Mở trình đơn chính
Eleanor RooseveltTuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1949)— Điều 19 quy định rằng "Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cũng như phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia"[1]
Orator at Speakers' Corner in London, 1974

Tự do ngôn luận là nguyên tắc củng cố cho quyền tự do của một cá nhân hoặc cộng đồng trong việc biểu đạt quan điểm và ý kiến của họ mà không sợ bị trả đũa, kiểm duyệt hoặc xử phạt. Thuật ngữ "tự do biểu đạt" đôi khi cũng được sử dụng đồng nghĩa nhưng có bao gồm cả hành động tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt bất kỳ thông tin hoặc ý kiến nào bằng mọi phương tiện truyền thông.

Tự do ngôn luận được công nhận là quyền con người theo điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) và được công nhận trong luật nhân quyền quốc tế tại Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR). Điều 19 của UDHR quy định rằng "ai cũng có quyền giữ quan điểm mà không can thiệp" và "ai cũng có quyền tự do biểu đạt; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin và ý kiến các loại, không kể biên giới quốc gia, bất kể bằng lời nói, bằng văn bản hay in ấn, dưới hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác tùy theo sự lựa chọn của họ". Điều 19 trong ICCPR sau đó cải thiện điều này thông qua chỉ ra rằng việc thực hiện các quyền này mang theo "nhiệm vụ và trách nhiệm đặc biệt" và "theo đó phải tuân theo các hạn chế nhất định" khi cần thiết "để tôn trọng quyền hoặc danh dự của những người khác" hoặc "để bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, hoặc sức khỏe hay đạo đức cộng đồng".[2]

Do đó, quyền tự do ngôn luận và biểu đạt có thể không được công nhận là quyền tuyệt đối và những hạn chế chung về tự do ngôn luận liên quan đến hành động phỉ báng, vu khống, sự tục tĩu, khiêu dâm, xúi giục, kích động, ngôn từ gây hấn, thông tin bí mật, vi phạm bản quyền, bí mật thương mại, nhãn dán thực phẩm, thỏa thuận bảo mật thông tin, quyền riêng tư, quyền được lãng quên, an ninh công cộng, và khai man. Các biện minh cho việc này bao gồm nguyên tắc gây hại, được đề xuất bởi John Stuart Mill trong tác phẩm Bàn về Tự do (On Liberty), trong đó có nêu ra rằng: "mục đích duy nhất mà quyền lực có thể được thực thi một cách chính đáng đối với bất kỳ thành viên nào của một cộng đồng văn minh, ngược lại ý chí của anh ta, là nhằm ngăn chặn sự tổn hại cho người khác." [3]

Ý tưởng về "nguyên tắc xúc phạm" cũng được sử dụng trong việc biện minh cho các hạn chế về ngôn luận, theo đó các hình thức biểu đạt được coi là ảnh hưởng xấu đến xã hội có thể bị hạn chế, tùy theo các yếu tố như mức độ, thời lượng, động cơ của người nói và mức độ dễ dàng trong việc tránh được nó. [3] Cùng với sự phát triển của thời đại kỹ thuật số, việc áp dụng tự do ngôn luận càng gây tranh cãi khi ngày càng có nhiều các phương tiện giao tiếp cũng như các hạn chế mới, ví dụ như Dự án Chiếc Khiên Vàng (Golden Shield Project), một sáng kiến từ Bộ Công an Trung Quốc để lọc dữ liệu có nguy cơ gây bất lợi từ nước ngoài.

Nguồn gốc của tự do ngôn luận và biểu đạtSửa đổi

Tự do ngôn luận và biểu đạt có một lịch sử lâu đời trước cả các văn kiện nhân quyền quốc tế của ngày nay. [4]Người ta cho rằng nguyên tắc dân chủ của người Athen cổ đại về tự do ngôn luận có thể đã xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 6 hoặc đầu thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. [5] Các giá trị của nền Cộng hòa La Mã đã bao gồm quyền tự do ngôn luận và tự do tôn giáo. [6]

Các khái niệm về tự do ngôn luận cũng có thể được tìm thấy trong các tài liệu nhân quyền từ sớm.[4] Tuyên ngôn về các Quyền của Con người và của Công dân, được thông qua trong Cuộc cách mạng Pháp năm 1789, đặc biệt khẳng định quyền tự do ngôn luận như một quyền không thể thay đổi.[4] Tuyên ngôn quy định quyền tự do ngôn luận trong Điều 11, trong đó nêu rõ rằng:

Quyền tự do trao đổi ý kiến và quan điểm là một trong những điều quý giá nhất về quyền của con người. Mọi công dân có thể, theo đó, có quyền tự do phát biểu, viết và in ấn, nhưng sẽ chịu trách nhiệm về việc lạm dụng quyền tự do này theo luật định.[7]

Điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được thông qua vào năm 1948, tuyên bố rằng:

Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.[8]

Ngày nay, tự do ngôn luận, hoặc tự do biểu đạt, được công nhận trong luật nhân quyền của quốc tế và từng khu vực. Quyền này được quy định tại Điều 19 của Công ước quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị, Điều 10 của Công ước châu Âu về Nhân quyền, Điều 13 của Công ước châu Mỹ về Nhân quyền và Điều 9 của Hiến chương châu Phi về Quyền Con người và Quyền các Dân tộc.[9] Dựa trên lập luận của John Milton tự do ngôn luận được hiểu là một quyền đa diện bao gồm không chỉ quyền biểu đạt, hoặc phổ biến, thông tin và ý kiến, mà còn là ba khía cạnh riêng biệt:

  1. quyền tìm kiếm thông tin và ý kiến;
  2. quyền tiếp nhận thông tin và ý kiến;
  3. quyền truyền đạt thông tin và ý kiến

Các tiêu chuẩn quốc tế, khu vực và quốc gia cũng công nhận rằng tự do ngôn luận, cũng như tự do biểu đạt, bao gồm bất kỳ phương tiện biểu đạt nào, có thể bằng lời nói, bằng văn bản, in ấn, thông qua Internethoặc thông qua các hình thức nghệ thuật. Điều này có nghĩa là việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận như một quyền chính đáng không chỉbao gồm nội dung, mà còn cả phương tiện biểu đạt.[9]

Mối quan hệ với các quyền khácSửa đổi

Quyền tự do ngôn luận và biểu đạt có liên quan chặt chẽ với các quyền khác và có thể bị hạn chế khi xung đột với các quyền khác (xem các hạn chế về quyền tự do ngôn luận).[9] Quyền tự do biểu đạt cũng liên quan đến quyền được xét xử công bằng trong tố tụng tòa án vì điều này có thể giới hạn quyền truy cập tìm kiếm thông tin hoặc xác định cơ hội và các phương tiện để thể hiện quyền tự do biểu đạt trong thủ tục tố tụng của tòa án.[10] Theo nguyên tắc chung, quyền tự do biểu đạt không được hạn chế quyền riêng tư, cũng như danh dự và uy tín của người khác. Tuy nhiên hạn chế này được thu hẹp khi có các chỉ trích liên quan đến các nhân vật của công chúng.[10]

Quyền tự do biểu đạt có ý nghĩa quan trọng đối với truyền thông bởi vì nó đóng vai trò đặc biệt trong việc mang quyền tự do biểu đạt chung đến cho tất cả mọi người.[9] Tuy nhiên, tự do báo chí không nhất thiết hỗ trợ cho tự do ngôn luận. Judith Lichtenberg đã chỉ ra các tình huống trong đó tự do báo chí có thể hạn chế quyền tự do ngôn luận, ví dụ như trường hợp phương tiện truyền thông ngăn chặn thông tin hoặc đàn áp các ý kiến đa chiều vốn là một phần của tự do ngôn luận. Lichtenberg lập luận rằng tự do báo chí chỉ đơn giản là một dạng quyền sở hữu được tóm gọn trong nguyên tắc "không có tiền, không có tiếng nói".[11]

Dân chủ và tương tác xã hộiSửa đổi

 
Bức tường tự do ngôn luận vĩnh viễn tại Charlottesville, Virginia, U.S.

