Cricket

thể thao đồng đội với gậy và bóng

Cricket (phiên âm: Crích-kê; cũng gọi: bóng gậy, bản cầu, mộc cầu, tường cầu) là một môn thể thao dùng gậy đánh bóng, phổ biến tại nhiều quốc gia trong cộng đồng Thịnh vượng chung Anh, chơi giữa hai đội, mỗi đội 11 đấu thủ, trên sân cỏ hình tròn. Mục đích của trận đấu là hai đội thay phiên nhau, một đội giao bóng và một đội đánh bóng. Sau khi tất cả các đấu thủ của đội đánh bóng bị loại, đội này sẽ đổi sang ném bóng, và đội bên kia sẽ vào sân để thành đội đánh.

Cricket
CricketSCG1.jpg
Một trận cricket. Dải đất nhạt là chỗ giao và đánh bóng. Trong một trận đấu test, người chơi mặc đồ toàn trắng. Trọng tài mặc quần đen.
Cơ quan quản lý cao nhấtInternational Cricket Council
Thi đấu lần đầuThế kỷ 16; Đông Nam Anh
Đặc điểm
Va chạmKhông
Số thành viên đấu đội11 cầu thủ mỗi bên (cho phép thay người trong một số trường hợp)
Giới tính hỗn hợpCó, nhưng thi đấu riêng
Hình thứcThể thao đồng đội, Bóng và gậy
Trang bịBóng cricket, Gậy cricket, Tam trụ môn (cọc trụ stump, hoành mộc bail), Trang phục cricket
Địa điểmSân cricket
Hiện diện
Quốc gia hoặc vùngThế giới (phổ biến nhất ở Khối Thịnh vượng chung Anh, Lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh và đặc biệt tại Nam Á)
Olympic(duy nhất tại Thế vận hội Mùa hè 1900)

Khi bắt đầu vào trận, một đội cử ra hai người cầm gậy đứng ở hai đầu một dải đất phẳng gọi là "phương cầu trường" (tiếng Anh: pitch). Mỗi đầu đều có tam trụ môn (wicket) gồm ba que gỗ cắm vào đất, có hai thỏi gỗ nằm trên. Đội bên kia cử ra một người giao bóng - "đầu cầu viên" (bowler) và một số người cùng đội đứng chung quanh đợi đánh bóng - "kích cầu viên" (fielder). Người ném bóng cố ném từ một đầu phương cầu trường sang đầu bên kia, mục đích là cho bóng dội lên từ mặt đất và làm vỡ ba cọc trụ môn của tam trụ môn ở đầu bên kia. Người cầm gậy của đội đối phương phải ráng đánh bật bóng ra, bảo vệ tam trụ môn phía bên mình. Trong khi bóng bị đánh xa, hai người cầm gậy phải chạy tới lui giữa hai đầu phương cầu trường. Mỗi đợt chạy tính là một "bào vị" (run). Những đấu thủ đội ném phải bắt được bóng trả về khu phương cầu trường. Hai đấu thủ đội đánh bóng tiếp tục đánh và chạy tới lui như thế và kiếm điểm cho tới khi một trong hai người này bị đội ném loại ra bằng một số thủ thuật.

Luật chơiSửa đổi

Luật chơi môn cricket được Câu lạc bộ Cricket Marylebone (Marylebone Cricket Club - MCC) đặt ra và điều chỉnh.[1] Thêm vào đó, Hội đồng Cricket quốc tế (International Cricket Council - ICC) cũng phát triển các tiêu chuẩn cho trận đấu test quốc tế kéo dài một ngày.[2]

