Mở trình đơn chính

Alexandre de Rhodes

nhà truyền giáo Dòng Tên và nhà ngôn ngữ học gốc Avignon

Alexandre de Rhodes (15 tháng 3 năm 15915 tháng 11 năm 1660) là một nhà truyền giáo Dòng Tên và một nhà ngôn ngữ học người Avignon. Ông là một trong những giáo sĩ đã góp phần quan trọng vào quá trình truyền bá Công giáo tại Việt Nam.

Alexandre de Rhodes
Derhodes.jpg
Tranh chân dung Alexandre de Rhodes
Sinh15 tháng 3 năm 1591
Avignon, Lãnh địa Giáo hoàng (nay thuộc Pháp)
Mất5 tháng 11, 1660(1660-11-05) (69 tuổi)
Isfahan, Ba Tư
Quốc tịch Lãnh địa Giáo hoàng

Chữ Quốc ngữ Việt Nam được hình thành nhờ công trình tập thể của các nhà truyền giáo Bồ Đào NhaÝ, với sự trợ giúp của các giáo hữu Việt Nam, do giáo sĩ Francisco de Pina khởi đầu.[1][2] Khi Rhodes đến xứ Đàng Trong thì phương pháp ghi âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh, nay gọi là chữ Quốc ngữ, đang được xây dựng.[3] Alexandre de Rhodes đã ghi nhận và thừa hưởng di cảo của những người tiền bối. Ông không phải là người tạo ra chữ Quốc ngữ nhưng có công hệ thống hóa và san định hệ chữ này, cũng như biên soạn và vận động cho cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên được ấn hành.[4][5][6]

Công cuộc truyền giáo ở Việt Nam của ông thăng trầm bởi việc giao thương của chúa Trịnhchúa Nguyễn với Bồ Đào Nha và xung đột giữa hai miền Đàng Ngoài–Đàng Trong. Khi việc giao thương với Bồ Đào Nha bị gián đoạn, ông bị chính quyền trục xuất.[7] Những năm cuối đời, ông truyền giáo tại Ba Tư.

Tiểu sửSửa đổi

Thời niên thiếuSửa đổi

Alexandre de Rhodes sinh tại Avignon thuộc Lãnh địa Giáo hoàng (nay ở miền nam nước Pháp), trong một gia đình khá giả. Các nguồn ghi năm sinh của ông là 1591 hoặc 1593. Sử liệu trước đây thường cho rằng ông có gốc Do Thái.[8] Tổ tiên ông tới từ vùng Aragón, Tây Ban Nha sang tị nạn dưới bóng Giáo hoàng vì thời ấy Avignon là đất của Giáo hoàng.[9] Sau khi hoàn thành trung học tại quê nhà, ông vào Nhà Tập Dòng Tên tại Roma ngày 24 tháng 4 năm 1612, học thiên văntoán học. Một người bạn đồng môn của ông là Johann Adam Schall von Bell sau này rất nổi tiếng tại Trung Hoa. Thời kỳ này, công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển nhưng cũng gặp sự kháng cự của các chính quyền sở tại. Vì thế, bên cạnh nhiệt tâm truyền giáo, còn phải kể ước muốn được đổ máu đào minh chứng cho Chúa Giêsu của các vị thừa sai tiên khởi. Tên ông được người đời sau phiên âm là A-lịch-sơn Đắc Lộ.[10]

Truyền giáoSửa đổi

Trong bối cảnh đó, Alexandre de Rhodes đã xin và được giáo sĩ cấp trên chỉ định đi truyền giáo tại Nhật Bản. Ngày 4 tháng 4 năm 1619, ông lên đường sang Nhật vào tuổi 26.

Đầu tiên, Alexandre de Rhodes cập bến tại Goa, đợi chờ cơ hội thuận tiện đặt chân lên đất Nhật Bản. Nhưng tình hình bách hại Kitô giáo dữ dội tại đây đã khiến các giáo sĩ bề trên chỉ định ông đi Trung Quốc. Ông lên tàu đi Ma Cao, nhập học Đại học Thánh Phaolô. Tại Macao ông đã ghi lại nhận xét về người Trung Hoa:

"Người Trung Hoa rất ngạc nhiên khi nhìn thấy bản đồ chúng tôi vẽ. Trung Quốc vĩ đại của họ chỉ còn là chấm nhỏ trong vũ trụ Trái Đất bao la. Trái lại, nơi bản đồ trái đất hình vuông do họ vẽ, Trung Quốc nằm chính giữa, đúng như tên gọi (Trung Quốc-nước ở giữa). Sau đó, họ vẽ biển nằm bên dưới Trung Quốc, trong đó rải rác mấy đảo nhỏ, và họ đề tên: Châu Âu, Châu PhiNhật Bản..."