Bản thân tự do ngôn luận được xem là nguyên tắc cơ bản cho một nền dân chủ. Các quy phạm về việc hạn chế quyền tự do ngôn luận có nghĩa là một cuộc tranh luận công khai không thể bị triệt tiêu hoàn toàn ngay cả trong trường hợp khẩn cấp.[10] Một trong những người ủng hộ nổi trội nhất về mối liên hệ giữa tự do ngôn luận và dân chủ chính là Alexander Meiklejohn. Ông lập luận rằng khái niệm về dân chủ là khái niệm tự quản của nhân dân. Để một hệ thống như vậy có thể hoạt động được, một cử tri cần phải được cung cấp đầy đủ thông tin. Để có thể được trang bị các kiến thức đầy đủ, luồng thông tin và ý kiến không được ràng buộc bởi bất cứ điều gì. Theo Meiklejohn, nền dân chủ sẽ không đúng với lý tưởng chủ đạo của nó nếu những người cầm quyền có thể thao túng cử tri bằng cách kìm hãm thông tin và đàn áp các ý kiến chỉ trích. Meiklejohn thừa nhận rằng mong muốn thao túng ý kiến có thể xuất phát từ động cơ hướng đến các lợi ích cho xã hội. Tuy nhiên, ông lập luận rằng bằng cách lựa chọn phương thức thao túng, tự bản thân nó đã trái lại với lý tưởng dân chủ.[12]

Eric Barendt cho rằng biện luận về quyền tự do ngôn luận dựa trên nền tảng dân chủ này "có lẽ là lý thuyết về tự do ngôn luận hấp dẫn nhất và hiển nhiên là hợp thời nhất trong các nền dân chủ Tây phương cận đại".[13] Thomas I. Emerson đã củng cố thêm cho biện luận này khi ông lập luận rằng tự do ngôn luận giúp mang đến cân bằng giữa sự ổn định và sự thay đổi xã hội. Tự do ngôn luận có tác dụng như một cái "van an toàn" để xả hơi hạ nhiệt khi mọi người bắt đầu có xu hướng chuyển biến thành một cuộc cách mạng. Ông lập luận rằng "Nguyên tắc thảo luận mở là một phương pháp hướng đến một cộng đồng với khả năng thích nghi tốt hơn và đồng thời ổn định hơn, giúp duy trì sự cân bằng mong manh giữa vấn đề chia rẽ tất yếu và sự đồng thuận thiết yếu." Emerson tiếp tục kiên định rằng "Các phe đối lập có vai trò như một chức năng quan trọng của xã hội để bù đắp hoặc cải thiện tình trạng suy đồi không tránh khỏi của chế độ quan liêu."[14]

Nghiên cứu được thực hiện bởi dự án Chỉ số Quản trị Toàn cầu tại Ngân hàng Thế giới, cho thấy tự do ngôn luận, và quy trình trách nhiệm giải trình, có tác động đáng kể đến chất lượng quản trị của một quốc gia. "Tiếng nói và Trách nhiệm Giải trình" của một quốc gia, được định nghĩa là "mức độ công dân của một quốc gia có thể tham gia lựa chọn chính phủ của họ, cũng như tự do ngôn luận, tự do hội họptự do báo chí" là một trong sáu khía cạnh quản trị mà dự án Chỉ số Quản trị Toàn cầu dùng để đo lường cho hơn 200 quốc gia.[15] Trong bối cảnh này, điều quan trọng là các cơ quan phát triển phải tạo cơ sở hỗ trợ hiệu quả cho báo chí tự do ở các nước đang phát triển.[16]

Richard Moon đưa ra một lập luận rằng giá trị của tự do ngôn luận và tự do biểu đạt nằm ở các hoạt động tương tác xã hội. Moon viết rằng "bằng cách giao tiếp, một cá nhân sẽ xây dựng các mối quan hệ và liên kết với những người khác, như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, hội thánh và những người đồng hương. Bằng cách tham gia thảo luận với những người khác, một cá nhân sẽ góp phần phát triển kiến thức cũng như hướng về cộng đồng."[17]

Các hạn chếSửa đổi

 
Các thành viên của nhà thờ Westboro Baptist Church (pictured in 2006) đã bị cấm vào Canadaphát ngôn thù ghét.[18]
 
Các quốc gia có luật chống lại việc không thừa nhận Holocaus

Các hệ thống pháp luật đôi khi đặt ra những hạn chế nhất định về tự do ngôn luận, đặc biệt khi tự do ngôn luận xung đột với các quyền hạn và quyền tự do khác, chẳng hạn như trong các trường hợp phỉ báng, vu khống, khiêu dâm, tục tĩu, ngôn từ gây hấnsở hữu trí tuệ. Ở Châu Âu, báng bổ bị giới hạn khỏi tự do ngôn luận.[19][20][21][22] Các biện minh cho hạn chế về tự do ngôn luận thường tham chiếu đến "nguyên tắc gây hại" hoặc "nguyên tắc xúc phạm". Các hạn chế đối với quyền tự do ngôn luận có thể xảy ra thông qua hình thức xử phạt pháp lý hoặc bị xã hội lên án hoặc cả hai.[23] Một số tổ chức công cộng nhất định cũng có thể ban hành các chính sách hạn chế quyền tự do ngôn luận, ví dụ như các quy định về ngôn từ tại các trường công lập.