Bộ luật bao gồm lời tựa, phần mở đầu, 42 quy tắc và bốn phụ lục. Lời tựa mô tả lịch sử ngắn gọn về luật chơi và MCC. Phần mở đầu mới được đưa vào gần đây, bao gồm các tiêu chuẩn đạo đức trong môn cricket. Bộ luật chơi đầu tiên của MCC ra đời ngày 30 tháng 5 năm 1788, từ đó đã được thay đổi luật mới vào các năm 1835, 1947, 1980, 2000, 2017. Giữa các bộ luật thay đổi có những phiên bản điều chỉnh nhỏ khác. Phiên bản mới nhất là ấn bản thứ hai của bộ luật 2017 áp dụng từ ngày 1 tháng 4 năm 2019.[3]

Cầu thủ và Trọng tàiSửa đổi

 
Trọng tài trận đấu

Ba luật đầu tiên nói về những thành phần tham gia trận cricket: cầu thủ (player), trọng tài (umpire) và người tính điểm (scorer).

Luật 1: Cầu thủ. Một đội cricket có 11 cầu thủ, bao gồm cả đội trưởng. Hai đội có thể thỏa thuận về số người chơi ít hoặc nhiều hơn, nhưng không được quá 11 cầu thủ trên sân cho mỗi bên.[4]

Luật 2: Trọng tài. Mỗi trận đấu chỉ định hai trọng tài có nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ luật chơi, đưa ra quyết định cần thiết cũng như thông báo tới người tính điểm. Luật không yêu cầu trọng tài thứ ba nhưng trong các trận đỉnh cao có trọng tài phụ ở ngoài sân để trợ giúp trọng tài chính tùy thuộc vào trận đấu hoặc giải đấu.[5]

Luật 3: Người tính điểm. Có hai người tính điểm trong trận đấu, tuân theo tín hiệu thông báo từ trọng tài và ghi chép lại điểm trong quá trình diễn ra trận đấu.[6]

Sân và công cụ thi đấuSửa đổi

 
Trong môn cricket nam, trái bóng có thể nặng từ 5,5 đến 5,75 ounce (155,9-163 g). Chu vi trái bóng từ 8,81 đến 9 inch (22,4-22,9 cm). Trái bóng màu đỏ dùng cho các trận test.
 
Trái bóng màu trắng dùng trong các trận giới hạn số over
 
Kích thước phương cầu trường
 
Tam trụ môn - 3 cọc trụ môn (stumps) và 2 thanh hoành mộc (bail)

Nhóm luật tiếp theo mô tả yêu cầu cơ bản về trang thiết bị và sân bãi thi đấu.

Luật 4: Bóng (ball). Trái bóng cricket được làm từ gỗ xốp và bọc da. Chu vi trái bóng quy định 8,81 đến 9 inch hoặc 22,4 đến 22,9 cm. Khối lượng nặng ít nhất 5,5 và không quá 5,75 ounce tức là từ 155,9 đến 163 gam. Một trái bóng được dùng trong một lượt chơi (inning). Ngoại lệ là khi bóng bay mất hoặc không đảm bảo kỹ thuật thì được thay thế. Ngoài ra, đội bắt bóng có thể yêu cầu đổi bóng sau số lần over nhất định (80 trong các trận test và 34 trong các trận quốc tế kéo dài một ngày).[7]

Luật 5: Gậy (bat). Gậy không được dài quá 38 inch (97 cm) và rộng 4,25 inch (10,8 cm). Phần phiến gậy (blade) phải làm bằng gỗ.[a][8]

Luật 6: Sân (pitch) - Phương cầu trường. Sân cỏ hình chữ nhật dài 22 thước Anh (khoảng 20 mét) và rộng 10 bộ Anh (khoảng 3 mét) với được xén rất ngắn. Trước trận đấu sân bãi được chăm sóc chuẩn bị đặc biệt, còn trong trận trận đấu chỉ có trọng tài giám sát điều kiện sân bãi. Trọng tài quyết định xem sân có phù hợp để thi đấu hay không. Nếu thấy không phù hợp, sau khi cả hai đội trưởng chấp thuận, trọng tài có thể chọn một sân khác.[b][9]

