Life Is Strange: Before the Storm

trò chơi điện tử ra mắt năm 2017 của hãng Square Enix

Life Is Strange: Before the Stormtrò chơi điện tử phiêu lưu đồ họa nhiều tập do Deck Nine phát triển và Square Enix phân phối. Ba tập đầu tiên lần lượt được phát hành cho các nền tảng Microsoft Windows, PlayStation 4, Xbox One vào cuối năm 2017 và Linux, macOS, Android, iOS vào cuối năm 2018. Đây là phần thứ hai của dòng trò chơi Life Is Strange, đồng thời là tiền truyện của phần trò chơi đầu tiên, với cốt truyện xoay quanh mối quan hệ giữa cô gái 16 tuổi Chloe Price và người bạn cùng lớp Rachel Amber. Life Is Strange: Before the Storm có lối chơi chủ yếu là sử dụng các đoạn hội thoại phân nhánh đi kèm với tương tác với môi trường.

Life Is Strange: Before the Storm
Life-is-Strange-Before-the-Storm.jpg
Nhà phát triểnDeck Nine
Nhà phát hành
Đạo diễn
  • Webb Pickersgill
  • Chris Floyd
Nhà sản xuất
  • David Lawrence Hein
  • Zoe Brown
Thiết kếWilliam Beacham
Lập trình
  • Mark Lyons
  • Danielle Cheah
Minh họaAndrew Weatherl
Kịch bảnZak Garriss
Âm nhạcDaughter
Dòng trò chơiLife Is Strange
Công nghệUnity
Nền tảng
Ngày phát hành
  • Tập 1
  • 31 tháng 8 năm 2017
  • Tập 2
  • 19 tháng 10 năm 2017[1]
  • Tập 3
  • 20 tháng 12 năm 2017[2]
Thể loạiPhiêu lưu đồ hoạ
Chế độChơi đơn

Dưới sự hỗ trợ của phần mềm Unity, Deck Nine bắt đầu phát triển trò chơi này vào năm 2016. Ashly Burch, diễn viên lồng tiếng cho Chloe Price ở phần đầu tiên không tiếp tục góp mặt trong Before the Storm vì bận tham gia vào cuộc đình công do tổ chức SAG-AFTRA khởi xướng. Mặc dù vậy, cô vẫn kịp quay trở lại để lồng tiếng cho tập bổ sung của phần trò chơi này. Phần nhạc nền do ban nhạc indie Anh là Daughter nhận lãnh trách nhiệm viết và trình diễn. Life Is Strange: Before the Storm nhận được nhiều đánh giá nhìn chung tích cực, những lời ngợi khen về các nhân vật, chủ đề lẫn câu chuyện. Tuy nhiên, tác phẩm cũng nhận không ít chỉ trích chẳng hạn như lỗ hổng trong cốt truyện, mối quan hệ giữa các nhân vật chính và tác động của quyết định quan trọng mà người chơi phải đưa ra ở gần cuối trò chơi.

Lối chơiSửa đổi

 
Người chơi có thể chọn lựa từ đoạn hội thoại những quyết định mà Chloe sẽ thực hiện và điều đó sẽ ảnh hưởng đến các đoạn hội thoại, thậm chí các sự kiện về sau.

Life Is Strange: Before the Storm là một trò chơi phiêu lưu đồ hoạ góc nhìn thứ ba, nơi người chơi vào vai cô gái 16 tuổi tên Chloe Price. Cốt truyện trong game xảy ra trước những sự kiện trong Life Is Strange ba năm. Nét đặc biệt của Before the Storm là cho phép người chơi "trả treo".[gc 1] Người chơi có thể sử dụng khả năng này để giúp đỡ Chloe thoát khỏi những tình huống ngặt nghèo. Mặc dù vậy "trả treo" đôi khi cũng khiến cho mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn. Cây đối thoại cũng được sử dụng khi giao tiếp hoặc xuất hiện lời dẫn giải mang tính gợi nhắc. Các quyết định vào những dịp đặc biệt có thể thay đổi kết quả tạm thời hoặc vĩnh viễn. Người chơi có thể tương tác và thay đổi môi trường, kể cả đánh dấu lên các bức tường bằng hình vẽ graffiti.[3][4]

Nội dungSửa đổi

Tại vùng đất bên vịnh Arcadia thuộc tiểu bang Oregon, cô gái 16 tuổi Chloe Price trà trộn vào một buổi biểu diễn ca nhạc trong một cối xay gió cũ. Khi vào trong, cô chạm mặt hai gã đàn ông và xảy ra xô xát với họ. May mắn thay, Rachel Amber – bạn cùng lớp với Chloe bất ngờ có mặt kịp thời để giải vây. Ngày hôm sau, Chloe và Rachel gặp nhau trong khuôn viên trường Blackwell. Họ quyết định trốn học, rồi sau đó nhảy lên toa chở hàng của một chiếc tàu hoả và dừng lại ở một điểm quan sát toàn cảnh. Hai cô gái dùng kính ngắm ở đó để quan sát mọi người. Bất chợt, họ phát hiện một đôi nam nữ đang hôn nhau trong công viên. Cảnh tượng này làm Rachel không vui. Họ trộm rượu từ những người đi cắm trại gần đó rồi đi bộ tới một bãi phế liệu. Chloe chất vấn Rachel tại sao tâm trạng cô thay đổi, nhưng cuộc chất vấn ấy không mang lại kết quả. Mặc dù vậy, lát sau, Rachel cuối cùng cũng tiết lộ rằng người đàn ông mà cô nhìn thấy trong kính ngắm tại điểm quan sát là James, tức cha mình. Điều này có nghĩa là ông đã lừa dối mẹ cô. Sau đó, Rachel đem tấm ảnh gia đình và thiêu nó trong một thùng phuy rác. Trong lúc giận dữ, cô đá vào thùng phuy, vô tình làm văng tàn lửa, gây ra cháy rừng.[5]