Trong tác phẩm Bàn về Tự do (1859), John Stuart Mill lập luận rằng "... phải tồn tại một sự tự do đầy đủ nhất về quyền bày tỏ và thảo luận, có thể được xem như một nguyên tắc đạo lý, tuy nhiên bất kỳ luận thuyết nào, nếu vô đạo đức, có thể được xem xét lại."[23] Mill lập luận rằng sự tự do biểu đạt đầy đủ nhất là cần thiết để thúc đẩy lập luận đến điểm hợp lý tận cùng của chúng, chứ không chỉ là giới hạn gượng ép của xã hội. Tuy nhiên, Mill cũng đưa ra cái được gọi là nguyên tắc gây hại, khi đặt ra hạn chế cho quyền tự do biểu đạt: "mục đích duy nhất mà quyền lực có thể được thực thi một cách chính đáng đối với bất kỳ thành viên nào của cộng đồng văn minh, ngược lại ý chí của anh ta, là nhằm ngăn chặn tổn hại cho người khác ."[23]

Năm 1985, Joel Feinberg đã giới thiệu cái được gọi là "nguyên tắc xúc phạm", và cho rằng nguyên tắc gây hại của Mill không đủ để bảo vệ chống lại những hành vi sai trái của người khác. Feinberg đã viết: “Các lý do để đề xuất một hình thức ngăn cấm tội ác luôn luôn là chính đáng bởi vì nó có thể là một cách hữu hiệu để ngăn chặn hành vi phạm tội nghiêm trọng (trái với chấn thương hoặc tổn hại) đến người khác không phải là chủ thể, và vì thế nó có thể là một điều cần thiết."[24] Do đó Feinberg lập luận rằng nguyên tắc gây hại đã cho phép tự do quá đáng và một số hình thức biểu đạt có thể bị luật pháp nghiêm cấm bởi vì chúng cực kỳ xúc phạm. Tuy nhiên, do xúc phạm một người nào đó ít nghiêm trọng hơn là làm tổn hại ai đó nên các hình phạt áp đặt cho việc gây tổn hại phải cao hơn.[24] In contrast, Mill does not support legal penalties unless they are based on the harm principle.[23] Vì mức độ mà một người bị xúc phạm có thể thay đổi, hoặc có thể là kết quả của định kiến không chính đáng, Feinberg cho rằng cần phải tính đến một số yếu tố khi áp dụng nguyên tắc xúc phạm, bao gồm: phạm vi, thời lượng và giá trị xã hội của ngôn từ, sự dễ dàng trong việc tránh được việc đó, động cơ của người nói, số người bị xúc phạm, cường độ của hành vi xúc phạm và lợi ích chung của cả cộng đồng.[23]

Cũng tương tự như Mill, Jasper Doomen đã lập luận rằng tổn hại không nên được xác định từ quan điểm của mỗi cá nhân công dân, không chỉ giới hạn trong các tổn hại về thể chất vì tổn hại phi vật lý cũng có thể xảy ra; Quan điểm phân biệt của Feinberg giữa tổn hại và hành vi xúc phạm thường bị chỉ trích là quá nhỏ nhặt.[25]

Năm 1999, Bernard Harcourt viết về sự sụp đổ của nguyên tắc gây hại: “Ngày nay các cuộc tranh luận đặc trưng với các đối số của lập luận sử dụng nguyên tắc gây hại cạnh tranh mà không có cách nào giải quyết. Không còn một lập luận trong cấu trúc tranh luận để giải quyết các yêu cầu cạnh tranh về tác hại. Nguyên tắc gây hại ban đầu không bao giờ được sử dụng để xác định tầm quan trọng tương đối của tác hại."[26]

Sự diễn giải cho cả nguyên tắc gây hại và nguyên tắc xúc phạm đối với giới hạn của tự do ngôn luận dường như là tương đối về mặc văn hóa và chính trị. Ví dụ, ở Nga, nguyên tắc gây hại và xúc phạm được sử dụng để biện minh cho Luật tuyên truyền LGBT nhằm hạn chết ngôn luận (và hành động) liên quan đến vấn đề LGBT. Một số quốc gia châu Âu luôn tự hào về tự do ngôn luận tuy nhiên, việc từ chối Holocaust bị coi là vi phạm pháp luật. Những quốc gia này bao gồm: Áo, Bỉ, Cộng hòa Séc, Pháp, Đức, Hungary, Israel, Liechtenstein, Litva, Luxembourg, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Slovakia,Thụy Sĩ và Romania.[27] Armenian Genocide denial is also illegal in some countries.

Ở Hoa Kỳ, ý kiến mang tính bước ngoạt về phát ngôn chính trị là của Brandenburg v. Ohio (1969),[28] bác bỏWhitney v. California.[29]Trong Brandenburg, Tòa Án tối cao Hoa Kì đã đề cập đến quyền được nói công khai về hành động bạo lực và cách mạng theo nghĩa rộng:

Các quyết định [của chúng tôi] áp dụng nguyên tắc rằng các đảm bảo hiến pháp đối với tự do ngôn luận và tự do báo chí không cho phép nhà nước cấm hoặc không ủng hộ việc vận động sử dụng vũ lực hoặc các hành vi phạm pháp trừ khi những vận động này hướng tới việc kích động hoặc tạo ra các hành động vô pháp và có khả năng kích động hoặc gây ra các hành động như vậy.[30]

Ý kiến ở Brandenburg đã loại bỏ thử nghiệm trước đây về "mối nguy hiểm rõ ràng và hiện tại" và đưa ra quyền tự do bảo vệ phát ngôn (chính trị) tại Hoa Kỳ gần như tuyệt đối.[31][32] Phát ngôn thù hận cũng được bảo vệ bởi Tu chính án thứ nhất tại Hoa Kì, như đã quyết định trong vụ R.A.V. v. City of St. Paul, (1992), trong đó Tòa án Tối cao phán quyết rằng ngôn từ kích động thù địch được cho phép, ngoại trừ trong trường hợp bạo lực sắp xảy ra.[33] Xem Tu chính án Thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ để biết thêm thông tin chi tiết về quyết định này và bối cảnh lịch sử của nó.

Internet và xã hội thông tinSửa đổi

 
Cờ tự do ngôn luận được tạo ra trong cuộc tranh cãi Mã khóa AACS là "biểu tượng thể hiện sự hỗ trợ cho các quyền tự do cá nhân."[34]

Jo Glanville, biên tập viên của Bảng xếp hạng sự kiểm duyệt, cho rằng "Internet là một cuộc cách mạng cho kiểm duyệt cũng giống như cho tự do ngôn luận".[35] Tiêu chuẩn của các khu vực, quốc gia và quốc tế về tự do ngôn luận như một dạng của tự do biểu đạt được á dụng cho bất cứ phương tiện biểu đạt nào, bao gồm cả Internet.[9] Luật Communications Decency Act (CDA) làm năm 1996 là nỗ lực đáng ghi nhận của Hạ Viện Hoa Kỳ trong việc kiểm soát các tài liệu khiêu dâm trên Internet. Năm 1997, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã bãi bỏ một phần của luật này trong một vụ án có tính bước ngoặt về luật an ninh mạng giữa Reno và ACLU. Thẩm phán Stewart R. Dalzell, một trong 3 thẩm phán liên bang, người đã tuyên bố một phần của luật CDA là vi viến vào tháng 6 năm 1996. Ý kiến của ông như sau:[36]