Ông còn viết:

"Chúng ta thường tỏ ra quý chuộng những người ngoại giáo. Nhưng khi họ trở thành Kitô hữu, chúng ta không đoái hoài đến họ nữa. Thậm chí còn bắt các người theo đạo phải từ bỏ y phục địa phương. Chúng ta đâu biết rằng, đây là một đòi buộc quá khắt khe, mà ngay cả Thiên Chúa, Ngài cũng không đòi hỏi như thế. Chúng ta ngăn cản người ngoại giáo, không cho họ cơ hội dễ dàng gia nhập Giáo hội Công giáo. Riêng tôi, tôi cực lực phản đối những ai muốn bắt buộc người đàn ông Trung Hoa, khi theo đạo, phải cắt bỏ mái tóc dài họ vẫn để, y như các phụ nữ trong xứ. Làm vậy, chúng ta gây thêm khó khăn cho các nam tín hữu Trung Hoa, một khi theo Công giáo, không còn tự do đi lại trong xứ, hoặc tìm được dễ dàng công ăn việc làm. Phần tôi, tôi xin giải thích rằng, điều kiện để trở thành Kitô hữu là phải từ bỏ lầm lạc, chứ không phải cắt bỏ tóc dài..."

Tại Việt NamSửa đổi

 
Bản đồ Đàng Ngoài và Đàng Trong theo Alexandre de Rhodes 1651

Đầu năm 1625, Alexandre cùng với bốn cha dòng Tên khác và một tín hữu Nhật Bản, cập bến Hội An, gần Đà Nẵng. Ông bắt đầu học tiếng Việt từ các nhà truyền giáo tới trước đó và từ một cậu bé khoảng 10, 12 tuổi. Ông viết:

Chỉ trong vòng 3 tuần lễ, chú bé đã dạy tôi học biết tất cả các cung giọng khác nhau của tiếng Việt và cách thức phát âm của từng chữ. Cậu không hề có một kiến thức gì về ngôn ngữ châu Âu, thế mà, cũng trong vòng 3 tuần lễ này, cậu đã có thể hiểu được tất cả những gì tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời, cậu học đọc, học viết tiếng Latin và đã có thể giúp lễ. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu bé. Sau đó, cậu trở thành thầy giảng giúp việc các cha truyền giáo và là một dụng cụ tông đồ hữu hiệu trong việc loan báo Tin Mừng nơi quê hương Việt Nam thân yêu của thầy và nơi Vương quốc Lào láng giềng.

Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của Alexandre de Rhodes, nhưng cuộc đời truyền giáo của ông ở đây rất bấp bênh và trôi nổi. Trong vòng 20 năm, ông bị trục xuất đến sáu lần. Nhưng sau cả sáu lần ấy, ông đều tìm cách trở lại Việt Nam khi cơ hội cho phép.

Ông đến truyền giáo ở Đàng Trong vào năm 1625 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên và ở Đàng Ngoài vào năm 1626 dưới thời chúa Trịnh Tráng. Thời gian Alexandre de Rhodes giảng đạo tại Việt Nam cũng là thời kỳ các cha thừa sai dòng Tên hoạt động rất hăng say và hữu hiệu. Riêng Alexandre de Rhodes, ông đã truyền đạo từ Nam ra Bắc.

Ông kể lại công cuộc truyền giáo tại Đàng Ngoài:

Khi chúng tôi vừa đến kinh đô Đàng Ngoài, tức khắc nhà vua truyền lệnh cho tôi phải xây một nhà ở và một nhà thờ thật đẹp. Dân chúng tuôn đến nghe tôi giảng đạo đông đến nỗi, tôi phải giảng đến 4 hoặc 6 lần trong một ngày. Chị vua và 17 người thân trong gia đình vua xin lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Nhiều tướng lãnhbinh sĩ cũng xin theo đạo. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên nhất là thấy các vị đã mau mắn từ bỏ bụt thần để theo đạo Công giáo. Tất cả đều dễ dàng chấp nhận khi tôi giải thích cho họ hiểu giáo lý đạo Công giáo rất phù hợp với lý trílương tâm con người. Các tín hữu Công giáo Việt Nam có Đức Tin vững chắc đến độ, không gì có thể rút Đức Tin ra khỏi lòng họ. Nhiều người phải đi bộ suốt 15 ngày đường để được xưng tội hoặc tham dự thánh lễ. Nhưng phải thành thật mà nói, tôi không thể chu toàn cách tốt đẹp mọi công tác truyền đạo này, nếu không có trợ giúp tuyệt vời của các thầy giảng. Vì nhận thấy mình là linh mục duy nhất giữa một cánh đồng truyền đạo bao la, nên tôi chọn trong số các tín hữu, những thanh niên không lập gia đình và có lòng đạo đức sâu xa cũng như có nhiệt tâm rao giảng Tin Mừng, để giúp tôi. Những người này công khai thề hứa sẽ dâng hiến cuộc đời để phụng sự Chúa, phục vụ Giáo hội, sẽ không lập gia đình và sẽ vâng lời các cha thừa sai đến Việt Nam truyền đạo. Hiện tại có tất cả 100 thầy giảng đang được thụ huấn trong chủng viện và được các tín hữu trang trải mọi phí tổn.[cần dẫn nguồn]