Hôm sau, cả Chloe lẫn Rachel đều bị hiệu trưởng Wells khiển trách vì trốn học. Chloe đi loanh quanh ở bãi phế liệu và tìm gặp một chiếc xe tải cũ cần sửa chữa. Ngay sau đó, cô nhận được cuộc gọi của tay buôn ma tuý Frank Bowers, yêu cầu gặp mặt để bàn chuyện trả nợ. Chloe hứa giúp anh ta ăn trộm tiền của người bạn cùng lớp tên Drew. Cậu này cũng nợ Frank một số tiền lớn. Tuy nhiên, Chloe sớm phát hiện ra rằng Drew đang bị tống tiền bởi một tay buôn thuốc phiện khác có tên Damon Merrick. Cô phải lựa chọn giữa việc giao số tiền mình trộm được cho tay buôn ma tuý này để cứu Drew hoặc giữ lại cho riêng mình. Sau đó, trong buổi diễn kịch vở Giông tố do trường tổ chức, vì một học sinh không thể đến kịp buổi diễn do lệnh cấm đường gây ra bởi vụ cháy rừng nên Chloe miễn cưỡng tham gia vào vở kịch, diễn vai đối nghịch với Rachel. Sau vở diễn, hai cô gái quyết định rời bỏ vịnh Arcadia trên chiếc xe tải cũ từ bãi phế liệu trước đó. Họ cùng nhau quay về nhà Rachel để thu đọn đồ đạc nhưng rồi lại chạm mặt với James. Tại đó, ông chính thức tiết lộ người phụ nữ mình hôn lúc Rachel nhìn thấy chính là mẹ ruột của cô.[6]

Rachel được James tiết lộ rằng Sera – mẹ ruột cô – là một con nghiện ma tuý. Ngoài ra, vào cái ngày mà James hôn Sera, ông đã chối bỏ mong muốn gặp lại con gái của bà. Bởi lẽ, nhiều năm trước đây, Sera chính là người vứt bỏ Rachel cho một gia đình khác. Chloe quyết tâm tìm Sera, bất chấp mong muốn của James. Để làm được điều này, Chloe liên lạc với Frank. Anh ta đồng ý gặp cô tại bãi phế liệu. Trong thời gian chờ Rachel đến, cô cố gắng sửa chiếc xe. Frank và Damon xuất hiện bất thình lình. Sau một hồi nói chuyện, Damon phát hiện ra Rachel chính là con gái của uỷ viên công tố quận. Vì lý do này, anh ta đã đâm cô. May thay, Rachel qua khỏi và trải qua giai đoạn phục hồi ở bệnh viện. Trong thời gian này, Chloe tiếp tục cuộc điều tra. Để tìm những manh mối về Sera, cô quyết định đột nhập vào văn phòng James, thay vì chọn cách tiết lộ rằng ông ta có liên quan đến Damon. Chloe lấy điện thoại của James gọi cho Damon để thuyết phục anh ta khai ra nơi Sera đang sống, nhưng Damon đã bắt cóc bà ta để đòi tiền chuộc. Theo hướng dẫn của Damon, Chloe chôm tiền của James và đến điểm hẹn. Tuy nhiên, ngay khi đến nơi, Chloe phát hiện ra việc ông ta muốn Damon giết Sera để bịt đầu mối. Frank bất chợt xuất hiện, đánh nhau với Damon. Chloe bị Damon đánh bất tỉnh. Sau khi tỉnh lại, hai người kia đã biến mất, chỉ còn mỗi Sera và cô. Bà ta yêu cầu Chloe không bao giờ tiết lộ với Rachel về những chuyện mà James đã làm. Quay về bệnh viện, Chloe đứng giữa hai lựa chọn: hoặc nói cho Rachel biết mọi chuyện, hoặc bảo vệ bạn mình bằng việc chôn giấu sự thật đó mãi mãi.[7]

Tập bổ sungSửa đổi

Trong tập bổ sung mang tên "Farewell", cô bé 13 tuổi Max Caulfield đang vật lộn với việc liệu có nên báo tin cho Chloe rằng gia đình cô sẽ chuyển đến Seattle trong ba ngày tới hay không. Cả hai tìm thấy một cuộn băng ghi lại cuộc nói chuyện của họ hồi năm 8 tuổi. Trong đoạn băng, hai cô gái đang trò chuyện về kho báu bị chôn giấu. Sau khi tìm được tấm bản đồ và một lá bùa nằm trên gác xép, Max cùng Chloe khám phá ra nơi cất giấu kho báu, đồng thời phát hiện ra rằng bố Chloe, ông William đã đặt chiếc hộp thời gian[gc 2] vào trong một thùng nhỏ bằng gỗ, bên cạnh bản thu âm của chính mình nhằm mục đích giữ an toàn. Max có thể chọn hoặc nói cho Chloe chuyện mình sắp chuyển đi, hoặc giấu chuyện này. Bất chấp cô bé quyết định ra sao, kế hoạch cho phần còn lại của ngày cũng bị rút ngắn khi bà Joyce – mẹ Chloe trở về nhà và báo tin William đã chết. Vài ngày sau, Max tham dự đám tang của William và vội vã rời đi cùng gia đình để đến Seattle ngay sau đó, bỏ lại Chloe một mình trong sầu khổ.[8]