Luật 7: Crease. Đường crease giới hạn bằng đường kẻ trắng trên sân. Bowling crease dài 8 feet 8 inch (2,64 mét) đánh dấu phía đầu sân. Popping crease ở phía trước và song song với bowling crease ở khoảng cách 4 feet (1,2 mét). Popping crease dài tối thiểu 6 feet (1,83 mét) nhưng không giới hạn tối đa, luôn dài hơn bowling crease. Return crease vuông góc với bowling creasepopping crease, được kẻ tối thiểu 8 feet (2,44 mét) từ popping crease không giới hạn độ dài, đại diện cho hành lang di chuyển của bowler.[10]

Luật 8: Tam trụ môn (wicket). Wicket gồm ba cọc trụ môn (stump) cao 28 inch (71 cm). Các cọc cắm ở giữa bowling crease với độ rộng 9 inch (22,86 cm). Trên các cọc có hai thanh bằng gỗ rời gọi là hoành mộc (bail). Trong một số trường hợp, như khi có gió, trọng tài có thể quyết định bỏ hoành mộc đi.[c][11]

Luật 9: Chuẩn bị và bảo trì khu vực thi đấu. Khi giao bóng, bóng hầu như luôn luôn nẩy bật trên mặt sân nên hướng nảy bóng do điều kiện lớp cỏ trên sân. Do đó, các quy trình lăn, cắt cỏ và các quy trình chuẩn bị và bảo dưỡng sân cỏ khác phải được tuân theo yêu cầu nhất định.[12]

Luật 10: Che phủ phương cầu trường. Các tấm che đặc biệt đặt lên sân để tránh bị mưa hoặc sương làm hư hại. Cách thức che phủ phải được hai đội trưởng đồng ý trước. Việc che phủ mặt sân có ảnh hưởng đáng kể trực tiếp đến độ nảy của bóng trên mặt sân. Khu vực phía trước sân pitch là nơi cầu thủ ném bóng chạy phải được giữ khô ráo để tránh chấn thương, nên nếu cần cũng có thể được che phủ.[13]

Cấu trúc trận đấuSửa đổi

Các luật tiếp theo xác định yêu cầu đối với diễn biến trận đấu.

Luật 11: Khoảng nghỉ (interval). Trong trận đấu quy định một số khoảng nghỉ với độ dài khác nhau. Các trận đấu dài ngày thì có khoảng nghỉ khi một ngày kết thúc cho đến khi tiếp tục thi đấu vào ngày hôm sau. Giữa các lượt có nghỉ 10 phút. Có nghỉ ăn trưa, giờ nghỉ trà và uống nước. Lịch trình khoảng nghỉ phải được thống nhất trước trận đấu. Trong một số tình huống, khoảng nghỉ được phép thay đổi thời gian thi đấu.[14]

Luật 12: Bắt đầu và dừng chơi. Tín hiệu để tiếp tục trận đấu sau giờ nghỉ là khi trọng tài hô Play (chơi). Trận đấu dừng lại khi trọng tài ra lệnh Time (đến giờ). Giờ chơi cuối phải có tối thiểu 20 over. Nếu ít hơn, trọng tài sẽ kéo dài thời gian thi đấu để đáp ứng cho đủ.[15]

Luật 13: Lượt (inning). Trước khi vào trận, hai đội thống nhất về số lượt cũng như giới hạn về thời gian mỗi lượt hay số over mỗi lượt. Trong thực tế, mỗi giải đấu sẽ quy định cụ thể về vấn đề này. Nếu không có yêu cầu nào phát sinh, các đội sẽ lần lượt đánh bóng. Một lượt chơi được coi là hoàn thành khi tất cả các tay đánh bóng (batsman) phía đội đánh bóng bị loại, đội trưởng tuyên bố kết thúc hoặc hủy lượt, hay khi lượt hết giờ hoặc hết số over. Trước trận đấu, hai bên bốc thăm, đội trưởng thắng thăm sẽ chọn giao hay đánh bóng trước.[16]