Có tác giả (Bùi Kha) cho rằng ông có vận động Pháp đánh chiếm Việt Nam[11] dựa vào một đoạn trích:

Tôi tưởng nước Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để chinh phục toàn cõi Đông phương đưa về quy phục Chúa Ki Tô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời Roma ngày 11/9/1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo hoàng.
Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Hoa, ở Đàng Trong, ở Đàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanxicô Xavie tới 300 quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm ở những nơi cùng kiệt cõi đất.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng cách dùng từ ngữ trong đoạn trên không đề cập tới vận động xâm lăng mà là một ẩn dụ cho việc truyền giáo.[12][13] Việc cố tình diễn giải thành ý đồ xâm lược là một suy luận "chủ quan võ đoán",[14] và "hận thù tôn giáo".[15] Việc tưởng tượng này về de Rhodes được đánh giá là nằm trong một tưởng tượng lớn khác về lịch sử cận đại.[16] Tuy nhiên, theo website của Quốc hội Việt Nam thì giáo sư Cao Huy Thuần đã dẫn theo từ điển Robert của Pháp: từ "soldats" mà de Rhodes dùng trong thư có nghĩa là "binh sĩ" trong tiếng Pháp (nguyên văn “J’ai cru que la France, étant le plus pieux royaume de monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent đ la conquâte de tout L’orient"), tuyệt đối không có nghĩa là “chiến sĩ truyền giáo”. Chỉ khi ghi rõ “soldat de lÉvangile” thì đó mới là “chiến sĩ truyền giáo”. Như vậy nghĩa là de Rhodes thực sự có ý định xin nước Pháp dùng quân đội tấn công Việt Nam[17]

Bị trục xuất khỏi Việt NamSửa đổi

Alexandre de Rhodes từng gọi Phật Thích Ca“thằng hay dối” trong sách Phép giảng tám ngày (nguyên văn: "Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ")[18]

Cũng trong cuốn “Phép Giảng Tám Ngày”, de Rhodes đã gọi Khổng Tử“người chẳng phải hiền, chẳng phải thánh, thật là độc dữ”. Cũng trong sách này, ông đã viết nhiều điều sai về Đức Phật, ví dụ: Tất Đạt Đa (tên trước khi xuất gia của Phật) “đẻ được một con gái đoạn thì đi ở trên rừng một mình, dẫu vợ cãi mà chẳng cho, vì mình đã quen làm việc dối như pháp môn phù thủy"... Cuốn sách luôn nói đến sự “thờ bụt thần ma quỷ”, có ý hạ Đức Phật xuống hàng ma quỷ. Sách cũng gọi A-la-la và Ưu-đà-la (2 vị đạo sĩ đã dạy Tất Đạt Đa môn thiền định) là "2 con quỷ", và "nó (Tất Đạt Đa) thì ngồi giữa hai thầy quỷ ấy, mà dạy nó chớ tin có Chúa Trời, cùng đặt tên nó là Thích Ca"'[15] Trong mục “Đạo bụt: giáo ngoài và giáo trong”, de Rhodes liên tục có những đả kích với đạo Phật, ông nói “Nó (Phật Thích Ca) và quỷ làm thầy nó, thấy vậy, thì lấy đàng khác mà mới dạy những truyện dối trá dã dầy", “sự thờ bụt này là thói rợ mọi”, “ta suy bởi đâu mà ra, thì một chốc ta biết là đạo gian... Đến khi Thích Ca ra dạy kẻ khác sự đạo gian ấy, vì trái lẽ lắm, thì người ta bỏ mà đi hết””, “ai phải đạo bụt trong độc ấy, thì quỷ quái hơn kẻ theo đạo ngoài vậy”, “làm chùa thờ Thích Ca thì là đứa gian vậy”[19]

