Mở trình đơn chính

Long Tinh Kỳ hay Cờ Long Tinh (chữ Hán: 龍星旗) là tên gọi chung cho các lá cờ đã được sử dụng làm quốc kỳ cho xứ Đàng trong của các Chúa Nguyễn (1558-1802) và của nước Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802-1945). Long tinh kỳ đã trải qua một số thay đổi trong một số đời vua. Giai đoạn 1920-1945 hình dạng nó là một lá cờ có một dải màu đỏ nằm giữa hai bên dải màu vàng tượng trưng cho dòng máu Lạc Việt trên đất hoàng triều.[1]

Long Tinh Kỳ

Long Tinh Kỳ (Dragon Star Flag) nhà Nguyễn, 1802-1885.png
Tên龍星旗
Sử dụngQuốc Kỳ Vexillological symbol
Tỉ lệ2:3 hoặc 3:5
Ngày ra đời1558

Tên gọiSửa đổi

Long Tinh Kỳ có nghĩa là Cờ ngôi sao của rồng hay vì tinh tú của rồng. Long có nghĩa là rồng, tinh có nghĩa là vì sao, ngôi sao.

Màu sắcSửa đổi

Long Tinh Kỳ nguyên bản có ba màu chủ đạo. Màu Vàng (#FFD700), màu đỏ (#FF0000) và màu xanh rồng (#1E90FF)

Sau này, các biến thể thay thế chỉ giữ lại hai màu chủ đạo là vàng và đỏ

Nguồn gốcSửa đổi

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, mỗi vị tướng lĩnh hay vua chúa, vương hầu khi chỉ huy một quân đội riêng luôn có một loại kỳ riêng biệt để phân biệt với các vua chúa, vương hầu hay tướng lĩnh khác, và cũng để phân biệt đạo quân này với đạo quân khác. Đặc biệt trong giai đoạn nhà Lê Trung Hưng, khi Đại Việt có nhiều biến cố, với sự nổi lên của rất nhiều tướng lĩnh sở hữu riêng cho mình những đạo quân riêng biệt.

Nguyên bản Long Tinh Kỳ ban đầu vốn là một lá cờ của chúa Nguyễn Hoàng. Cờ có hình dạng chữ nhật, viền ngoài hình vảy rồng, màu xanh, nền giữa màu vàng, trung tâm có một hình tròn màu đỏ.

Long Tinh Kỳ là tên gọi chính thức được sử dụng dưới thời Hoàng đế Gia Long để chỉ lá cờ của Quốc gia (1802 - 1945). Trong suốt quá trình tồn tại của mình, Long Tinh Kỳ đã bị thay đổi rất nhiều về thiết kế của mình.

Lịch sửSửa đổi

Năm 1558, sau khi vào nam trấn thủ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã xưng chúa, đặt hiệu kỳ của mình làm chính kỳ cho xứ Đàng trong. Lá cờ này được các chúa Nguyễn và những hoàng đế đầu triều Nguyễn cho người cắm cờ tại các vùng biên cương để đánh dấu chủ quyền quốc gia như Hoàng Sa, Trường Sa, quần đảo Hải Tặc, đảo Côn Lôn, vùng núi phía Bắc, Ải Nam Quan, trấn Tây Thành, trấn Ninh, trấn Biên.

Trong suốt thời kì Nguyễn Vương (Nguyễn Ánh) đối đầu với nhà Tây Sơn, ông đã sử dụng lá cờ này cho suốt cuộc chiến. Đến năm 1802, khi lên ngôi hoàng đế, thì lá cờ này chính thức có tên là Long Tinh Kỳ.

Lá cờ này đã tồn tại suốt 327 năm, trải qua 9 đời chúa và 9/13 đời vua Nguyễn.

Năm 1885, Thực Dân Pháp đã ép vua Đồng Khánh thay đổi một loại cờ mới thay cho lá cờ cũ. Vì theo người Pháp, lá cờ cũ thể hiện sự chống đối lại người Pháp. Trước đó, khởi nghĩa Trương Định hay phong trào Cần Vương đều sử dụng Long Tinh Kỳ thời Gia Long làm lá cờ khởi nghĩa cho mình. Lá cờ mới có thiết kế hình chữ nhật, nền vàng, trên đó có 2 chữ hán Đại Nam. Do đó lá cờ này còn có tên là Đại Nam kỳ, tồn tại từ 1885 đến 1890.

Sang thời vua Thành Thái, hoàng đế cho ban hành một lá cờ có 3 vạch nằm ngang, 2 vạch trên dưới có màu đỏ, vạch chính giữa là màu vàng, thay thế lá cờ trước đó làm quốc kỳ An Nam. Lá cờ này tồn tại tới năm 1920.Khoảng thập niên 1910 vì trong chuyến tuần di ra Bắc Kỳ năm 1918 đã thấy nhắc tới "cờ An Nam" treo cùng với tam tài của Pháp và "các nước đồng minh" để thần dân nghinh tiếp nhà vua ra thăm quý hương Thanh Hóa rồi ra Hà Nội, Hải Phòng.[2]

Từ 1920 đến 1945, nhà Nguyễn sử dụng một thiết kế khác để thay thế cho thiết kế của vua Thành Thái làm quốc kỳ cho Việt Nam. Theo đó, lá cờ có hình chữ nhật, có 3 vạch nằm ngang. 2 vạch ngoài cùng màu vàng. Vạch chính giữa màu đỏ, có chiều rộng bằng ¼ chiều dài. Năm 1922 thì lá cờ này theo nhà vua trong chuyến sang Pháp cùng những lễ nghi khi triều đình thiết lễ "Tứ tuần khánh thọ" mừng nhà 40 tuổi năm 1925 và được coi như quốc kỳ. Sang triều Bảo Đại lá cờ này vẫn tồn tại cho tới năm 1945 khi Chính phủ Trần Trọng Kim chính thức chọn cờ quẻ Ly làm quốc kỳ của Đế quốc Việt Nam.[3]

Những mẫu long tinh kỳ khácSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Nguyễn Văn Thịnh (27 tháng 5 năm 2016). “Luận về cờ”. Tuần báo Văn Nghệ TP.HCM số 402. Truy cập 29 tháng 5 năm 2017. 
  2. ^ Đặng Như Tùng (dịch giả). Những người bạn Cố đô Huế [Bulletin des amis du Vieux Hué] Tập V 1918. Huế: Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1998. Tr 167
  3. ^ Võ Hương-An. Từ điển nhà Nguyễn. San Jose, CA: Nhà xuất bản Nam Việt, 2012. Tr 515.

Liên kết ngoàiSửa đổi

1802 - 1885 1885 - 1890 1890 - 1920 1920 - 1945 1945