Phát triển và ra mắtSửa đổi

Sau khi công cụ độc quyền StoryForge của hãng Deck Nine (bao gồm phần mềm viết kịch bản và công cụ tạo dựng hiệu ứng hình ảnh) mang lại dấu ấn nhất định, nhà phát hành Square Enix quyết định chọn hãng này làm nhà phát triển chính cho phần tiền truyện của Life Is Strange.[9] Công đoạn phát triển bắt đầu từ năm 2016 với sự hỗ trợ của Square Enix London Studios bên cạnh phần mềm làm game Unity.[10] Từ vai trò diễn viên lồng tiếng cho nhân vật Chloe Price, Ashly Burch chuyển sang công tác cố vấn kịch bản, giao lại nhiệm vụ lồng tiếng cho Rhianna DeVries, người trước đó đảm trách việc ghi hình chuyển động cho nhân vật này.[3][11][12] Nguyên nhân trực tiếp khiến Burch không thể tiếp tục tham gia là do vụ đình công do tổ chức SAG-AFTRA chủ trì bùng nổ.[13] Sau khi vụ đình công kết thúc, Burch cùng Hannah Telle, diễn viên lồng tiếng cho Max Caulfield[gc 3] quay lại trong tập bổ sung.[14] Theo lời Kylie Brown, người bắt đầu lồng tiếng cho nhân vật Rachel Amber[gc 4] kể từ tháng 2 năm 2017[15] thì trong suốt quá trình xây dựng, trò chơi mang nhiều cái tên khác nhau.[16] Phần nhạc do ban nhạc indie folk Daughter viết kiêm trình diễn, đồng thời ra mắt dưới dạng nhạc nền chính thức trên Glassnote Records vào ngày 1 tháng 9 năm 2017.[17] Nhằm diễn tả các khía cạnh khác nhau trong tâm trạng của Chloe, ban nhạc quyết định sử dụng nhiều loại nhạc cụ: piano khi cô bị cô lập, guitar điện cho khoảnh khắc nổi loạn và những giọng hát nhiều tầng lớp để đặc tả tình bạn.[18] Nguồn cảm hứng mà Daughter có được đến từ kịch bản và ý tưởng nghệ thuật.[19] Để có được ý tưởng ấy, đội ngũ biên kịch đã bắt tay xem xét một số tập hồi ký cùng các công trình nghiên cứu tâm lý học để hiểu quá trình đau buồn của Chloe.[20] Phần kịch bản có dung lượng 1.500 trang, do Zak Garriss viết chính với sự hỗ trợ của đội ngũ biên kịch.[21] Ý tưởng ban đầu cho tập bổ sung xoay quanh đoạn kết của nó và cách mà những nhà biên kịch tiến hành triển khai từ đoạn kết ấy.[22]

Tại Hội chợ Giải trí Điện tử diễn ra vào ngày 11 tháng 6 năm 2017, Square Enix chính thức hé lộ sự tồn tại của Life Is Strange: Before the Storm,[3] bất chấp từ trước đó, nhiều ảnh chụp trò chơi trong quá trình phát triển bất ngờ bị rò rỉ lên mạng.[23] Theo Square, trò chơi gồm ba tập. Tập đầu dự kiến chào màn cho các nền tảng Microsoft Windows, PlayStation 4 cùng Xbox One kể từ ngày 31 tháng 8.[3] Phiên bản Deluxe bao gồm tập bổ sung có tựa đề "Farewell", cho phép người chơi điều khiển nhân vật Max Caulfield, cùng với đó là ba bộ phục trang đi kèm. Ngoài ra, phiên bản này còn có chế độ Mixtape Mode, giúp người chơi tùy chỉnh danh sách nhạc nền.[4] Tập bổ sung ra mắt ngày 6 tháng 3 năm 2018, cùng thời điểm hai phiên bản Limited và Vinyl ra mắt dưới dạng sản phẩm đóng gói. Phiên bản Limited chỉ gồm một quyển sách ảnh và một đĩa CD, ghi lại toàn bộ nhạc nền của trò chơi, trong khi phiên bản Vinyl được đính kèm đĩa than chứa nhạc nền. Nếu đặt trước phiên bản Vinyl, người chơi còn được tặng kèm hai con búp bê tượng trưng cho Chloe và Rachel. Ngoài những phụ kiện tương tự phiên bản Deluxe, phiên bản Vinyl còn có tập 1 của Life Is Strange.[24] Vào ngày 13 tháng 9 năm 2018, hãng Feral Interactive tuyên bố phát hành Life Is Strange: Before the Storm cho macOSLinux.[25] Ngoài hai nền tảng trên, Deck Nine còn tạo điều kiện để đưa trò chơi lên các nền tảng di động như Android lẫn iOS vào ngày 19 tháng 9.[26]

Đón nhậnSửa đổi

Điểm đánh giá tổng hợp
Trò chơi Metacritic
Toàn bộ phần trò chơi (PC) 77/100[27]
(PS4) 77/100[28]
(XONE) 82/100[29]
Tập 1: Awake (PC) 80/100[30]
(PS4) 78/100[31]
(XONE) 79/100[32]
Tập 2: Brave New World (PC) 76/100[33]
(PS4) 79/100[34]
(XONE) 76/100[35]
Tập 3: Hell Is Empty (PC) 75/100[36]
(PS4) 77/100[37]
(XONE) 81/100[38]

Trên Metacritic, Life Is Strange: Before the Storm nhận được những đánh giá nhìn chung tích cực.[27][28] Các nhà phê bình đánh giá cao hệ thống nhân vật, chủ đề, cốt truyện, nhưng chỉ trích những lỗ hổng trong nội dung, mối quan hệ của nhân vật chính cùng tác động gây ra bởi quyết định của người chơi ở gần cuối game.[39][40][41][42] Tập 1: Awake đón nhận phần lớn những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình, chủ yếu tập trung vào sự phát triển tuyến nhân vật Chloe Price và Rachel Amber.[43][44][45] Jeremy Peeples của Hardcore Gamer đánh giá lối cư xử của Chloe là "đáng quý chuộng", nhấn mạnh rằng tính cách của cô được phóng tác nên bằng nhiều tầng bậc. Còn Sam Loveridge của GamesRadar thì cho rằng nhân vật Rachel trông có vẻ thực tế hơn vì cô tỏ ra mình "biết phải trái" hơn trong khi đối thoại. Tờ Metro ban đầu không có ấn tượng tốt về Chloe bởi "cái tôi hiếu chiến gây phiền hà một cách đơn điệu", nhưng sau khi hiểu được nỗi đau mất cha mà cô phải chịu đựng, họ lại cảm thông hơn với nhân vật này. Viết trên ấn phẩm Game Informer, Kimberley Wallace nhận định phiên bản trẻ hơn này của Chloe mang đến một nét "ngây thơ và dễ tổn thương" đáng để người ta động lòng trắc ẩn. Mặc dù vậy, khi nhận xét về mối quan hệ giữa hai nhân vật chính, Wallace cho rằng nó được hình thành "theo một tốc độ bất thường". Peeples và Loveridge tỏ ra hài lòng với tính tăng "trả treo" tích hợp trong lối chơi của Life Is Strange: Before the Storm, trong khi tờ Metro và Kimberley Wallace thì trái lại, không mấy quan tâm đến tính năng này.[46][47][48][49]