Cũng trong mục này, de Rhodes công kích cả tục lệ cúng giỗ tổ tiên của người Việt, ông viết "Sao người Annam mọi năm có giữ ngày cha mẹ, ông bà, ông vải sinh thì, mà làm giỗ chạp hết sức? Sao tốn của bấy nhiêu mà làm cỗ làm mâm, cùng nhiều sự nữa có dọn cho cha mẹ khi đã sinh thì? Vì chưng nếu linh hồn chết với xác, lo cho kẻ chết chẳng có làm chi... khi linh hồn ta đã khỏi xác thịt này, chẳng còn có dùng ăn uống hay là mặc, cùng các kỳ sự vê xác, vì linh hồn ta là tính thiêng liêng... Mà sao người Annam dám cúng cho cha mẹ, khi đã sinh thì, những của dối ấy?”[20]

Nhận thức của Đắc Lộ phản ánh thái độ chung của các giáo sĩ Phương Tây thời đó đối với Nho giáo và Phật giáo, bắt nguồn từ nhiệt tình truyền giáo nên họ có xu hướng coi khinh các tôn giáo bản xứ, họ coi việc đả kích các tôn giáo này là cách để thuyết phục dân bản xứ cải sang đạo Thiên Chúa.[15] Giáo sư Nguyễn Văn Kiệm viết: “Các giáo sĩ thừa sai, trong đó có Alexandre de Rhôde, đã gây nên một cú sốc lớn đối với đời sống tâm linh và văn hóa của dân tộc ta khi đó… làm băng hoại nền tảng của cộng đồng. Họ mang mặc cảm tự cao cho rằng Cơ Đốc giáo là tôn giáo hoàn vũ, cao siêu hơn bầt cứ tôn giáo nào khác …. Do đó, họ coi các tôn giáo truyền thống bản địa đều là thấp kém, man muội cần phải xóa sạch để thay thế bằng Cơ Đốc giáo.”[21]

Ông bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài một lần và khỏi Đàng Trong ba lần mà lần cuối năm 1645 là vĩnh viễn, do chính quyền chúa Trịnhchúa Nguyễn không còn lợi dụng được các nhà truyền giáo để giao thương với Bồ Đào Nha.[7] Khi trở lại châu Âu, Alexandre de Rhodes vận dụng mọi khả năng hiểu biết về công cuộc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu, đã xin Tòa Thánh gửi các Giám mục truyền giáo đến Á Châu, để các ngài có thể truyền chức linh mục cho các thầy giảng bản xứ.

Ông mất ngày 5 tháng 11 năm 1660Isfahan, Ba Tư, sau 5 năm truyền giáo ở đây.[9]

Đóng góp vào chữ Quốc ngữSửa đổi

 
Trang đầu sách Phép giảng tám ngày song ngữ bằng tiếng Latinh (bên trái) và tiếng Việt với chữ Quốc ngữ (bên phải)

Vào năm 1651, ông cho in cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) dựa trên các ký tự tiếng Việt của những giáo sĩ người Bồ Đào NhaÝ trước đó. Có thể coi đây là sự kiện đánh dấu sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Ngoài ra một tác phẩm khác cùng tầm quan trọng do giáo sĩ Đắc Lộ soạn là cuốn Phép giảng tám ngày (tựa Latinh: Catechismus). Khác với phần tự điển ghi từ vựng, Phép giảng tám ngày là tác phẩm văn xuôi, phản ảnh văn ngữ và ghi lại cách phát âm của tiếng Việt vào thế kỷ 17.

Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày qua đời của Alexandre de Rhodes, nguyệt san MISSI, do các cha Dòng Tên người Pháp điều khiển, đã dành trọn số tháng 5 để tưởng niệm và ca tụng Đắc Lộ là "một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng". Nguyệt san MISSI nói về công trình khai sinh chữ Quốc ngữ với những lời ca ngợi như sau:[cần dẫn nguồn]

Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Đắc Lộ khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, cha Đắc Lộ là người đưa công trình chế biến chữ Quốc ngữ đến chỗ kết thúc vĩnh viễn và thành công, ngay từ năm 1651, là năm mà cuốn tự điển Việt-Bồ-La ra đời. Đây cũng là năm sinh chính thức của chữ Quốc ngữ. Và cuộc khai sinh diễn ra tại Roma, nơi nhà in Vatican. Chính nơi nhà in Vatican mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình. Đã từ lâu đời, người Việt Nam viết bằng chữ Tàu, hoặc bằng chữ Nôm, do họ sáng chế ra. Nhưng đa số người Việt Nam không thể đọc và viết được chữ Tàu, vì theo lời cha Đắc Lộ, Tàu có đến 80 ngàn chữ viết khác nhau. Các nhà truyền giáo đầu tiên khi đến Việt Nam, đã bắt đầu dùng mẫu tự La Tinh để viết lại âm giọng mà họ nghe được từ tiếng Việt. Khi cha Đắc Lộ đến Việt Nam, đã có một số phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ La Tinh rồi. Vì thế, có thể nói rằng, công trình sáng tạo ra chữ Quốc ngữ trước tiên là một công trình chung của các nhà thừa sai tại Việt Nam. Nhưng khi chính thức in ra công trình khảo cứu chữ viết tiếng Việt của mình, là cùng lúc, Alexandre de Rhodes đã khai sinh ra chữ viết này, ban đầu được các nhà truyền giáo sử dụng, sau đó, được toàn thể dân Việt Nam dùng và biến nó thành chữ quốc ngữ. Tất cả các nước thuộc miền Viễn Đông từ đó ước ao được có chữ viết cho quốc gia mình y như chữ Quốc ngữ này vậy.

