, đều là nô lệ tinh thần cho nước ngoài. Đây là chủ trương mới mẻ vào thời đó khi những trí thức Hán học chỉ dùng tiếng Hán để viết văn còn trí thức Tây học chỉ dùng tiếng Pháp, còn trong nhà trường Pháp ngữ là ngôn ngữ học thuật chính thống. Nam Phong tạp chí tuyên bố mục đích là gây dựng một nền học thuật mang tính dân tộc và đại chúng của người Việt nhằm phát triển văn hóa và khoa học của Việt Nam có thể sánh vai với các nước trên thế giới.[12]

Trước đây, cũng có nhiều người cho rằng ông gắn bó với các chủ trương chính trị của thực dân Pháp. Ông bị coi là "ru ngủ" thanh niên trí thức trong cái "hồn nước" mơ hồ, khiến họ đi chệch khỏi chí hướng làm cách mạng chống Pháp. Trong một thời gian dài, quan điểm chính thống của Việt Nam Dân chủ Cộng hòaCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam gọi ông là tay sai đắc lực của Pháp.[13]

Kể từ năm 2000, nhiều tác phẩm của Phạm Quỳnh đã được xuất bản tại Việt Nam:

  • Mười ngày ở Huế, Nhà xuất bản Văn học - 2001
  • Luận giải Văn học và Triết học, Nhà xuất bản Thông tin, 2003
  • Pháp du hành trình nhật ký, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2004
  • Thượng Chi văn tập, Nhà xuất bản Văn học, 2007
  • Du ký Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, 2007
  • Phạm Quỳnh - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, Nhà xuất bản Tri thức, 2007 (gồm những bài diễn thuyết, bài báo ông viết bằng tiếng Pháp từ 1922 đến 1932)

Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên - con trai của học giả Phạm Quỳnh, vào mùa thu năm 1945, Hồ Chí Minh đã nói với hai người chị của ông là Phạm Thị GiáPhạm Thị Thức rằng: "Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng". [14]

Ngày 28 tháng 5 năm 2016, hội đồng họ Phạm Việt Nam phối hợp cùng gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên tổ chức lễ khánh thành công trình trùng tu mộ phần và dựng tượng Phạm Quỳnh tại Thành phố Huế. Bức tượng bán thân Phạm Quỳnh do chính người cháu ngoại của ông là kiến trúc sư Tôn Thất Đại thiết kế với chiều cao 60 cm, bề ngang 50 cm, được đặt ở bục cao gần 2 m nằm ngay sau ngôi mộ ông ở trước chùa Vạn Phước (phường Trường An, Thành phố Huế). Phía trước bia mộ được ốp tấm bia đá đen khắc ghi câu nói nổi tiếng của ông: "Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn nước ta còn".[15]

Tác phẩmSửa đổi

Ông để lại hàng trăm tác phẩm sáng tác, nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật gồm nhiều lĩnh vực như triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý, văn học, nghệ thuật, báo chí, trong đó có những tác phẩm chủ yếu như Văn minh luận, Lịch sử thế giới, Chính trị nước Pháp, Văn học sử Pháp, Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo về Truyện Kiều, Khảo về chữ quốc ngữ, Hán Việt văn tự... Về nghiên cứu lý thuyết văn chương, có thể coi Khảo về tiểu thuyết (in rải rác trên báo, mà chủ yếu là Nam Phong, từ năm 1922, in thành sách 1925) là công trình lý luận văn học đầu tiên của nước ta; các tác phẩm Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký là những phóng sự đầu tiên của văn học hiện đại.[16] Ông là tác giả và dịch giả nhiều bài viết và sách văn học, triết học, cách ngôn, ngụ ngôn, tuồng hát tiếng Pháp dịch ra tiếng Việt và tùy bút. Gần như toàn bộ các tác phẩm của ông đều đăng trên tạp chí Nam Phong. Nhiều bài sau đó in lại thành sách do Đông Kinh ấn quán ở Hà Nội xuất bản.