Giới phê bình đánh giá Tập 2: Brave New World hay hơn so với tập đầu tiên hoặc thậm chí là toàn bộ phần trò chơi.[50][51] Tờ Metro tán dương cái cách mà những lựa chọn đã tạo ra sự khác biệt, mang "ảnh hưởng sâu sắc" lên tuyến nhân vật. Trong khi đó, Ozzie Mejia của tờ Shacknews hứng thú với "sự chân thật ngày càng tăng" của Chloe, trái ngược hẳn với "khí thế khốc liệt" lúc ban đầu. Joe Juba của Game Informer tuyên bố "sức mạnh lớn nhất" của tập trò chơi chính là giúp người chơi tiếp tục hiểu hơn về nhân vật này. Mặc dù vậy, phàn nàn lớn nhất mà Juba đưa ra cũng chính là lời chê bai của Kimberley Wallace từ tập trước đó, rằng con đường Chloe và Rachel trở thành bạn thực sự là "gượng ép". Viết cho Destructoid, Brett Makedonski nhận định quá trình phô bày cá tính của từng nhân vật được thực hiện theo cách "có tác động tuyệt vời". Cảnh đáng chú ý nhất là trường đoạn các nhân vật tái hiện vở Giông tố trong buổi diễn kịch ở trường học. Theo Metro đánh giá thì đây là phần họ yêu thích, còn Ozzie Mejia thì gọi đó là "một trong những [khoảnh khắc] hài hước nhất" trong Before the Storm, trong khi Joe Juba coi đó là đỉnh điểm của tất cả các lựa chọn trong quá khứ. Về phương diện kịch bản, Metro chỉ trích nó có phần "thất thường", đồng thời bày tỏ sự thất vọng với giọng lồng tiếng cho các nhân vật. Đánh giá về phần kết, Mejia cho rằng phần kết của tập trò chơi có thể đã bị huỷ bỏ, thừa nhận nó "hơi kéo dài một chút". Bất chấp thực tế trên, nhà phê bình này vẫn bị ấn tượng bởi chức năng "trả treo" mà Before the Storm mang lại.[50][51][52][53]

Cả Metro lẫn Jeremy Peeples đều đồng tình rằng Tập 3: Hell Is Empty là tập giàu cảm xúc nhất của toàn bộ phần trò chơi. Kịch bản được tán dương vì tính chính xác và độ chân thực của nó. Kimberley Wallace cho rằng kịch bản ấy phô bày nhiều khía cạnh mới lạ ở các nhân vật phụ. Tuy nhiên, Makedonski không hài lòng khi một nhân vật có vai trò phụ trợ lại trở thành kẻ phản diện chính, những nhân vật mà tính cách ít được phát triển nhiều bỗng chốc trở nên quan trọng với diễn biến truyện. Tờ Metro chỉ ra vài đoạn thoại, đoạn lồng tiếng không nhất quán với nhau. Bất chấp điều này, Peeples vẫn nhận định giữa các nhân vật có một "sự gắn kết đáng kinh ngạc". Với Wallace, những "khoảnh khắc dịu dàng" giữa Chloe và Rachel là những đoạn hay nhất của toàn bộ tập trò chơi, còn Makedonski phải thốt lên rằng nỗ lực của hai nhân vật chính, "việc họ cùng nhau thoát ly khỏi thực tại, những hy sinh mà họ phải trải qua" là "quá đủ để chúng ta tiếp tục đầu tư [vào trò chơi này]". Bên cạnh những lời đánh giá, giới phê bình cũng tỏ ra hài lòng với cách trò chơi hạ màn.[54][55][56][57]

Thành tựuSửa đổi

Ngay sau Hội chợ Giải trí Điện tử năm 2017, Life Is Strange: Before the Storm đã giành chiến thắng tại một trong các giải thuộc hạng mục Best of E3[gc 5] của trang web GamesRadar+,[58] đồng thời được Hardcore Gamer đề cử cho hạng mục Adventure Game.[gc 6][59] Tại lễ trao giải Gamescom 2017, trò chơi nhận hai đề cử cho các hạng mục "Best Simulation Game"[gc 7] và "Best Family Game",[gc 8][60] cũng như tham gia tranh giải cho hạng mục Games for Impact[gc 9] tại sự kiện The Game Awards 2017.[61] Cùng năm, trong lễ trao giải Cần điều khiển Vàng, trò chơi có cho riêng mình hai đề cử, bao gồm Best Audio[gc 10] cùng Best Performer[gc 11] dành cho Kylie Brown.[62] Ngoài ra, Before the Storm còn đoạt giải Best Soundtrack[gc 12] và Most Touching Moment[gc 13] (khoảnh khắc Chloe và Rachel diễn vở Giông tố tại trường) tại sự kiện Adventure Game of the Year do tạp chí Game Informer tổ chức, dẫn đầu ở hạng mục Best Adventure Game in their Reader's Choice.[gc 14][63][64] Eurogamer xếp hạng Before the Storm ở vị trí thứ 16 trong danh sách 50 trò chơi điện tử của năm.[65]