Luật 14: Lượt tiếp (follow-on). Luật này áp dụng cho các trận đấu hai lượt.[d] Với trận 5 ngày, nếu đội đánh bóng trước và dẫn từ 200 run (lần chạy) được phép buộc đối phương đánh bóng ngay sau lượt đầu tiên. Như vậy, cấu trúc lượt đánh bóng bình thường là 1-2-1-2 thì nếu sử dụng lượt tiếp sẽ là 1-2-2-1. Tương tự, với trận đấu 3 hoặc 4 ngày, số run cần thiết để yêu cầu lượt tiếp là 150; với 2 ngày là 100 run, với 1 ngày là 75 run.[17]

Luật 15: Tuyên bố và từ chối (Declaration and Forfeiture). Áp dụng cho các trận đấu hai lượt. Nếu bóng chết (dead ball),[e] đội trưởng bên đánh bóng có thể tuyên bố một lượt chơi đã hoàn thành (declaration) nếu tin rằng đội mình đã đủ điểm để chiến thắng. Đội trưởng cũng có quyền từ chối (forfeiture) lượt chơi trước khi bắt đầu, những lượt này sẽ được ghi nhận là hoàn thành.[17]

Luật 26: Tập luyện trên sân (Practice on the field). Các cầu thủ không được sử dụng sân pitch để tập luyện vào những ngày diễn ra trận đấu, chỉ được dùng sân ngoài (outfield) vào các khoảng nghỉ. Cầu thủ vi phạm luật này có thể bị loại khỏi cuộc chơi theo điều luật 41. Được phép chạy thử (Trial run-up) trước khi giao bóng trừ khi trọng tài có ý kiến điều này làm lãng phí thời gian thi đấu (Time wasting by the fielding side).[18]

Điểm và kết quảSửa đổi

 
Jacques Kallis ghi được tổng cộng 11.000 run đánh đổ 250 trụ môn trong cả test cricket và cricket đơn nhật[19]
 
Sơ đồ sân cricket. Sân pitch được đánh dấu vàng, người đánh bóng đứng trong phạm vi15 thước Anh (13,7 m) có màu hồ trăn. Phần phía trong sân có màu xanh lục nhạt bao trong đường màu trắng bán kinh 30 thước Anh (27,4 m). Phần phía ngoài sân có màu xanh lục đậm với đường kính 450-500 feet (137-150 m).

Một nhóm luật khác dùng để tính điểm và tiêu chí xác định bên chiến thắng. Điểm mỗi đội thường được trình bày dưới dạng m/n, trong đó m là số run ghi được và n là số lần wicket bị đổ (cũng có thể ghi n/m hoặc m-n). Ví dụ: nếu một đội ghi được 100 run và bị mất 1 wicket, điểm hiển thị là 100/1 (1/100 hoặc 100-1)[20] Lưu ý đội có nhiều run hơn sẽ chiến thắng.[f] Số wicket bị mất không tính khi xét thắng thua.[21]

Luật 18: Tính điểm run (Scoring runs). Một run được tính khi cầu thủ đánh bóng chạy thành công từ đầu này sang đầu kia của sân pitch. Như vậy nếu cả hai cầu thủ đánh bóng đều thành công thì sẽ ghi được hai điểm. Run được coi là hoàn thành nếu cầu thủ đánh bóng chạy từ đường popping crease bên đội mình đến đường popping crease của đối phương và dùng gậy hoặc bất cứ phần nào trên cơ thể chạm đất phía sau. Vị trí bắt đầu của hai người đánh bóng là hai đầu sân. Cầu thủ đánh bóng có thể từ chối chạy với nguy cơ làm đổ wicket (xem Luật 28). Nỗ lực chạy bất thành được gọi là short run (tạm dịch: chạy ngắn), cố ý short run có thể bị phạt. Có thể nhận được thêm điểm cộng khi đối phương phạm luật, bóng ra biên (xem Luật 19) hoặc bóng chết (xem Luật 20).[22]