Internet đã vượt xa hơn là một phương tiện để thúc đẩy tự do ngôn luận so với in ấn, hay thư từ. Bởi vì tầm quan trọng của Internet, luật CDA đã hạn chế khả năng lên tiếng của người trưởng thành trên phương tiện truyền thông này. Điều này dẫn đến sự bất dung được luật hóa. Một vài cuộc trao đổi trên internet chắc chắn kiểm tra giới hạn của các diễn ngôn thông thường. Các ngôn luận trên internet có thể không bị lọc, không bị đánh bóng, trái với tập tục, thậm chí gợi dục và thô tục- nói ngắn ngọn là không đúng đắng trong nhiều cộng đồng. Nhưng chúng ta nên mong đợi những ngôn luận đó xuất hiện trên truyền thông nơi mà các công dân từ mọi thành phần có thẻ có tiếng nói. Chúng ta nên bảo vệ sự hấp dẫn của truyền thông cũng như sự ẩn danh thứ mà phương tiện truyền thông có thể trao cho những người thường dân […] Những lập luận của tôi không loại bỏ những phương tiện bảo vệ trẻ em của chính phủ từ những nguy hiểm trên Internet. Chính phủ có thể tiếp tục bảo vệ trẻ em từ các ấn phẩm khiêu dâm trên Internet thông qua các sự nghiêm khắc của các đạo luật vốn đang tồn tại với mục đích ngăn chặn sự tục tữu và các sản phẩm khiêu dâm trẻ em. […] Như chúng ta đã biết ở buổi xét xử, tồn tại một nhu cầu thiết thực trong giáo dục công chúng về lợi ích cũng như tác ại của phương tiện truyền thông mới, và chính phủ phải làm nhiệm vụ này. Theo quan điểm của tôi, các hành động của chúng tôi hôm nay chỉ có nghĩa là sự kiểm duyệt của chính phủ với các nội dung trên Internet chỉ nên giới hạn trong các ngôn luận không được bảo vệ. […] Sự vắng mặt các quy định của chính quyền trong việc điều chỉnh các nội dung trên Internet tạo ra một kiểu hỗn loạn không thể nghi ngờ, nhưng như một trong các chuyên gia của nguyên đơn đã phản bác tại tòa: “Những thành công đã có chính là sự hỗn loạn mà Internet có. Sức mạnh của Internet là sự hỗn loạn.” Chỉ có sức mạng của Internet là sự hỗn loạn, vì vây sức mạng của tự do phụ thuộc vào sự hỗn loạn và các hợp âm hỗn loạn của một ngôn luận không bị kiểm duyệt được Tu chính án thứ Nhất bảo vệ.[36]

Tuyên bố về các nguyên tắc của Hội nghị thế giới về xã hội thông tin World Summit on the Information Society năm 2013 đã tạo ra một tài liệu tham khảo cụ thể cho tầm quan trọng của quyền tự do biểu đạt trong xã hội thông tin như sau:

Chúng tôi tái khẳng định rằng, một nền tảng quan trọng của xã hội thông tin như đã vạch ra trong Điều 19 của Tuyên ngôn Nhân quyền phổ quát, rằng mọi người đều có quyền tự do ý kiến và biểu đạt; và quyền này bao gồm quyền được bảo lưu ý kiến mà không bị can thiệp, quyền tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin, ý tưởng thông qua bất cứu phương tiện nào không phân biệt ranh giới quốc gia. Truyền thông là quá trình xã hội cơ bản, là nhu cầu cơ bản của con người và là nền tảng của tất cả các tổ chức xã hội. Nó là trung tâm của xã hội thông tin. Tất cả mọi người ở mọi nơi nên có cơ hội được tham gia và không ai nên bị loại trừ khỏi lợi ích mà Xã hội Thông tin có thể đem lại.[37]

Theo Bernt Hugenholtz và Lucie Guibault, phạm vi công cộng đang chịu áp lực từ "hàng hóa thông tin" vì thông tin có ít hoặc không có giá trị kinh tế trước đây đã có được giá trị kinh tế độc lập trong thời đại thông tin. Điều này bao gồm dữ liệu thực tế, dữ liệu cá nhân, thông tin di truyềný tưởng thuần túy. Việc hàng hóa thông tin đang diễn ra thông qua luật sở hữu trí tuệ, luật hợp đồng, cũng như luật phát thanh và viễn thông.[38]

Internet và tự do ngôn luận đang là tâm điểm khá thường xuyên gần đây. Việc Facebook và Youtube loại bỏ tài khoản của Alex Jones đã dấy lên các câu hỏi về quyền tự do ngôn luận và làm thế nào những người tự do có thể sử dụng chúng trên Internet.[39][40]

Tự do thông tinSửa đổi

Bài chi tiết: Freedom of information

Tự do thông tin là phần mở rộng của tự do ngôn luận nơi mà phương tiện biểu đạt là Internet. Tự do thông tin có thể được đề cập đến quyền riêng tư trên Internet và các công nghệ thông tin. Cùng với quyền tự do biểu đạt, quyền tiêng tư được công nhận như một quyền con người và tự do thông tin được hiểu như một sự mở rộng của quyền này.[41] Tự do thông tin có thể liên quan đến sự kiểm duyệt thông tin trong một bối cảnh công nghệ thông tin cụ thể, ví dụ như khả năng truy cập vào các nội dung của một trang mạng mà không bị kiểm duyệt hoặc hạn chế.[42]

Tự do thông tin cũng gồm cả việc được bảo vệ rõ ràng bởi các luật như Tự do thông tin và bảo vệ quyền riêng tư của Ontario ở Canada.[43]

Kiểm duyệt IntetnetSửa đổi

Khái niệm tự do thông tin đã nổi lên để đáp lại các kiểm duyệt của nhà nước, điều khiển và theo dõi trên internet. Kiểm duyệt internet bao gồm sự kiểm soát và đàn áp các ấn phẩm hoặc việc truy cập thông tin trên Internet.[44] Hiệp hội tự do Internet toàn cầu Global Internet Freedom Consortium yêu cầu loại bỏ việc ngăn chặn các dòng chảy thông tin ở những “xã hội đóng” mà họ liệt kê.[45] Theo Tổ chức các quốc gia không biên giới “danh sách kẻ thù của Internet” liệt kê các quốc gia sau trong việc tham gia vào việc kiểm duyệt Internet một cách phổ biến: Trung Quốc, Cuba, Iran, Myanmar, Bắc Hàn, Saudi Arabia, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Uzbekistan và Việt Nam.[46]

Một ví dụ được công bố rộng rãi về kiểm duyệt internet là "Tường lửa vĩ đại của Trung Quốc" (liên quan đến cả vai trò của nó như một tường lửa mạngVạn Lý Trường Thành cổ đại của Trung Quốc). Hệ thống chặn nội dung bằng cách ngăn chặn các địa chỉ IP được chuyển qua và bao gồm các máy chủ proxy và tường lửa tiêu chuẩn tại các cổng Internet. Hệ thống cũng chọn lọc tham gia đầu độc DNS khi các trang web cụ thể được yêu cầu. Chính phủ dường như không kiểm tra một cách có hệ thống nội dung Internet, vì điều này dường như không thực tế về mặt kỹ thuật.[47] Kiểm duyệt Internet tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thực hiện theo nhiều luật và quy định hành chính khác nhau, bao gồm hơn sáu mươi quy định hướng vào Internet. Các hệ thống kiểm duyệt được triển khai mạnh mẽ bởi các chi nhánh của các ISPs, công ty kinh doanh và tổ chức thuộc sở hữu nhà nước.[48][49]

Lịch sử bất đồng chính kiến và sự thậtSửa đổi

Xem thêm thông tin: Dissent
 
Ảnh bìa cuốnIndex Librorum Prohibitorum, hay là Danh sách các sách bị cấm, (Venice, 1564)