Năm 2018, trò chơi cũng nhận về một số đề cử như "Best Music Supervision in a Video Game"[gc 15] tại lễ trao giải Guild of Music Supervisors,[66] giải "Matthew Crump Cultural Innovation Award" tại lễ trao giải SXSW Gaming,[67][68] "Best Emotional Game"[gc 16] tại lễ trao giải Emotional Games 2018[69] và "Game Beyond Entertainment"[gc 17] tại Lễ trao giải Trò chơi điện tử lần thứ 14 của Viện Hàn lâm Anh quốc.[70][71] Tại sự kiện NAVGTR, Life Is Strange: Before the Storm có cho mình hai hạng mục đề cử, bao gồm "Game, Franchise Adventure"[gc 18] và "Writing in a Drama",[gc 19] đồng thời đoạt giải "Song Collection".[gc 20][72][73] Song song đó, tại lễ trao giải Italian Video Game, trò chơi cũng được đề cử cho giải "Game Beyond Entertainment".[74] Còn trong lễ trao giải Webby 2018, Before the Storm vinh dự đoạt giải People's Voice Award[gc 21] cho hai hạng mục gồm "Best Writing"[gc 22] và "Public Service & Activism", kèm theo đó là một đề cử cho hạng mục "Strategy/Simulation".[gc 23][75] Trong khi đó, tại sự kiện Games for Change, trò chơi nhận hai giải "Game of the Year"[gc 24] và "Most Significant Impact",[gc 25] giành đề cử cho hạng mục "Best Gameplay".[gc 26][76][77] Trong lễ trao giải Ivor Novello cùng năm, Before the Storm nhận đề cử cho giải "Best Original Video Game Score".[gc 27][78][79]

Chú thíchSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Nguyên văn là "Backtalk"
  2. ^ Chiếc hộp chứa những vật dụng bí mật của Chloe và Max. Khá lâu trước khi đào lên, họ đặt các vật dụng này vào chiếc hộp và đặt tên cho nó là "hộp thời gian" và đem chôn ở khu vườn
  3. ^ Nhân vật chính trong Life Is Strange
  4. ^ Lúc bấy giờ, cái tên Rachel Amber vẫn chưa xuất hiện. Thay vào đó, nhân vật này được đặt cho biệt danh là "Rebecca"
  5. ^ Dùng để tôn vinh những trò chơi xuất sắc nhất của Hội chợ Giải trí Điện tử tổ chức trước đó
  6. ^ Trò chơi phiêu lưu
  7. ^ Trò chơi giả lập xuất sắc nhất
  8. ^ Trò chơi gia đình xuất sắc nhất
  9. ^ Những trò chơi có tầm ảnh hưởng
  10. ^ Âm thanh xuất sắc nhất
  11. ^ Màn thể hiện xuất sắc
  12. ^ Nhạc nền xuất sắc nhất
  13. ^ Khoảnh khắc cảm động nhất
  14. ^ Trò chơi phiêu lưu xuất sắc nhất do khán giả bầu chọn
  15. ^ Giám sát âm nhạc xuất sắc nhất trong trò chơi điện tử
  16. ^ Trò chơi giàu cảm xúc nhất
  17. ^ Trò chơi vượt xa tính giải trí đơn thuần
  18. ^ Trò chơi phiêu lưu nhượng quyền thương mại
  19. ^ Tác phẩm xây dựng theo lối chính kịch
  20. ^ Bộ sưu tập bài hát
  21. ^ Giọng hát của công chúng
  22. ^ Kịch bản truyện xuất sắc nhất
  23. ^ Trò chơi chiến lược, nhập vai
  24. ^ Trò chơi của năm
  25. ^ Trò chơi có tầm ảnh hưởng lớn nhất
  26. ^ Lối chơi xuất sắc nhất
  27. ^ Nhạc nền gốc xuất sắc nhất trong trò chơi điện tử