Luật 19: Biên (Boundaries). Trọng tài và đội trưởng xác định biên trước trận đấu. Thường thì biên được đánh dấu dọc hết chiều dài sân. Nếu bóng chạm hoặc ra ngoài biên, đội đánh bóng được 4 điểm. Nếu bóng đến biên mà chưa chạm đất, đội đó được 6 run.[23]

Luật 20: Bóng chết (Dead ball). Tình huống bóng chết xảy ra khi cầu thủ ném bóng chạy mà không thể có bất kỳ hành động nào ngăn chặn được. Khi đó, cầu thủ đánh bóng thì không thể ghi điểm cũng như không thể bị loại ra. Có một số nguyên nhân dẫn đến bóng chết, phổ biến nhất là do cầu thủ đánh bóng chạm biên.[24]

Luật 21: Không bóng (No ball). Tuyên bố No ball được trọng tài đưa ra nếu cầu thủ ném bóng từ vị trí bị cấm, nếu duỗi thẳng khuỷu tay khi ném, nếu ném nguy hiểm; nếu sau khi ném, bóng chạm sân hai lần trở lên hoặc lăn dọc theo sân pitch, cũng như các cầu thủ trên ngoài ở vào vị trí cấm. No ball cộng cho bên đánh bóng thêm 1 run. Trong đa số trường hợp, cầu thủ đánh bóng không bị loại khi No ball.[25]

Luật 22: Bóng xa (Wide ball). Trọng tài sẽ tuyên bố Wide nếu cho rằng cầu thủ đánh bóng không thể đánh được do ném bóng không chính xác. Wide ball thường được áp dụng trong tình huống mà bóng ném qua đầu cầu thủ đánh bóng. Trong trường hợp Wide ball, đội đánh bóng được nhận một run nhưng không được tính vào over.[26]

Luật 23: Bye và leg bye. Nếu không ở trong trạng thái No ballWide ball, bóng bay qua cầu thủ đánh bóng, thì điểm ghi được tính là bye. Còn trong hợp bóng không chạm vào gậy mà chạm vào người của cầu thủ đánh bóng thì gọi là leg bye. Leg bye không được tính nếu cầu thủ đánh bóng không cố gắng đánh hoặc cố tính né bóng. Điểm bye được tính cho cả đội nhưng không ghi nhận cho cầu thủ đánh bóng.[27]

Loại cầu thủ đánh bóngSửa đổi

 
William Gilbert Grace, cầu thủ đánh bóng vĩ đại nhất lịch sử cricket[28]

Luật 29: Wicket bị đổ (The wicket is down). Nếu bóng ném phá đổ wicket hay do chính cầu thủ đánh bóng làm đổ, cầu thủ đánh bóng sẽ bị loại. Wicket bị coi là bị phá đổ khi có ít nhất một hoành mộc bail rơi xuống.[g][29]

Luật 30: Cầu thủ đánh bóng rời vị trí (The batsman is out of his/her ground). Cầu thủ đánh bóng được coi là vẫn trong vị trí nếu bất kỳ phần cơ thể hay gậy vẫn ở phía sau đường popping crease. Hoặc nói cách khác, cầu thủ đánh bóng bị loại khi đối phương phá đổ wicket. Nếu tại thời điểm wicket bị đổ, hai cầu thủ đánh bóng đều ở ngoài vùng đứng thì cầu thủ nào gần wicket hơn sẽ bị loại.[30]