Trước khi phát minh ra báo in, một tác phẩm bằng văn bản được tạo ra chỉ có thể được nhân lên một cách vật lý thông qua việc sao chép thủ công vốn rất tốn công và dễ bị lỗi. Không có hệ thống kiểm duyệt và kiểm soát công phu nào tồn tại, những người chép văn bản tồn tại cho đến thế kỷ 14 bị giới hạn trong các tổ chức tôn giáo, và các tác phẩm của họ hiếm khi gây ra tranh cãi rộng hơn. .Đáp lại báo in và những điều dị giáo mà nó cho phép lan truyền, Giáo hội Công giáo La Mã đã chuyển sang áp đặt kiểm duyệt.[50] In ấn cho phép nhiều bản sao chính xác của một tác phẩm, dẫn đến sự lưu thông nhanh chóng và rộng rãi hơn các ý tưởng và thông tin (xem văn hóa in).[51] Nguồn gốc của luật bản quyền ở hầu hết các nước châu Âu nằm trong nỗ lực của Giáo hội Công giáo La Mã và các chính phủ để điều chỉnh và kiểm soát đầu ra của máy in.[51]

[File:Henric van Cuyck Panegyricae orationes septem 1596.jpg|thumb|upright=0.7|Trong Panegyricae orationes septem (1596), Henric van Cuyck, a Giám mục người Hà Lan, bảo vệ cho việc cần thiết của kiểm duyệt và lập luận rằng các tờ báo in của ông Johannes Gutenberg đã dẫn đến một thế giới bị lây nhiễm bởi "lời nói dối đồi trụy", vì vậy Cuyck đã loại bỏ TalmudQu’ran, cùng các tác phẩm củaMartin Luther, Jean CalvinErasmus of Rotterdam.[52]]]

Năm 1501, Giáo hoàng Alexander VI đã ban hành Dự luật chống lại việc in sách không có giấy phép và năm 1559, Expurgatorius Index, hay Danh sách các sách bị cấm, đã được ban hành lần đầu tiên. .[50] Danh sách các sách bị cấm là ví dụ nổi tiếng và lâu dài nhất về các danh mục "sách xấu" do Giáo hội Công giáo La Mã ban hành, được cho là có thẩm quyền đối với những suy nghĩ và ý kiến riêng tư, và đàn áp những quan điểm đi ngược lại các học thuyết của nó. Index Expurgatorius được quản lý bởi Toà án dị giáo La Mã, nhưng được thi hành bởi chính quyền địa phương, và đã trải qua 300 phiên bản. Trong đó, nó đã cấm hoặc kiểm duyệt các cuốn sách được viết bởi René Descartes, Giordano Bruno, Galileo Galilei, David Hume, John Locke,Daniel Defoe, Jean-Jacques RousseauVoltaire.[53] Trong khi các chính phủ và nhà thờ khuyến khích in ấn bằng nhiều cách vì nó cho phép phổ biến Kinh Thánh và thông tin chính phủ, các tác phẩm bất đồng chính kiến và phê bình cũng có thể lưu hành nhanh chóng. Do đó, các chính phủ đã thiết lập quyền kiểm soát đối với các máy in trên khắp châu Âu, yêu cầu họ phải có giấy phép chính thức để giao dịch và sản xuất sách.[51]


 
Trang đầu của tác phẩm Areopagitica của John Milton viết năm 1644, trong đó ông đã lập luận mạnh mẽ chống lại Lệnh cấp phép năm 1643

Quan niệm cho rằng sự thể hiện quan điểm bất đồng chính kiến hoặc lật đổ cần được dung thứ, không bị kiểm duyệt hoặc trừng phạt bởi pháp luật, được phát triển cùng với sự phát triển của báo inbáo chí. Areopagitica, được xuất bản năm 1644, là phản ứng của John Milton trước đề xuất trở lại của chính phủ Anh về việc cấp phép cho các nhà in, do đó bao gồm cả các nhà xuất bản.[54] Chính quyền nhà thờ trước đây đã đảm bảo rằng bài tiểu luận về quyền ly hôn essay on the right to divorcecủa Milton bị từ chối giấy phép xuất bản. Trong Areopagitica, được xuất bản mà không có giấy phép,[55] Milton đã đưa ra một lời biện hộ không khoan nhượng cho tự do ngôn luận và lỗi lầm:,[54] stating:

Hãy cho tôi sự tự do để biết, để nói ra, và tranh luận một cách tự do theo lương tâm, trên hết là tự do.[54]

 
Phiên bản Golden Legendnăm 1688 của Jacobus de Voragine (1260) bị kiểm duyệt theo Index Librorum Expurgatorum năm 1707, trong đó liệt kê các đoạn sách cụ thể đã được lưu hành cần kiểm duyệt[56][57]

Sự bảo vệ tự do ngôn luận của Milton được đặt nền tảng trong một thế giới quan Tin lành và ông nghĩ rằng người dân Anh có sứ mệnh tìm ra sự thật của Cải cách, điều này sẽ dẫn đến sự giác ngộ của tất cả mọi người. Nhưng Milton cũng nói rõ các vấn đề chính của các cuộc thảo luận trong tương lai về tự do ngôn luận. Bằng cách xác định phạm vi tự do ngôn luận và phát ngôn "có hại", Milton lập luận chống lại nguyên tắc kiểm duyệt trước và ủng hộ sự khoan dung đối với một loạt các quan điểm.[54] Anh đã cho phép Tự do báo chí quay trở lại vào năm 1695 khi Lệnh cấp phép năm 1643 hết hiệu lực sau khi Dự luật Nhân quyền 1689 được giới thiệu ngay sau Cách mạng Vinh quang.[58][59] Sự xuất hiện của các ấn phẩm như Tatler (1709) và Spectator (1711) được công nhận trong việc tạo ra một "lĩnh vực công tư sản" ở Anh, nơi cho phép trao đổi ý tưởng và thông tin tự do.

Khi "mối đe dọa" của việc in ấn lan rộng, nhiều chính phủ đã cố gắng tập trung kiểm soát.[60] Hoàng Gia Pháp đã đàn áp việc in ấn và máy in Etienne Dolet đã bị đốt cháy trên giàn hỏa thiệu vào năm 1546. Năm 1557, Vương quốc Anh nghĩ rằng sẽ ngăn chặn dòng chảy của những cuốn sách dị giáo và lạc giáo bằng cách ban đặc quyền cho Công ty xuất bản Stationers' Company. Quyền in ấn được giới hạn trong thành viên của hiệp hội,và 30 năm sau công ty in Star Chamber đã được chỉ định để cắt giảm "sự lạm dụng to lớn" của "những người thợ nhuộm, những kẻ gây rối hoặc những người in và bán sách lậu." Quyền in được giới hạn ở 2 trường đại học với 21 máy in tồn tại ở thành phố London city of London, nơi từng có 53 máy in báo printing presses. Khi Hoàng Gia Anh nắm quyền kiểm soát việc thành lập nhà in, 1637 máy in được chuyển sang Hà Lan. Cuộc đối đầu với chính quyền đã khiến các nhà in trở nên cực đoan và nổi loạn, với 800 tác giả, nhà in và đại lý sách bị giam giữ ở Bastille ở Paris trước khi nó bị thổi bay vào năm 1789.[60]