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Nunneley, Stephany (ngày 12 tháng 10 năm 2017). “Life is Strange: Before the Storm – Episode 2 has a release date and a new trailer” [Life is Strange: Before the Storm – Tập 2 định ngày ra mắt và trailer mới nhất]. VG247 (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  2. ^ Gilyadov, Alex (ngày 5 tháng 12 năm 2017). “Life Is Strange: Before The Storm Episode 3 Release Date Announced” [Công bố ngày ra mắt của Life Is Strange: Before The Storm Tập 3]. IGN (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  3. ^ a ă â b Sarkar, Samit (ngày 11 tháng 6 năm 2017). “Life is Strange prequel Before the Storm debuts this summer (update)” [Phần tiền truyện của Life is Strange là Before the Storm sẽ ra mắt vào mùa hè này (cập nhật)]. Polygon (bằng tiếng Anh). Vox Media. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  4. ^ a ă Matulef, Jeffrey (ngày 13 tháng 6 năm 2017). “Life is Strange prequel's Max-based bonus episode is a Deluxe Edition exclusive” [Tập bổ sung dựa trên nền tảng nhân vật Max từ Life is Strange độc quyền cho phiên bản Deluxe]. Eurogamer (bằng tiếng Anh). Gamer Network. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  5. ^ Deck Nine (ngày 31 tháng 8 năm 2017). Life Is Strange: Before the Storm (Tập 1: Awake). Microsoft Windows, PlayStation 4, Xbox One. Square Enix.
  6. ^ Deck Nine (ngày 19 tháng 10 năm 2017). Life Is Strange: Before the Storm (Tập 2: Brave New World). Microsoft Windows, PlayStation 4, Xbox One. Square Enix.
  7. ^ Deck Nine (ngày 20 tháng 12 năm 2017). Life Is Strange: Before the Storm (Tập 3: Hell Is Empty). Microsoft Windows, PlayStation 4, Xbox One. Square Enix.
  8. ^ Deck Nine (ngày 6 tháng 3 năm 2018). Life Is Strange: Before the Storm (Tập bổ sung: Farewell). Microsoft Windows, PlayStation 4, Xbox One. Square Enix.
  9. ^ Alexander, Jem (tháng 7 năm 2017). “Life Will Be Strange” [Cuộc đời rồi sẽ lạ kỳ thôi]. Develop (bằng tiếng Anh) (184): 17. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2017.
  10. ^ Robertson, John (ngày 12 tháng 7 năm 2017). “Life is Strange: Before the Storm is Chloe's game” [Life is Strange: Before the Storm là trò chơi của Chloe]. Red Bull Games (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  11. ^ Phillips, Tom (ngày 19 tháng 6 năm 2017). “Life is Strange: Before the Storm dev on Ashly Burch's absence, season pass kerfuffle and more” [Life is Strange: Before the Storm phát triển bất chấp sự vắng mặt của Ashly Burch, phần trò chơi trải qua sự náo nhiệt và nhiều điều khác nữa]. Eurogamer (bằng tiếng Anh). Gamer Network. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  12. ^ Hardawar, Devindra (ngày 24 tháng 8 năm 2017). 'Life is Strange: Before the Storm' is all about being a wiseass teen” ['Life is Strange: Before the Storm' là tất cả những gì về bọn thanh niên tự mãn]. Engadget (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  13. ^ Phillips, Tom (ngày 13 tháng 6 năm 2017). “Three-part Life is Strange prequel confirmed” [Ba tập tiền truyện của Life is Strange chính thức được xác nhận]. Eurogamer (bằng tiếng Anh). Gamer Network. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  14. ^ Frank, Allegra (ngày 30 tháng 11 năm 2017). “Original Life is Strange actresses return for special episode” [Các diễn viên gốc trong Life is Strange trở lại cho tập đặc biệt]. Polygon (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  15. ^ Browne, Emily (ngày 11 tháng 12 năm 2017). “Talking to the voice of Rachel from Life is Strange: Before the Storm” [Cùng trò chuyện với người lồng tiếng cho Rachel trong Life is Strange: Before the Storm]. PC Gamer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  16. ^ Riaz, Adnan (ngày 7 tháng 11 năm 2017). “Kylie Brown: 'I Was Nervous, But Ecstatic,' to Voice Rachel Amber in Life Is Strange: Before the Storm” [Kylie Brown: 'Tôi lo lắng, nhưng ngây ngất khi được lồng tiếng cho Rachel Amber trong Life Is Strange: Before the Storm]. Hardcore Gamer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  17. ^ Kress, Bryan (ngày 9 tháng 8 năm 2017). “Watch London Trio Daughter Create Music for 'Life Is Strange: Before The Storm' Video Game” [Xem bộ ba đến từ London mang tên Daughter tạo ra âm nhạc cho trò chơi điện tử 'Life Is Strange: Before The Storm']. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  18. ^ Biery, Thomas (ngày 24 tháng 8 năm 2017). “How Life is Strange: Before the Storm's music brings out Chloe's emotions” [Cách mà âm nhạc trong Life is Strange: Before the Storm làm bung tỏa xúc cảm trong Chloe]. Polygon (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  19. ^ Diver, Mike (ngày 29 tháng 8 năm 2017). “Scoring with Chloe: Daughter's OST for Life Is Strange: Before the Storm” [Âm nhạc cùng với Chloe: Nhạc nền gốc mà Daughter viết riêng cho Life Is Strange: Before the Storm]. Kotaku (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  20. ^ Conditt, Jessica (ngày 23 tháng 11 năm 2017). “How 'Life is Strange' landed in Deck Nine's hands” [Cách mà 'Life is Strange' lọt vào tay Deck Nine]. Engadget (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  21. ^ Crecente, Brian (ngày 27 tháng 3 năm 2018). “Writing the 1,500-Page Script of 'Life Is Strange: Before the Storm' [Quá trình xây dựng kịch bản dài 1.500 trang của 'Life Is Strange: Before the Storm']. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  22. ^ Mejia, Ozzie (ngày 2 tháng 4 năm 2018). “Life is Strange: Before the Storm - The GDC 2018 Postmortem Interview with Zak Garriss” [Life is Strange: Before the Storm - Cuộc phỏng vấn sau sự kiện The GDC 2018 với Zak Garriss]. Shacknews (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  23. ^ Schreier, Jason (ngày 2 tháng 6 năm 2017). “Images Of Apparent Life Is Strange Prequel Pop Up” [Những hình ảnh không thể chối cãi về phần tiền truyện của Life Is Strange bị lộ ra]. Kotaku (bằng tiếng Anh). Univision Communications. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  24. ^ Wales, Matt (ngày 18 tháng 1 năm 2018). “Life is Strange: Before the Storm's bonus Farewell episode is dated for March” [Tập bổ sung mang tên Farewell của Life is Strange: Before the Storm dự kiến ra mắt vào tháng 3]. Eurogamer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  25. ^ Nestor, Marius (ngày 13 tháng 9 năm 2018). “Life is Strange: Before the Storm Is Out Now for Linux and macOS” [Life is Strange: Before the Storm vừa ra mắt cho Linux và macOS]. Softpedia News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  26. ^ Madnani, Mikhail (ngày 7 tháng 9 năm 2018). 