Labetalol là một loại thuốc dùng để điều trị huyết áp cao và kiểm soát đau thắt ngực lâu dài.[1][2] Điều này bao gồm tăng huyết áp cần thiết, cấp cứu tăng huyết áp và tăng huyết áp của thai kỳ.[2] Trong việc chữa tăng huyết áp, nó thường ít được ưa thích hơn so với một số loại thuốc huyết áp khác.[1] Nó có thể được đưa ra bằng miệng hoặc tiêm tĩnh mạch.[1]

Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm huyết áp thấp khi đứng, chóng mặt, cảm thấy mệt mỏi và buồn nôn.[1] Tác dụng phụ nghiêm trọng có thể bao gồm huyết áp thấp, các vấn đề về gan, suy timco thắt phế quản.[1] Sử dụng thuốc này tỏ ra an toàn ở phần sau của thai kỳ và nó không được dự kiến sẽ gây ra vấn đề trong khi cho con bú.[2][3] Nó hoạt động bằng cách ngăn chặn sự kích hoạt các thụ thể β và thụ thể α.[1]

Labetalol được cấp bằng sáng chế vào năm 1966 và được đưa vào sử dụng y tế vào năm 1977.[4] Nó có sẵn như là một loại thuốc gốc.[2] Một tháng cung cấp ở Vương quốc Anh tiêu tốn của NHS khoảng 8£ vào năm 2019.[2] Tại Hoa Kỳ, chi phí bán buôn của số thuốc này là khoảng 12 USD.[5] Năm 2016, đây là loại thuốc được kê đơn nhiều thứ 233 tại Hoa Kỳ với hơn 2 triệu đơn thuốc.[6]

Sử dụng trong y tếSửa đổi

Labetalol có hiệu quả trong việc quản lý   cấp cứu tăng huyết áp, tăng huyết áp sau phẫu thuật,   pheochromocytoma - tăng huyết áp, và   tăng huyết áp hồi phục do hội chứng cai nghiện thuốc chặn beta.  [7]

Nó có một chỉ định đặc biệt trong điều trị chứng cao huyết áp do mang thai   thường được liên kết với  tiền sản giật.  [8]

Nó cũng được sử dụng như là một thuốc thay thế trong việc điều trị tăng huyết áp nặng.[7]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d “Labetalol Hydrochloride Monograph for Professionals”. Drugs.com (bằng tiếng Anh). American Society of Health-System Pharmacists. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2019. 
  2. ^ a ă â b c British national formulary: BNF 76 (ấn bản 76). Pharmaceutical Press. 2018. tr. 147–148. ISBN 9780857113382. 
  3. ^ “Labetalol Use During Pregnancy”. Drugs.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2019. 
  4. ^ Fischer, Jnos; Ganellin, C. Robin (2006). Analogue-based Drug Discovery (bằng tiếng Anh). John Wiley & Sons. tr. 463. ISBN 9783527607495. 
  5. ^ “NADAC as of 2019-02-27”. Centers for Medicare and Medicaid Services (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2019. 
  6. ^ “The Top 300 of 2019”. clincalc.com. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018. 
  7. ^ a ă Koda-Kimble, Mary A.; Alldredge, Brian K. (2013). “21”. Koda-Kimble and Young's Applied Therapeutic: The Clinical Use of Drugs. Philadelphia: Philadelphia: Lippincott Williams & Wilkins. ISBN 978-1-60913-713-7. 
  8. ^ Arulkumaran, N; Lightstone, L (tháng 12 năm 2013). “Severe pre-eclampsia and hypertensive crises”. Best Practice & Research. Clinical Obstetrics & Gynaecology 27 (6): 877–84. PMID 23962474. doi:10.1016/j.bpobgyn.2013.07.003.