Hậu duệ của các nhà tư tưởng Anh đã đi đầu trong các cuộc thảo luận ban đầu về quyền tự do ngôn luận, trong đó có John Milton (1608 -1674) và John Locke (1632 -1704). Locke thiết lập [[cá nhân] là đơn vị giá trị và là người mang quyền sống, quyền tự do, tài sảnmưu cầu hạnh phúc. Tuy nhiên, các ý tưởng của Locke phát triển chủ yếu xoay quanh khái niệm về quyền tìm kiếm sự cứu rỗi cho linh hồn của một người, và do đó chủ yếu liên quan đến các vấn đề thần học. Locke không ủng hộ một sự khoan dung phổ quát của các dân tộc cũng như tự do ngôn luận; theo ý tưởng của ông, một số nhóm, chẳng hạn như người vô thần, không nên được cho phép. [61]

[[File: Tượng George Orwell - BBC London (38562767202).jpg|thumb|left|upright=0.7|George Orwell statue tại trụ sở của BBC. Một người bảo vệ tự do ngôn luận trong xã hội mở, bức tường phía sau bức tượng được khắc dòng chữ "Nếu tự do là bất cứ điều gì, có nghĩa là quyền được nói với mọi người điều mà họ không muốn nghe”, lời đề tự của [[George Orwell] trong cuốn sách Trại súc vật viết năm (1945).[62]]]

Vào nửa sau của thế kỉ 17 trên lục địa châu Âu, các nhà triết học như Baruch SpinozaPierre Bayle đã phát triển các ý tưởng bao gồm một khía cạnh tự do ngôn luận và khoan dung hơn so với các nhà triết học Anh đầu tiên. [61]Vào thế kỷ 18, ý tưởng về tự do ngôn luận đã được thảo luận bởi các nhà tư tưởng trên khắp thế giới phương Tây, đặc biệt là các triết gia Pháp như Denis Diderot, Baron d'Holbach Claude Adrien Helvétius. [63] Ý tưởng bắt đầu được kết hợp trong lý thuyết chính trị cả về lý thuyết cũng như thực tiễn; sắc lệnh nhà nước đầu tiên trong lịch sử tuyên bố tự do ngôn luận hoàn toàn là bản phát hành ngày 4 tháng 12 năm 1770 tại Đan Mạch-Na Uy trong thời kỳ nhiếp chính của Johann Friedrich Struensee. [64] Tuy nhiên, bản thân Struensee đã áp đặt một số hạn chế nhỏ cho sắc lệnh này vào ngày 7 tháng 10 năm 1771 và nó thậm chí còn bị hạn chế hơn sau khi Struensee sụp đổ với luật được đưa ra vào năm 1773, mặc dù việc kiểm duyệt không được giới thiệu lại. [65]

John Stuart Mill (1806 -1873) lập luận rằng nếu con người không có tự do thì không thể có tiến bộ về khoa học, luật pháp hay chính trị, theo đó Mill yêu cầu việc tự do thảo luận và nêu ý kiến. Tác phẩm Bàn vệ tự do của Mill, xuất bản năm 1859 đã trở thành một sự phòng thủ kinh điển cho quyền tự do ngôn luận. [54] Mill lập luận rằng sự thật xua đuổi sự giả dối, do đó không nên sợ sự thể hiện ý tưởng tự do, dù nó đúng hay sai. Sự thật không ổn định hoặc cố định, mà phát triển theo thời gian. Mill lập luận rằng phần lớn những gì chúng ta từng coi là đúng đã trở thành sai. Do đó, các quan điểm không nên bị cấm cho dù nó có sai lầm hiển nhiên. Mill cũng lập luận rằng thảo luận tự do là cần thiết để ngăn chặn "sự chậm trễ sâu sắc của một ý kiến dứt khoát ". Thảo luận sẽ thúc đẩy sự tiến lên của sự thật và bằng cách xem xét các quan điểm sai lầm, cơ sở của các quan điểm thực sự có thể được xác nhận lại. [66] Hơn nữa, Mill lập luận rằng một ý kiến chỉ mang giá trị nội tại cho chủ sở hữu của ý kiến đó, do đó, buộc phải im lặng việc biểu hiện ý kiến đó là một sự bất công đối với một quyền cơ bản của con người. Đối với Mill, trường hợp duy nhất trong đó lời nói có thể bị triệt tiêu một cách chính đáng là để ngăn chặn tác hại từ mối đe dọa rõ ràng và trực tiếp. Không có ý nghĩa kinh tế hay đạo đức, cũng như việc người nói không sở hữu tài sản có thể biện minh cho việc đàn áp ngôn luận. .[67]

Trong tiểu sử Voltaire của Evelyn Beatrice Hall, bà đã đặt ra câu sau đây để minh họa cho niềm tin của Voltaire: "Tôi không đồng ý với những gì bạn nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến cùng điều bạn nói cho dù phải chết.” Câu nói này thường xuyên được trích dẫn để mô tả nguyên tắc của tự do ngôn luận. [68] Hall's quote is frequently cited to describe the principle of freedom of speech.[68] Trong Thế kỷ 20, Noam Chomsky tuyên bố rằng: "Nếu bạn tin vào tự do ngôn luận, bạn tin vào tự do ngôn luận cho những quan điểm mà bạn không thích. Những kẻ độc tài như StalinHitler, chỉ ủng hộ tự do ngôn luận cho những quan điểm mà họ ưu thích. Nếu bạn ủng hộ tự do ngôn luận, điều đó có nghĩa là bạn ủng hộ tự do ngôn luận cho những quan điểm mà bạn coi thường. "[69] Lee Bollinger lập luận rằng "nguyên tắc tự do ngôn luận liên quan đến một hành động đặc biệt được khắc sâu trong lĩnh vực tương tác xã hội để tự kiềm chế phi thường, mục đích của nó là phát triển và thể hiện năng lực xã hội nhằm kiểm soát cảm xúc được gợi lên bởi một loạt các cuộc gặp gỡ xã hội." Bollinger lập luận rằng sự khoan dung là một giá trị mong muốn, không hiển nhiên. Tuy nhiên, các nhà phê bình cho rằng xã hội nên được quan tâm bởi những người trực tiếp phủ nhận hoặc ủng hộ, ví dụ, tội diệt chủng (xem các hạn chế ở trên). [70]

Cuốn tiểu thuyết Người tình của Lady Chatterley viết năm 1928 của D. H. Lawrence đã bị cấm vì những điều được cho là tục tĩu ở một số quốc gia, bao gồm Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Úc và Canada. Vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, các phán quyết của tòa án mang tính bước ngoặt đã chứng kiến lệnh cấm đối với những điều tục tĩu bị lật đổ. Dominic Sandbrook của tờ The Telegraph ở Anh đã viết: "Bây giờ sự tục tĩu công khai đã trở nên phổ biến, thật khó để lấy lại bầu không khí của một xã hội phù hợp để cấm những cuốn sách như Người tình của Lady Chatterley vì nó gây “đồi trụy và suy đồi” đối với độc giả của nó. " [71] Fred Kaplan của tờ New York Times tuyên bố việc đảo ngược các luật tục tĩu" đặt ra một vụ nổ của tự do ngôn luận "ở Mỹ. [72]

Quyền tự do ngôn luận đã được giải thích bao gồm quyền chụp và xuất bản ảnh của người lạ ở khu vực công cộng mà cho dù họ không biết hoặc không cho phép. [73][74]. Điều này không áp dụng phổ biến trên toàn thế giới.