'Life Is Strange: Before the Storm' iOS and Android Release Date Announced” [Công bố ngày ra mắt ‘Life Is Strange: Before the Storm’ trên iOS và Android]. TouchArcade (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  27. ^ a ă “Life is Strange: Before the Storm Critic Reviews for PC” [Đánh giá phê bình Life is Strange: Before the Storm phiên bản PC]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  28. ^ a ă “Life is Strange: Before the Storm Critic Reviews for PlayStation 4” [Đánh giá phê bình Life is Strange: Before the Storm phiên bản PlayStation 4]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  29. ^ “Life is Strange: Before the Storm Critic Reviews for Xbox One” [Đánh giá của giới phê bình dành cho phiên bản PC của Life is Strange: Before the Storm - Tập 3: Hell is Empty]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  30. ^ “Life is Strange: Before the Storm - Episode 1: Awake Critic Reviews for PC” [Đánh giá của giới phê bình dành cho phiên bản PC của Life is Strange: Before the Storm - Tập 1: Awake Critic]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  31. ^ “Life is Strange: Before the Storm - Episode 1: Awake Critic Reviews for PlayStation 4” [Đánh giá của giới phê bình dành cho phiên bản PlayStation 4 của Life is Strange: Before the Storm - Tập 1: Awake Critic]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  32. ^ “Life is Strange: Before the Storm - Episode 1: Awake Critic Reviews for Xbox One” [Đánh giá của giới phê bình dành cho phiên bản Xbox One của Life is Strange: Before the Storm - Tập 1: Awake Critic]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  33. ^ “Life is Strange: Before the Storm - Episode 2: Brave New World Critic Reviews for PC” [Đánh giá của giới phê bình dành cho phiên bản PC của Life is Strange: Before the Storm - Tập 2: Brave New World]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  34. ^ “Life is Strange: Before the Storm - Episode 2: Brave New World Critic Reviews for PlayStation 4” [Đánh giá của giới phê bình dành cho phiên bản PlayStation 4 của Life is Strange: Before the Storm - Tập 2: Brave New World]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  35. ^ “Life is Strange: Before the Storm - Episode 2: Brave New World Critic Reviews for Xbox One” [Đánh giá của giới phê bình dành cho phiên bản Xbox One của Life is Strange: Before the Storm - Tập 2: Brave New World]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  36. ^ “Life is Strange: Before the Storm - Episode 3: Hell is Empty Critic Reviews for PC” [Đánh giá của giới phê bình dành cho phiên bản PC của Life is Strange: Before the Storm - Tập 3: Hell is Empty]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  37. ^ “Life is Strange: Before the Storm - Episode 3: Hell is Empty Critic Reviews for PlayStation 4” [Đánh giá của giới phê bình dành cho phiên bản PlayStation 4 của Life is Strange: Before the Storm - Tập 3: Hell is Empty]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  38. ^ “Life is Strange: Before the Storm - Episode 3: Hell is Empty Critic Reviews for Xbox One” [Đánh giá của giới phê bình dành cho phiên bản Xbox One của Life is Strange: Before the Storm - Tập 3: Hell is Empty]. Metacritic (bằng tiếng Anh). CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  39. ^ Lemne, Bengt (ngày 28 tháng 12 năm 2017). “Life is Strange: Before the Storm - Full Season Review” [Đánh giá phê bình toàn bộ phần trò chơi Life is Strange: Before the Storm]. Gamereactor (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  40. ^ Mejia, Ozzie (ngày 19 tháng 12 năm 2017). “Life is Strange: Before the Storm Review: Is This Real Life” [Đánh giá Life is Strange: Before the Storm: Đây có phải là cuộc sống thực?]. Shacknews (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  41. ^ Bell, Alice (ngày 21 tháng 12 năm 2017). “Life is Strange: Before the Storm review” [Đánh giá Life is Strange: Before the Storm]. VideoGamer.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  42. ^ Strom, Steven (ngày 29 tháng 12 năm 2017). “Life is Strange: Before the Storm review: The path to tragedy” [Đánh giá Life is Strange: Before the Storm: Đường đến bi kịch]. Ars Technica (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  43. ^ Clark, Justin (ngày 1 tháng 9 năm 2017). “Life Is Strange: Before The Storm - Episode 1 - Awake Review” [Đánh giá Life Is Strange: Before the Storm - Tập 1: Awake]. GameSpot (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  44. ^ Hillier, Brenna (ngày 1 tháng 9 năm 2017). “Life is Strange: Before the Storm Ep 1 review – abandon the SS Pricefield, all aboard whatever we're calling the Chloe Rachel ship” [Đánh giá Tập 1 của Life is Strange: Before the Storm – bỏ qua con tàu SS Pricefield đi, hãy cùng ra khơi trên con tàu mà chúng ta gọi là Chloe Rachel]. VG247 (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  45. ^ Farokhmanesh, Megan (ngày 1 tháng 9 năm 2017). “Life is Strange: Before the Storm is fan service at its finest” [Life is Strange: Before the Storm phục vụ fan của nó tốt nhất]. The Verge (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  46. ^ Peeples, Jeremy (ngày 31 tháng 8 năm 2017). “Review: Life is Strange: Before the Storm – Episode 1: Awake” [Đánh giá: Life is Strange: Before the Storm – Tập 1: Awake]. Hardcore Gamer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  47. ^ Loveridge, Sam (ngày 31 tháng 8 năm 2017). “Life is Strange: Before the Storm Episode One review: "It's touching, poignant, and will definitely move you" [Đánh giá phê bình Life is Strange: Before the Storm Tập 1: "Nó cảm động, thấm thía và chắc chắn sẽ khiến tâm hồn bạn lay chuyển"]. GamesRadar (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  48. ^ “Life Is Strange: Before The Storm Episode 1 review – Awake” [Đánh giá Life Is Strange: Before The Storm Tập 1 – Awake]. Metro (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  49. ^ Wallace, Kimberley (ngày 31 tháng 8 năm 2017). “Life Is Strange: Before The Storm – Awake”. Game Informer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  50. ^ a ă “Life Is Strange: Before The Storm Episode 2 review – Brave New World” [Đánh giá Life Is Strange: Before The Storm Tập 2 – Brave New World]. Metro (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  51. ^ a ă Mejia, Ozzie (ngày 20 tháng 10 năm 2017). “Life is Strange: Before