Bản thân Alexandre de Rhodes đã viết như sau:

Khi tôi vừa đến Đàng Trong và nghe người dân bản xứ nói, đặc biệt là phụ nữ, tôi có cảm tưởng mình đang nghe chim hót líu lo, và tôi đâm ra ngã lòng, vì nghĩ rằng, có lẽ không bao giờ mình học nói được một ngôn ngữ như thế. Thêm vào đó, tôi thấy hai cha Emmanuel FernandezBuzomi, khi giảng, phải có người thông dịch lại. Chỉ có cha Francois Pina là hiểu và nói được tiếng Việt, nên các bài giảng của cha Pina thường đem lại nhiều lợi ích hơn là của hai cha Fernandez và Buzomi. Do đó tôi tự ép buộc mình phải dồn mọi khả năng để học cho được tiếng Việt. Mỗi ngày tôi chăm chỉ học tiếng Việt y như ngày xưa tôi học môn thần học ở Roma. Và nhờ ơn Chúa giúp, chỉ trong vòng 4 tháng, tôi học biết đủ tiếng Việt để có thể giải tội và sau 6 tháng, tôi có thể giảng được bằng tiếng Việt. Kết quả các bài giảng bằng tiếng Việt lợi ích nhiều hơn các bài giảng phải có người thông dịch lại. ...Tuy nhiên trong công cuộc này, ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm, thời gian mà tôi lưu trú tại hai xứ Cô-sinh và Đông-kinh (tức Đàng Trong và Đàng Ngoài - AC), thì ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina người Bồ Đào, thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều Cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và Cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam (tức là từ điển Việt-Bồ - AC), ông sau bằng tiếng Bồ-Đào (tức là từ điển Bồ-Việt - AC), nhưng cả hai ông đều đã chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La Tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn...

Như vậy, A. de Rhodes không phải là người sáng chế ra chữ quốc ngữ. Ông cũng không phải là người châu Âu đầu tiên soạn từ điển về tiếng Việt vì trước ông ta đã có hai giáo sĩ Bồ Đào Nha là G. de Amaral và A. Barbosa. Ông ta chỉ thừa hưởng công trình của hai cố đạo kia rồi thêm tiếng La Tinh vào theo lệnh của Tòa thánh La Mã mà thôi. Sở dĩ A. de Rhodes về sau này được lịch sử nhắc nhở đến nhiều là vì ông đã để lại hai quyển sách (tức Từ điển Việt-Bồ-La và Phép giảng tám ngày) được coi như tài liệu cổ nhất (có hệ thống) về chữ quốc ngữ.

Tuy nhiên, chữ Quốc ngữ trong Từ điển Việt–Bồ–La phản ánh những âm vực khác rất nhiều so với tiếng Việt ngày nay. Ví dụ, một đoạn chữ quốc ngữ trong "Phép Giảng 8 Ngày" được viết như sau: "Ngày thứ nhít. Ta cầu cừ đức Chúa blời giúp fưc cho ta biét tó tuầng đạo Chúa là nhuầng nào vì bậy ta phải hay ở thế nầy chẳng có ai fòú lâu; vì chưng ké đến bảy tám mươi tuếi chảng có nhiềo. Vì bậy ta nên tìm đàng nào cho ta được fòú lâu, thật là viẹc người cuên tử, khác phép thế gian nầy, dù mà làm cho người được phú quí; fâũ le chẳng làm được cho ta ngày fau...” Người thời nay rất khó đọc được cách viết này, vì vậy thứ chữ quốc ngữ Việt Nam hiện dùng không phải do Alexander de Rhodes hoàn thiện, mà còn phải có nhiều người góp sức tu bổ, chỉnh sửa sau đó, nhất là bởi các nhà trí thức sống vào đầu thế kỷ 20. Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết về nguồn gốc chữ quốc ngữ như sau: “….chữ quốc ngữ ngày hôm nay được hoàn chỉnh và phong phú, do những bậc thức giả là các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, các cụ Đông Kinh Nghĩa Thục, và là một công trình tập thể khởi đầu từ gần 4 thế kỷ trước..., Nhận ra tầm quan trong của việc mở mang dân trí và cổ xúy việc truyền bá quốc ngữ, do đó Hội Truyền Bá Quốc Ngữ và Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời vào thập niên 1930, và trong thời kháng Pháp, cán bộ ta truyền dạy chữ quốc ngữ cho nhân dân trong vùng tạm chiếm….Nói cho cùng chữ quốc ngữ ngày hôm nay phong phú và hoàn chỉnh là do những bậc thức giả cách mạng và toàn dân chung sức mà thôi.”