Xem thêmSửa đổi

NguồnSửa đổi

  1. ^ Universal Declaration of Human Rights
  2. ^ “Article 19”. International Covenant on Civil and Political Rights (Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights; adopted and opened for signature, ratification and accession by UN General Assembly resolution 2200A (XXI) of 16 December 1966, entry into force 23 March 1976). 23 tháng 3 năm 1976. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  3. ^ a ă van Mill, David (1 tháng 1 năm 2016). Zalta, Edward N., biên tập. The Stanford Encyclopedia of Philosophy . 
  4. ^ a ă â Smith, David (5 tháng 2 năm 2006). “Timeline: a history of free speech”. The Guardian (London). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2010. 
  5. ^ Raaflaub, Kurt; Ober, Josiah; Wallace, Robert (2007). Origins of democracy in ancient Greece. University of California Press. tr. 65. ISBN 0-520-24562-8. 
  6. ^ M. P. Charlesworth (tháng 3 năm 1943). “Freedom of Speech in Republican Rome”. The Classical Review (The Classical Association) 57 (1): 49. doi:10.1017/s0009840x00311283. 
  7. ^ Arthur W. Diamond Law Library at Columbia Law School (26 tháng 3 năm 2008). “Declaration of the Rights of Man and of the Citizen”. Hrcr.org (www.hrcr.org). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  8. ^ United Nations (10 tháng 9 năm 1948). “The Universal Declaration of Human Rights”. UN.org (www.un.org). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  9. ^ a ă â b c Andrew Puddephatt, Freedom of Expression, The essentials of Human Rights, Hodder Arnold, 2005, p. 128
  10. ^ a ă â Brett, Sebastian (1999). Limits to tolerance: freedom of expression and the public debate in Chile. Human Rights Watch. tr. xxv. ISBN 978-1-56432-192-3. 
  11. ^ Sanders, Karen (2003). Ethics & Journalism. Sage. tr. 68. ISBN 978-0-7619-6967-9. 
  12. ^ Marlin, Randal (2002). Propaganda and the Ethics of Persuasion. Broadview Press. tr. 226–27. ISBN 978-1551113760. 
  13. ^ Marlin, Randal (2002). Propaganda and the Ethics of Persuasion. Broadview Press. tr. 226. ISBN 978-1551113760. 
  14. ^ Marlin, Randal (2002). Propaganda and the Ethics of Persuasion. Broadview Press. tr. 228–29. ISBN 978-1551113760. 
  15. ^ “A Decade of Measuring the Quality of Governance” (PDF). World Bank. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2008. 
  16. ^ Matschke, Alexander (25 tháng 12 năm 2014). “Freedom of expression promotes democracy”. D+C Development and Cooperation. 
  17. ^ Marlin, Randal (2002). Propaganda and the Ethics of Persuasion. Broadview Press. tr. 229. ISBN 978-1551113760. 
  18. ^ Church members enter Canada, aiming to picket bus victim's funeral, CBC News, 8 August 2008.
  19. ^ Brennan, David (26 tháng 10 năm 2018). “Calling Prophet Muhammad a Pedophile Not Protected by Free Speech, Court Rules”. Newsweek. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2018. The European Court of Human Rights (ECHR) ruled that calling the Prophet Muhammad a pedophile was not protected by freedom of speech laws. 
  20. ^ Chase Winter (26 tháng 10 năm 2018). “Calling Prophet Muhammad a pedophile does not fall within freedom of speech: European court”. Deutsche Welle. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2018. An Austrian woman's conviction for calling the Prophet Muhammad a pedophile did not violate her freedom of speech, the European Court of Human Rights ruled Thursday. 
  21. ^ Lucia I. Suarez Sang (26 tháng 10 năm 2018). “Defaming Muhammad does not fall under purview of free speech, European court rules”. Fox News. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2018. The freedom of speech does not extend to include defaming the prophet of Islam, the European Court of Human rights ruled Thursday. 
  22. ^ Bojan Pancevski (26 tháng 10 năm 2018). “Europe Court Upholds Ruling Against Woman Who Insulted Islam”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2018. Europe’s highest human rights court ruled on Friday that disparagement of religious doctrines such as insulting the Prophet Muhammad isn’t protected by freedom of expression and can be prosecuted. 
  23. ^ a ă â b c “Freedom of Speech”. Stanford Encyclopedia of Philosophy. 17 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011. 
  24. ^ a ă Harcourt. “Conclusion”. The Collapse of the Harm Principle. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015. 
  25. ^ Doomen 2014, pp. 111, 112.
  26. ^ Kenneth Einar Himma. “Philosophy of Law”. Internet Encyclopedia of Philosophy. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2014. 
  27. ^ https://www.upi.com/Italian-Parliament-introduces-holocaust-denial-legislation/32801381924558/
  28. ^ Brandenburg v. Ohio, 395 U.S. 444 (1969)
  29. ^ Jasper 1999, tr. 32.
  30. ^ Brandenburg, at 447
  31. ^ Brandenburg, at 450–01
  32. ^ Lewis 2007, tr. 124.
  33. ^ “ABA Division for Public Education: Students: Debating the "Mighty Constitutional Opposites": Hate Speech Debate”. www.americanbar.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2016. 
  34. ^ Marcotte, John (1 tháng 5 năm 2007). “free speech flag”. Badmouth. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017. 
  35. ^ Glanville, Jo (17 tháng 11 năm 2008). “The big business of net censorship”. The Guardian (London). Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2014. 
  36. ^ a ă Rowland, Diane (2005). Information Technology Law. Routledge-Cavendish. tr. 463–65. ISBN 978-1859417560. 
  37. ^ Klang, Mathias; Murray, Andrew (2005). Human Rights in the Digital Age. Routledge. tr. 1. ISBN 978-1-904385-31-8. 
  38. ^ Guibault, Lucy; Hugenholtz, Bernt (2006). The future of the public domain: identifying the commons in information law. Kluwer Law International. tr. 1. ISBN 9789041124357. 
  39. ^ “Should the tech giants be liable for content?”. The Economist (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018. 
  40. ^ “In what looked like a coordinated effort, Facebook, Apple, and YouTube banned Internet conspiracy theorist Alex Jones from their platforms, each citing its hate-speech policy.(The Week)(Brief article)”. National Review, Inc 70: 6. Tháng 9 năm 2018. 
  41. ^ Clarke, Ian; Miller, Scott G.; Hong, Theodore W.; Sandberg, Oskar; Wiley, Brandon (2002). “Protecting Free Expression Online with Freenet” (PDF). Internet Computing (IEEE): 40–49. 
  42. ^ Pauli, Darren (14 tháng 1 năm 2008). “Industry rejects Australian gov't sanitized Internet measure”. The Industry Standard. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  43. ^ Martin, Robert; Adam, G. Stuart (1994). A Sourcebook of Canadian Media Law. McGill-Queen's Press. tr. 232–34. ISBN 0886292387. 
  44. ^ Deibert, Robert; Palfrey, John G; Rohozinski, Rafal; Zittrain, Jonathan (2008). Access denied: the practice and policy of global Internet filtering. MIT Press. ISBN 978-0262541961. 
  45. ^ “Our Mission”. Global Internet Freedom Consortium. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  46. ^ “Internet Enemies” (PDF). Paris: Reporters Without Borders. Tháng 3 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2011. 
  47. ^ Watts, Jonathan (20 tháng 2 năm 2006). “War of the words”. London: The Guardian. 