the Storm - 'Brave New World' Impressions” [Những ấn tượng về Life is Strange: Before the Storm - 'Brave New World']. Shacknews (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  52. ^ Makedonski, Brett (ngày 19 tháng 10 năm 2017). “Review: Life is Strange: Before the Storm: Brave New World” [Đánh giá Life is Strange: Before the Storm - Brave New World]. Destructoid (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  53. ^ Juba, Joe (ngày 20 tháng 10 năm 2017). “Life Is Strange: Before the Storm – Brave New World”. Game Informer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  54. ^ Wallace, Kimberley (ngày 20 tháng 12 năm 2017). “Life Is Strange: Before the Storm – Hell Is Empty”. Game Informer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  55. ^ “Life Is Strange: Before The Storm Episode 3 review – Hell Is Empty” [Đánh giá Life Is Strange: Before The Storm Tập 3 – Hell Is Empty]. Metro (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  56. ^ Peeples, Jeremy (ngày 20 tháng 12 năm 2017). “Review: Life is Strange: Before the Storm – Episode 3: Hell is Empty” [Đánh giá: Life is Strange: Before the Storm – Tập 3: Hell is Empty]. Hardcore Gamer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  57. ^ Makedonski, Brett (ngày 5 tháng 1 năm 2018). “Review: Life is Strange: Before the Storm: Hell is Empty” [Đánh giá: Life is Strange: Before the Storm: Hell is Empty]. Destructoid (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  58. ^ Staff (ngày 19 tháng 6 năm 2017). “GamesRadar+ E3 awards - our best, most exciting games of E3 2017” [Lễ trao giải GamesRadar+ E3 - những trò chơi xuất sắc, thú vị nhất của chúng ta tại sự kiện E3 2017]. GamesRadar (bằng tiếng Anh). Future plc. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  59. ^ Staff (ngày 21 tháng 6 năm 2017). “Best of E3 2017 – Day Three: Fighter, Adventure, RPG, Shooter, Action” [Best of E3 2017 – Ngày thứ ba: Trò chơi chiến đấu, phiêu lưu, nhập vai, bắn súng, hành động]. Hardcore Gamer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  60. ^ “gamescom 2017 - gamescom award nominees” [gamescom 2017 - danh sách đề cử]. Gamescom (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  61. ^ Staff (ngày 14 tháng 11 năm 2017). “The Game Awards 2017: List of Nominees” [The Game Awards 2017: Danh sách đề cử]. Den of Geek (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  62. ^ Dwan, Hannah (ngày 3 tháng 11 năm 2017). “Golden Joystick Awards 2017 Last chance to vote for your favourite video games of the year” [Cơ hội cuối để bầu chọn cho trò chơi yêu thích của bạn tại giải thưởng Cần điều khiển vàng năm 2017]. The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  63. ^ Favis, Elise (ngày 9 tháng 1 năm 2018). “The 2017 Adventure Game Of The Year Awards” [Lễ trao giải Adventure Game Of The Year 2017]. Game Informer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  64. ^ Cork, Jeff (ngày 4 tháng 1 năm 2018). “Reader's Choice Best Of 2017 Awards” [Giải Reader's Choice Best Of 2017]. Game Informer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  65. ^ Eurogamer staff (ngày 29 tháng 12 năm 2017). “Eurogamer's Top 50 Games of 2017: 20-11” [Top 50 trò chơi 2017 của Eurogamer: 20-11]. Eurogamer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  66. ^ Waters, Michael (ngày 9 tháng 2 năm 2018). “Guild of Music Supervisors Awards: Winners List” [Giải Guild of Music Supervisors: Danh sách người chiến thắng]. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  67. ^ McNeill, Andrew (ngày 31 tháng 1 năm 2018). “Here Are Your 2018 SXSW Gaming Awards Finalists!” [Đây là danh sách cuối cùng cho giải SXSW Gaming 2018!]. SXSW (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  68. ^ “2018 SXSW Gaming Awards Winners Revealed” [Người chiến thắng giải SXSW Gaming 2018 lộ diện]. IGN (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 3 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  69. ^ “2018”. Emotional Games Awards (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  70. ^ deAlessandri, Marie (ngày 15 tháng 3 năm 2018). “Hellblade: Senua's Sacrifice at forefront of BAFTA Games Awards nominations” [Hellblade: Senua's Sacrifice dẫn đầu danh sách đề cử của Giải thưởng Trò chơi điện tử của Viện Hàn lâm Anh quốc]. MCV (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  71. ^ Makedonski, Brett (ngày 12 tháng 4 năm 2018). “BAFTA names What Remains of Edith Finch its best game of 2017” [Viện Hàn lâm Nghệ thuật phim và Truyền hình Anh quốc công bố What Remains of Edith Finch là trò chơi xuất sắc nhất năm 2017]. Destructoid (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  72. ^ “Nominee List for 2017” [Danh sách đề cử năm 2017]. National Academy of Video Game Trade Reviewers (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  73. ^ “Horizon wins 7; Mario GOTY” [Horizon thắng 7 giải; Trò chơi của năm thuộc về Mario]. National Academy of Video Game Trade Reviewers (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 3 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  74. ^ “Italian Video Game Nominees and Winners 2018” [Danh sách đề cử và đoạt giải tại Lễ trao giải Italian Video Game 2018]. Italian Video Game Awards (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 3 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  75. ^ “2018 Winners” [Danh sách người đoạt giải năm 2018]. The Webby Awards (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  76. ^ McAloon, Alissa (ngày 31 tháng 5 năm 2018). “Bury Me, My Love and MyoBeatz among 2018 Games for Change Awards nominees” [Bury Me, My Love và MyoBeatz nằm trong danh sách đề cử cho giải Games for Change 2018]. Gamasutra (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  77. ^ Kerr, Chris (ngày 29 tháng 6 năm 2018). “Life is Strange: Before The Storm wins big at Games for Change Awards” [Life is Strange: Before The Storm thắng lớn tại Lễ trao giải Games for Change]. Gamasutra (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  78. ^ “Nominations Announced for the 2018 Ivor Novello Awards” [Công bố danh sách đề cử cho giải Ivor Novello 2018]. Ivor Novello Awards (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  79. ^ “Winners Announced for the Ivor Novello Awards 2018” [Danh sách chiến thắng tại Lễ trao giải Ivor Novello 2018]. Ivor Novello Awards (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 5 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.

Liên kết ngoàiSửa đổi