Tác phẩmSửa đổi

Ngoài cuốn Tự Điển Việt-Bồ-La Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum đã được Kho Tàng trữ của Thư viện Quốc gia Bồ Đào Nha scan và đưa lên mạng Internet (xem tại đây), còn có nguyên bộ các tác phẩm khác trong ấn bản đầu tiên ở thập niên 1650 mà Giáo sĩ Đắc-Lộ viết bằng tiếng Latintiếng Pháp có thể tìm thấy tại Thư viện Maurits Sabbe của Đại học Công giáo tại Louvain (Université catholique de Louvain) tại Bỉ. Ngoài ra, có thêm một số ấn bản hoặc tái ấn bản cũng được tìm ra trong cơ sở dữ liệu PORBASE của Liên hiệp các thư viện ở Bồ Đào Nha.

Đánh giáSửa đổi

 
Tem tưởng niệm Alexandre de Rhodes của Việt Nam Cộng hòa

Mặc dù chữ Quốc ngữ đã ra đời từ giữa thế kỷ 17, nhưng các văn phẩm Công giáo tại Việt Nam trong hơn 200 năm sau đó chủ yếu được viết bằng chữ Nôm, Hán ngữ hoặc La ngữ.[22] Khi người Pháp củng cố nền cai trị tại Việt Nam thì chữ Quốc ngữ được đặt làm văn tự chính thức trên toàn Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của giới nho sỹ chống Pháp tại Việt Nam. Giám mục Puginier viết: "...Trong lúc đó việc dạy chữ Pháp sẽ tiến triển nhiều hơn và chúng ta chuẩn bị một thế hệ để cung cấp các viên chức có học tiếng nước chúng ta. Như thế có lẽ trong vòng 20 hay 25 năm chúng ta có thể bắt buộc mọi giấy tờ đều viết bằng tiếng Pháp, do đó chữ Nho sẽ dần già bị bỏ rơi mà chúng ta chẳng cần phải cấm đoán gì.[23]

Do mục đích chính trị nói trên, vào thời Pháp thuộc, Alexandre de Rhodes được người Pháp ca tụng như một ngôi sao thời kỳ truyền giáo tiên khởi. Năm 1941, Hội Trí Tri cùng với Hội Truyền bá Quốc ngữ đã quyên góp để dựng một tấm bia kỷ niệm ngày sinh nhật thứ 350 của giáo sĩ Đắc Lộ ở gần bên bờ hồ Gươm trước cửa Đền Bà Kiệu. Bia này đến năm 1957 thì bị gỡ bỏ và mất tích đến năm 1995 thì mới tìm lại được.[24] Hai năm sau, năm 1943 chính quyền thuộc địa Đông Dương phát hành con tem 30 xu để tôn vinh những đóng góp của ông trong quá trình phát triển chữ Quốc ngữ. Thời kỳ Việt Nam Cộng hòa cũng phát hành một bộ bốn con tem kỷ niệm 300 năm ngày mất của ông, nhưng ra trễ 1 năm (phát hành ngày 5 tháng 11 năm 1961). Tên ông được đặt cho một trường trung học và một con đường ở Sài Gòn gần Dinh Độc Lập. Tại TP.HCM con đường mang tên ông bị đổi thành Thái Văn Lung năm 1985; vào năm 1995, con đường này lấy lại tên Alexandre de Rhodes cho đến nay.[10]

Tuy vậy, chữ Quốc ngữ dần được các trí thức và phong trào yêu nước sử dụng để cổ vũ để phổ biến tư tưởng canh tân và tinh thần độc lập. Do hạn chế về tài liệu thời Pháp thuộc và với mục đích chính trị đương thời, người Pháp đã ca tụng Alexandre de Rhodes như là "người sáng tạo nên chữ Quốc ngữ". Sau này, nhờ tiếp cận và nghiên cứu các tư liệu gốc, các học giả thập niên 1960 như Đỗ Quang Chính, Lê Ngọc Trụ, Nguyễn Khắc Xuyên đã bắt đầu chứng minh rằng chữ Quốc ngữ là một thành tựu tập thể của Dòng Tên tại Việt Nam. Việc tới giờ còn băn khoăn ai đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là "đang đi thụt lùi".[25]