Các tác phẩm của ông có thể chia làm ba loại:

Dịch thuậtSửa đổi

Bao gồm các tác phẩm luận thuyết, phương pháp luận, sách cách ngôn, kịch bản và thơ văn... Ông dịch các đoạn văn và tác phẩm từ tiếng Pháp, chủ yếu thiên về triết học, như triết học của Descartes. Tuy nhiên, ông cũng có dịch một số tác phẩm nghệ thuật như kịch của Corneille.

Khảo luậnSửa đổi

Phần quan trọng nhất trong các tác phẩm của Phạm Quỳnh là các nghiên cứu của ông từ các sách chữ Nho, sách tiếng Pháp, và viết lại những bài chuyên khảo bằng tiếng Việt nhằm phổ biến tri thức cho đại chúng. Có ba ngành ông chú trọng là:

  • Các học thuyết Âu Tây, như trong Văn minh luận, Khảo về chính trị nước Pháp, Lịch sử và học thuyết của Rousseau, Lịch sử và học thuyết của Montesquieu, Lịch sử và học thuyết của Voltaire, v.v...
  • Học thuật Á Đông, những bài về triết học và tôn giáo Á Đông như Phật giáo lược khảo, Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng, v.v...
  • Văn hóa Việt Nam, với chủ đề trải rộng từ Tục ngữ ca dao, tới Việt Nam thi ca, tới Văn chương trong lối hát ả đào.

Nhiều tác phẩm của ông liên kết những học thuật Âu Tây và phân tích, so sánh chúng với các khái niệm quen thuộc của người Việt Nam. Như trong bài Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng ông có phần phân tích và so sánh giữa quan niệm người quân tử của đạo Khổng và người "chính nhân" (là chữ ông dùng cho l'honnête homme) trong văn hóa Pháp. Hay như ông có những bài Văn hóa Pháp đối với tiền đồ nước Nam hoặc Công cuộc chấn chỉnh quốc gia ở nước Pháp và khôi phục cổ điển ở nước Nam.

Văn du kýSửa đổi

Ông viết nhiều du ký ghi lại những điều quan sát, nhận định, nghị luận trong các chuyến du lịch đi Pháp và đi các vùng đất Việt Nam như:

  • Mười ngày ở Huế (1918)
  • Một tháng ở Nam Kỳ (1919)
  • Pháp du hành trình nhật ký (1922)

Một số tác phẩm chínhSửa đổi

 
Cái quan-niệm của người quân-tử trong triết-học Đạo Khổng in năm 1928
  • Văn minh luận
  • Ba tháng ở Paris
  • Văn học nước Pháp
  • Chính trị nước Pháp
  • Khảo về tiểu thuyết
  • Lịch sử thế giới
  • Lịch sử và học thuyết Voltaire
  • Phật giáo đại quan
  • Cái quan niệm của người quân tử trong Đạo Khổng
  • Thượng Chi văn tập gồm 5 quyển, Nhà xuất bản Alexandre de Rhodes Hanoi ấn hành năm 1943.
  • Tục ngữ - Ca dao (1932) - Đông Kinh ấn quán.

Về sách in sau này ở Việt NamSửa đổi

  • Mười ngày ở Huế, Nhà xuất bản Văn học - 2001
  • Luận giải Văn học và Triết học, Nhà xuất bản Thông tin, 2001
  • Pháp du hành trình nhật ký, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2004
  • Thượng Chi văn tập, Nhà xuất bản Văn học, 2007
  • Du ký Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, 2007
  • Phạm Quỳnh - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, Nhà xuất bản Tri thức, 2007 (gồm những bài diễn thuyết, bài báo ông viết bằng tiếng Pháp từ 1922 đến 1932)

Ngoài sáu cuốn xuất bản sau này tại Việt Nam thì còn có cuốn Hành trình nhật ký in lần thứ hai tại San Jose, Hoa Kỳ vào năm 2002 (in thành sách lần thứ nhất tại Paris năm 1997) gồm các du ký: Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ và Pháp du hành trình nhật ký. Sách do bà Phạm Thị Hoàn (sinh 1926) là con gái Phạm Quỳnh đứng bản quyền.[17]