  48. ^ “II. How Censorship Works in China: A Brief Overview”. Human Rights Watch. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2006. 
  49. ^ Chinese Laws and Regulations Regarding Internet Lưu trữ 20 February 2012 tại Wayback Machine.
  50. ^ a ă de Sola Pool, Ithiel (1983). Technologies of freedom. Harvard University Press. tr. 14. ISBN 978-0-674-87233-2. 
  51. ^ a ă â MacQueen, Hector L; Waelde, Charlotte; Laurie, Graeme T (2007). Contemporary Intellectual Property: Law and Policy. Oxford University Press. tr. 34. ISBN 978-0-19-926339-4. 
  52. ^ “6. Henric van Cuyck, Bishop of Roermond (1546–1609). Panegyricae orationes septem. Louvain: Philippus Zangrius, 1596.”. Ecclesiastical Censorship, "Heresy and Error": The Ecclesiastical Censorship of Books, 1400–1800. Bridwell Library. 17 tháng 12 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  53. ^ Castillo, Anastasia (2010). Banned Books: Censorship in Eighteenth-Century England. GRIN Verlag. tr. 12. ISBN 978-3-640-71688-3. 
  54. ^ a ă â b c Sanders, Karen (2003). Ethics & Journalism. Sage. tr. 66. ISBN 978-0-7619-6967-9. 
  55. ^ “13. John Milton (1608–1674). Areopagitica; A Speech of Mr. John Milton for the Liberty of Unlicenc’d Printing, to the Parlament of England. London: [s.n.], 1644”. Early Censorship in England, "Heresy and Error": The Ecclesiastical Censorship of Books, 1400–1800. Bridwell Library. 17 tháng 12 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  56. ^ “The index of expurgations”. "Heresy and Error": The Ecclesiastical Censorship of Books, 1400–1800. Bridwell Library. 17 tháng 12 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  57. ^ “52. Jacobus de Voragine (c. 1230–1298). Legenda aurea sanctorum. Madrid: Juan Garcia, 1688”. The Index of Expurgations, "Heresy and Error": The Ecclesiastical Censorship of Books, 1400–1800. Bridwell Library. 17 tháng 12 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  58. ^ Rayner, Gordon (7 tháng 10 năm 2011). “Leveson Inquiry: British press freedom is a model for the world, editor tells inquiry”. The Telegraph (Telegraph Media Group Limited). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2018. Mr Rusbridger said: “When people talk about licensing journalists or newspapers the instinct should be to refer them to history. Read about how licensing of the press in Britain was abolished in 1695. 
  59. ^ Nelson, Fraser (24 tháng 11 năm 2012). “David Blunkert warns MPs against regulating the Press”. The Spectator. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2018. Jeremy Paxman famously said he went into journalism after hearing that the relationship between a journalist and a politician was akin to that of a dog and a lamppost. Several MPs now want to replace this with a principle whereby MPs define the parameters under which the press operates – and work together. It is a hideous idea that must be resisted. The last time this happened was under the Licensing Order of 1643, which was allowed to expire in 1695 after the introduction of the 1688 Bill of Rights shortly after the Glorious Revolution. As I wrote in my Daily Telegraph column yesterday, it’s amazing that so many Tory MPs should want to turn the clock back 300 years. 
  60. ^ a ă de Sola Pool, Ithiel (1983). Technologies of freedom. Harvard University Press. tr. 15. ISBN 978-0-674-87233-2. 
  61. ^ a ă Jonathan Israel (2002). Radical Enlightenment. Oxford University Press. tr. 265–67. 
  62. ^ Jennings, Martin (7 tháng 11 năm 2017). “Orwell statue unveiled”. BBC. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2017. 
  63. ^ Jonathan Israel (2006). Enlightenment Contested. Oxford University Press. tr. 155ff, 781ff. 
  64. ^ Jonathan Israel (2010). A Revolution of the Mind. Princeton University Press. tr. 76. 
  65. ^ H. Arnold Barton (1986). Scandinavia in the Revolutionary Era – 1760–1815. University of Minnesota Press. tr. 90–91. 
  66. ^ Sanders, Karen (2003). Ethics & Journalism. Sage. tr. 67. ISBN 978-0-7619-6967-9. 
  67. ^ Warburton, Nigel (2009). Free Speech: A Very Short Introduction. Oxford. tr. 24–29. ISBN 978-0-19-923235-2. 
  68. ^ a ă Boller, Jr., Paul F.; George, John (1989). They Never Said It: A Book of Fake Quotes, Misquotes, and Misleading Attributions. New York: Oxford University Press. tr. 124–26. ISBN 0-19-505541-1. 
  69. ^ Bản mẫu:Cite AV Media
  70. ^ Bollinger, Lee C. (1986). The Tolerant Society: Freedom of Speech and Extremist Speech in America. Oxford University Press. ISBN 0195040007. 
  71. ^ Sandbrook, Dominic (16 tháng 10 năm 2010). “Lady Chatterley trial - 50 years on. The filthy book that set us free and fettered us forever”. The Telegraph. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2018. Though few then could have realised it, a tiny but unmistakeable line runs from the novel Lawrence wrote in the late 1920s to an international pornography industry today worth more than £26 billion a year. Now that public obscenity has become commonplace, it is hard to recapture the atmosphere of a society that saw fit to ban books such as Lady Chatterley’s Lover because it was likely to deprave and corrupt its readers. Although only half a century separates us from Harold Macmillan’s Britain, the world of 1960 can easily seem like ancient history. In a Britain when men still wore heavy grey suits, working women were still relatively rare and the Empire was still, just, a going concern, D H Lawrence’s book was merely one of many banned because of its threat to public morality. 
  72. ^ Kaplan, Fred (20 tháng 7 năm 2009). “The Day Obscenity Became Art”. The New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2018. TODAY is the 50th anniversary of the court ruling that overturned America’s obscenity laws, setting off an explosion of free speech — and also, in retrospect, splashing cold water on the idea, much discussed during Sonia Sotomayor’s Supreme Court confirmation hearings, that judges are umpires rather than agents of social change. 
  73. ^ Kenworthy, Bill (tháng 4 năm 2012). “Photography & First Amendment”. Newseum Institute. 
  74. ^ “Photographers' Rights”. aclu.org. American Civil Liberties Union. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2018. Taking photographs and video of things that are plainly visible in public spaces is a constitutional right—and that includes transportation facilities, the outside of federal buildings, and police and other government officials carrying out their duties. Unfortunately, law enforcement officers have been known to ask people to stop taking photographs of public places. Those who fail to comply have sometimes been harassed, detained, and arrested. Other people have ended up in FBI databases for taking innocuous photographs of public places. 

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Mill 1859 1-5” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Mill 1859 2-19” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Ten Cate 2010” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Wragg 2015” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Đọc thêmSửa đổi

Links ngoàiSửa đổi

Bản mẫu:Prone to spam Bản mẫu:Z148

Bản mẫu:Censorship Bản mẫu:Liberty Bản mẫu:Particular human rights Bản mẫu:Internet censorship Bản mẫu:Media culture Bản mẫu:Sexual revolution