Ngày 5 tháng 11 năm 2018, đúng 358 năm sau ngày mất của Alexandre de Rhodes, Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu cùng 17 người Việt Nam là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, doanh nhân, và những người quan tâm đến việc bảo tồn Chữ Quốc ngữ, đã khánh thành 3 tấm bia tri ân đặt quanh mộ ông tại nghĩa trang Armenia, thành phố Isfahan, Iran. Buổi lễ còn có sự tham dự của ông Mazaheri (đại diện cộng đồng Hồi giáo tại Isfahan – cộng đồng chủ quản), Ông Gestabian (đại diện cộng đồng Cơ Đốc giáo Armenia tại Isfahan), Bà Gukasian (trưởng phòng quan hệ dân chúng nhà thờ VANK). Trên bia đá có ghi dòng chữ tri ân bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Ba Tư.[26]

Từng có đề xuất đặt tượng Alexandre de Rhodes tại Hồ Gươm nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long năm 2010, nhưng đề xuất này cuối cùng bị gạt bỏ. Nhà nghiên cứu An Chi thì cho rằng: A. de Rhodes làm sách bằng chữ quốc ngữ là để phụng sự cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo, chứ không vì lợi ích của người Việt. Những nhà cách mạng Việt Nam đã sử dụng chữ quốc ngữ để trở thành vũ khí chuyển tải hiệu quả những tư tưởng yêu nước và những phương thức đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Đây chẳng qua là chuyện “gậy ông đập lưng ông”, chữ quốc ngữ chính là "chiến lợi phẩm" của những nhà cách mạng Việt Nam, nên thời nay người Việt cũng chẳng cần thiết phải mang ơn A. de Rhodes[27]:

... ông cố đạo nhà ta thì có công gì? Vâng, thì có đấy, nhưng đó chỉ là đối với Thánh bộ Truyền bá Đức tin và Giáo hội Công giáo La Mã mà thôi. Cái tâm lý đòi dân ta phải mang ơn A. de Rhodes chẳng qua là hậu quả của sự nhồi sọ mà bọn thực dân Pháp đã thực hiện trong thời kỳ chúng còn cai trị dân ta, nước ta. Ngoài ra, còn có thể có cả những nguyên nhân khác thuộc về tâm thức riêng, và cả... tín ngưỡng riêng nữa.
Người ta thì làm cuốn từ điển để tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền đạo của người ta mà mình thì cứ nằng nặc đòi người Việt Nam phải ghi công ông cố đạo Alexandre de Rhodes, thậm chí có người mà lòng biết ơn cụ cố còn nặng đến những 43 tấn... Chẳng khôi hài ư? Không quái đản à? Thậm chí có người còn muốn tôn vinh ông ta trong dịp đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội thì thật không còn biết phải trái là gì nữa. A. de Rhodes mà lại đủ tư cách để ăn theo Lý Thái Tổ ư?''

Một số ý kiến đã có những liên hệ về hoạt động truyền đạo của vị giáo sĩ này với dã tâm xâm lược Việt Nam của Pháp. Tuy nhiên giáo sư Vũ Minh Giang (Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia) về vấn đề này cho rằng: "Nó gần với một cách nghĩ cũ - và không phù hợp với tư duy lịch sử - rằng bất cứ người Pháp nào sang Việt Nam giai đoạn trước 1858 (thời điểm Pháp bắt đầu tấn công Việt Nam) thì đều là gián điệp, đều hoạt động với mục đích “lót đường” cho cuộc xâm lược sau này"

Theo giáo sư Vũ Minh Giang: "Nếu nói rằng Alexandre de Rhodes có ý “đưa đường dẫn lối” cho người Pháp chiếm Việt Nam, những người đưa ra lập luận ấy cần cung cấp những tài liệu và dẫn chứng đủ thuyết phục. Được vậy, vấn đề sẽ có tính khách quan và khoa học hơn rất nhiều so với những phỏng đoán, suy luận thiếu căn cứ hoặc mơ hồ. Thực lòng, khoảng cách trên dưới 200 năm từ thời Alexandre de Rhodes sang Việt Nam cho tới khi Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng năm 1858 là khá xa, tôi chưa hiểu vị giáo sĩ này sẽ cung cấp những tài liệu “gián điệp” theo cách nào để không lạc hậu?[28] Còn nếu gắn việc truyền giáo, phát triển đạo Thiên Chúa của Alexandre de Rhodes với mục đích gây dựng lực lượng hậu thuẫn, chống lưng cho cuộc xâm lược của người Pháp thì đó là cách tư duy kỳ thị tôn giáo và cực đoan."[29]