Gia đìnhSửa đổi

Ông có một người vợ là bà Lê Thị Vân (1892-1953) và 16 người con (3 người mất từ nhỏ). Trong đó:

Ngày sinh và mấtSửa đổi

Về ngày sinhSửa đổi

Theo ông Nguyễn Thọ Dực, Trưởng ban Cổ văn, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có được Phạm Quỳnh cho biết ngày sinh để nhờ lấy số tử vi là ngày 13 tháng 12 năm Nhâm Thìn, tức ngày 30/1/1893. Không ai cho ngày sinh sai để lấy số tử vi cả.

Về ngày mấtSửa đổi

  • Sách "Từ điển Văn học bộ mới" (2004), ghi mất ngày 20 tháng 8 năm 1945.
  • Một số tài liệu ghi mất ngày 23 tháng 8 năm 1945, đúng ngày có người mời ông đến chính quyền Việt Minh làm việc.
  • Một số tài liệu chép ông mất vào sáng ngày 6 tháng 9 năm 1945 (tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu; sau 14 ngày bị Việt Minh bắt). Năm 1956, hai con của Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Hảo (sinh năm 1920) và Phạm Tuân (sinh năm 1936), hiện định cư tại Hoa Kỳ, được theo đoàn tìm mộ cha con Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân, là anh và cháu của Ngô Đình Diệm, để tìm di hài cha.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  • Phạm Thị Hoàn (biên tập) (1992). Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh (1892~1992), tuyển tập và di cảo. An Tiêm (Paris).
  • David G. Marr (1984). “Language and Literacy”. Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945. University of California Press. tr. 150–175.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ [1]Có nhiều thông tin chưa thống nhất ngày mất của Phạm quỳnh
  2. ^ a b Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong
  3. ^ Giá trị văn học của Nam phong tạp chí, Nguyễn Hữu Sơn, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam (số 8 - 2017)
  4. ^ Kỷ niệm Nam Phong tạp chí và ca ngợi Phạm Quỳnh nhằm mục đích gì, Tuần báo Văn nghệ TP.HCM, 21/7/2017
  5. ^ a b Danh nhân bất đồng, Tuần báo Văn nghệ TP.HCM, 8/9/2018
  6. ^ Sông Hương ngày 15 Tháng Tám 1936.
  7. ^ a b Về cái chết của ông chủ bút tạp chí Nam Phong - Hà Nội mới
  8. ^ https://xuanay.vn/pham-quynh-va-ban-tu-hinh-doi-voi-ong/
  9. ^ Trở lại chuyện Phạm Quỳnh, Tuần báo Văn Nghệ, 6/5/2017
  10. ^ ChúngTa.com (29/06/2009). “Phạm Quỳnh”. ChúngTa.com. Truy cập 13/6/2010. Gia đình Phạm Quỳnh Kiểm tra giá trị |url lưu trữ= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày truy cập=|ngày= (trợ giúp)
  11. ^ Dương Quảng Hàm (1941). Việt Nam văn học sử yếu.
  12. ^ Hai cống hiến lớn của Phạm Quỳnh, Tạp chí Tia sáng, 27/04/2019
  13. ^ Con người Phạm Quỳnh, TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỔNG HỢP KHÁM PHÁ HUẾ, 20/10/2014.
  14. ^ Phạm Tuyên, Lịch sử sẽ công bằng với cha tôi, 04/12/2007.
  15. ^ “Khánh thành tượng nhà văn hóa Phạm Quỳnh”.
  16. ^ Nhận diện lại Nam Phong tạp chí, Tạp chí Sông Hương - Số 341 (T.07-17)
  17. ^ Bài phát biểu của nhạc sĩ Phạm Tuyên nhân dịp tôn vinh Danh nhân văn hóa Phạm Quỳnh Nhạc sĩ Phạm Tuyên tại lễ trao giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần XI – 2018, Phạm Tuyên

Liên kết ngoàiSửa đổi