Luật 31: Kháng nghị (Appeal). Nếu cho rằng cầu thủ đánh bóng đã bị loại khỏi trận đấu, các cầu thủ ngoài sân có thể gọi trọng tài How's That? (Sao rồi?) cho đến trước lượt tiếp theo. Trọng tài xem xét kháng nghị và quyết định liệu cầu thủ đánh bóng có thực sự rời vị trí hay không. Hay nói cách khác, các cầu thủ ngoài sân có nghĩa vụ thông báo cho trọng tài về tất cả trường hợp cầu thủ đánh bóng loại khỏi trận đấu, kể cả khi hoàn toàn rõ ràng. Tất nhiên, trong những trường hợp quá rõ ràng này, cầu thủ đánh bóng thường tự động rời vị trí mà không cần đợi thủ tục chính thức.[31]

Luật 32: Bowled. Bowled xảy ra khi ném bóng phá đổ wicket. Cho đến khi wicket đổ, bóng không được chạm vào bất kỳ trọng tài hay người chơi nào khác ngoài cầu thủ đánh bóng. Bóng được chạm vào gậy, găng hay bất kỳ chỗ nào trên người cầu thủ đánh bóng.[32]

Luật 33: Bắt bóng (Caught). Caught là tình huống cầu thủ bên ném bóng bắt được bóng do cầu thủ đánh bóng đánh bật ra nhưng chưa chạm đất. Cầu thủ bắt bóng phải ở trong sân, nghĩa là không có bộ phận nào của cơ thể chạm đất bên ngoài sân. Trước khi bắt bóng, bóng không được chạm vào bất kỳ vật nào bên ngoài sân thi đấu.[33]

Luật 34: Đánh bóng hai lần (Hit the ball twice). Nếu đánh bóng hai lần không nhằm mục đích bảo vệ wicket cũng như đối thủ chưa đồng ý, cầu thủ đánh bóng sẽ bị loại.[34]

Luật 35: Đánh wicket (Hit wicket). Nếu bóng bắt đầu được ném hợp lệ, cầu thủ đánh bóng chạm đổ hoặc dùng gậy làm đổ wicket thì cầu thủ đó bị loại (out Hit wicket).[35]

Luật 36: Chân chắn bóng (Leg before wicket - lbw). Khi xác định bóng có thể làm đổ wicket nếu không bị đập vào cầu thủ đánh bóng, cầu thủ đánh bóng bị loại theo lỗi lbw. Quyết định trọng tài đưa ra dựa trên một số điều kiện quy định trong luật này.[36]

Luật 37: Cản trở bên ném bóng (Obstructing the field). Cầu thủ đánh bóng sẽ bị loại nếu cố tình dùng lời nói hay hành động can thiệp vào quá trình chơi bóng của đối phương.[37]

Luật 38: Run out. Nếu chạy ra ngoài giới hạn hay wicket bị đối phương làm đổ, cầu thủ đánh bóng bị loại theo Run out. Nguyên tắc này áp dụng ngay cả trong tình huống không bóng no ball.[38]

Luật 39: Stumped. Cầu thủ đánh bóng bị loại (out Stumped) nếu cầu thủ trấn giữ wicket làm đổ wicket trong khi cầu thủ đánh bóng ở ngoài sân và không bị chấn thương. Nguyên tắc này không áp dụng cho tình huống không bóng no ball.[39]

Luật 40: Hết giờ (Timed out). Cầu thủ đánh bóng mới phải vào thay thế người tiền nhiệm trong vòng ba phút sau khi bị loại, nếu không cầu thủ mới này cũng sẽ bị loại với thông báo Timed out. Trong khoảng thời gian ba phút đó, cầu thủ đánh bóng phải sẵn sàng trong vị trí.[40]