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Jacques, Roland (2002). Portuguese Pioneers of Vietnamese Linguistics Prior to 1650 – Pionniers Portugais de la Linguistique Vietnamienne Jusqu’en 1650 (bằng tiếng Anh & tiếng Pháp). Bangkok, Thái Lan: Orchid Press. ISBN 974-8304-77-9. 
  2. ^ Huỳnh Văn Mỹ - Bảo Trung (20 tháng 4 năm 2014). “Ai có công đầu với chữ quốc ngữ?”. Tuổi Trẻ. 
  3. ^ Jacques, Roland (2004). "Bồ Đào Nha và công trình sáng chế chữ quốc ngữ". Nguyễn Đăng Trúc dịch. Trong Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam (Quyển 1)Les missionnaires portugais et les débuts de l’Eglise catholique au Viêt-nam (Tome 1). Reichstett, Pháp: Định Hướng Tùng Thư. ISBN 2-912554-26-8.
  4. ^ Wörterbücher: Ein Internationales Handbuch Zur Lexikographie by Franz Josef Hausmann, p.2583 [1]
  5. ^ Researches Into the Physical History of Mankind By James Cowles p.501 [2]
  6. ^ Đỗ Quang Chính (1972). Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620–1659. Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn. Tr. 87–88.
  7. ^ a ă Nguyễn Hồng (1959). Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam: Các thừa sai Dòng Tên (1615–1665). Nxb Hiện Tại, Sài Gòn. Tr. 133–134, 159, 193–199.
  8. ^ http://www.academia.edu/25566838/The_First_French_in_Macao._The_Jesuit_Alexandre_de_Rhodes
  9. ^ a ă Đỗ Quang Chính (1999). "Tu sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes từ trần".
  10. ^ a ă Đỗ Quang Chính (2004). "Giáo hội Công giáo với chữ Quốc ngữ".
  11. ^ Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân - Bùi Kha - Nhà xuất bản Văn hóa Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2011, trang 59, 60 và 61.
  12. ^ Phạm Quang Tuấn (22 tháng 5 năm 2006). “Alexandre de Rhodes: Tổng kết và trả lời ông Bùi Kha”. Talawas. 
  13. ^ Hoàng Dũng (2019). “Pgs.Ts Hoàng Dũng: Không thể tùy tiện lên án người xưa như thế”. Tuổi Trẻ. 
  14. ^ Chương Thâu (1995). “Từ một câu chữ của Alexandre de Rhodes đến các dẫn dụng khác nhau”. 
  15. ^ a ă â Mặc Giao. “Alexandre De Rhodes và việc hội nhập văn hoá Việt Nam”. Văn hóa Nghệ An. 
  16. ^ Nguyễn Lương Hải Khôi (27 tháng 11 năm 2019). “Alexandre de Rhodes và sự tưởng tượng về lịch sử cận đại của nền sử học Việt Nam”. Trung tâm Nghiên cứu Việt–Mỹ, Đại học Oregon. 
  17. ^ Việt Nam là một nước có văn tự
  18. ^ https://petrotimes.vn/tran-trong-kim-va-viet-nam-su-luoc-67618.html
  19. ^ Ngày thứ 4, mục “Đạo bụt: giáo ngoài và giáo trong” , trang 99-102
  20. ^ Ngày thứ 4, mục “Đạo bụt: giáo ngoài và giáo trong” , trang 110-111
  21. ^ Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, Hà Nội 2000: “Sự Du Nhập đạo Thiên Chúa vào Việt Nam từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19”, trang 300-301
  22. ^ Marr, David G. Vietnamese tradition on trial, 1920–1945. tr. 145. 
  23. ^ Cao Huy Thuần, Ðạo Thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam, trang 386 – 388
  24. ^ Bia đền Bà Kiệu
  25. ^ Hoàng Mạnh Hà (19 tháng 8 năm 2016). “Đặt vấn đề ai là cha đẻ chữ quốc ngữ là không khoa học”. Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh. 
  26. ^ “Khánh thành bia tri ân Alexandre de Rhodes tại Isfahan (Iran)”. Truy cập 11 tháng 11 năm 2018. 
  27. ^ http://antg.cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/Alexandre-de-Rhodes-khong-phai-la-nguoi-sang-tao-ra-chu-Viet-298577/
  28. ^ “Nhìn lại vai trò của Alexandre de Rhodes: Không nên sa vào những suy diễn cực đoan”. 
  29. ^ “Nhìn lại vai trò của Alexandre de Rhodes: Không nên sa vào những suy diễn cực đoan”. 

Tham khảoSửa đổi

  • Schatz, Klaus. Hoa Trái ở Phương Đông. Alexandre de Rhodes (1593-1660) và công cuộc truyền giáo thời kỳ đầu của Dòng Tên tại Việt Nam. Phương Đông 2017.

Liên kết ngoàiSửa đổi