Cầu thủ bên ném bóngSửa đổi

 
Cầu thủ giữ wicket Matt Prior trong trận đấu

Xem thêmSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Năm 1979, Dennis Lilly sử dụng gậy nhôm trong một trận đấu quốc tế. Sau đó, yêu cầu về vật liệu gậy được quy định thành luật.
  2. ^ Các trận cricket chuyên nghiệp luôn diễn ra trên mặt sân cỏ. Các trận nghiệp dư thì có thể tổ chức trên sân nhân tạo.
  3. ^ Các quy định khác cho wicket đề cập trong Phụ lục A.
  4. ^ Trận đấu hai lượt nghĩa là mỗi bên có hai lượt ném, hai lượt đánh bóng
  5. ^ Xem luật 20
  6. ^ Ngoại trừ trong một số trận test có thể tuyên bố hòa dù chênh lệnh run.
  7. ^ Trong trường hợp không có hoành mộc do thời tiết xấu hoặc nguyên nhân khác, các tiêu chí khác sẽ dùng để quy định wicket bị phá đổ như thế nào.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Rules of Cricket” [Luật Cricket] (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2021.
  2. ^ ICC Test Match Playing Conditions [Luật thi đấu trận test của ICC] (PDF) (bằng tiếng Anh), ngày 1 tháng 3 năm 2021, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2021, truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021
  3. ^ MCC Laws Department (tháng 12 năm 2018), “Changes to the Laws of Cricket” [Thay đổi luật chơi Cricket] (PDF), Lord's (bằng tiếng Anh), lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2021, truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021
  4. ^ Luật Cricket 2017, tr. 5.
  5. ^ Luật Cricket 2017, tr. 6-10.
  6. ^ Luật Cricket 2017, tr. 10.
  7. ^ Luật Cricket 2017, tr. 10-11.
  8. ^ Luật Cricket 2017, tr. 11-13.
  9. ^ Luật Cricket 2017, tr. 13-14.
  10. ^ Luật Cricket 2017, tr. 14.
  11. ^ Luật Cricket 2017, tr. 14-15.
  12. ^ Luật Cricket 2017, tr. 15-17.
  13. ^ Luật Cricket 2017, tr. 17.
  14. ^ Luật Cricket 2017, tr. 17-20.
  15. ^ Luật Cricket 2017, tr. 20-23.
  16. ^ Luật Cricket 2017, tr. 23-24.
  17. ^ a ă Luật Cricket 2017, tr. 24.
  18. ^ Luật Cricket 2017, tr. 45-46.
  19. ^ “Jacques Kallis profile and biology, stats, records, averages, photos and videos” [Jacques Kallis hồ sơ và tiểu sử, chỉ số, kỷ lục, số liệu trung bình, ảnh và video], ESPN Cricket Info (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2021, truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2021
  20. ^ “Scores & Fixtutes — Cricket — BBC Sport” [Tỷ số & Lịch thi đấu - Cricket]. BBC (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2021.
  21. ^ Luật Cricket 2017, tr. 25.
  22. ^ Luật Cricket 2017, tr. 28-31.
  23. ^ Luật Cricket 2017, tr. 31-34.
  24. ^ Luật Cricket 2017, tr. 34-35.
  25. ^ Luật Cricket 2017, tr. 35-38.
  26. ^ Luật Cricket 2017, tr. 38-39.
  27. ^ Luật Cricket 2017, tr. 40.
  28. ^ W.G. Grace profile and biography, stats, records, photos and videos [W.G. Grace hồ sơ và tiểu sử, số liệu thống kê, bản ghi, ảnh và video] (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2021
  29. ^ Luật Cricket 2017, tr. 50.
  30. ^ Luật Cricket 2017, tr. 51.
  31. ^ Luật Cricket 2017, tr. 51-52.
  32. ^ Luật Cricket 2017, tr. 52-53.
  33. ^ Luật Cricket 2017, tr. 53-54.
  34. ^ Luật Cricket 2017, tr. 54-55.
  35. ^ Luật Cricket 2017, tr. 55.
  36. ^ Luật Cricket 2017, tr. 56.
  37. ^ Luật Cricket 2017, tr. 56-57.
  38. ^ Luật Cricket 2017, tr. 57-58.
  39. ^ Luật Cricket 2017, tr. 58-59.
  40. ^ Luật Cricket 2017, tr. 59.

Thư mụcSửa đổi