Lwów pogrom (1918)

Lwów pogrom (tiếng Ba Lan: pogrom lwowski, tiếng Đức: Lemberg pogrom) là một pogrom đối với dân Do Thái của thành phố Lwów (từ năm 1945, Lviv, Ukraina) 21–23 tháng 11 năm 1918, trong chiến tranh Ba Lan - Ukraina sau thế chiến I.[1]

Lwów pogrom
The Jewish quarter after the November 1918 Pogrom in Lviv.jpg
Khu phố Do Thái sau pogrom
Địa điểmLwów, Ba Lan
Thời điểm21–23 tháng 11 năm 1918
Tử vong52–150 nạn nhân Do Thái, cho đến tổng số 340 người
Bị thươnghơn 443
Thủ phạmLính và thường dân

Trong ba ngày bạo loạn trong thành phố, ước tính có 52[2]–150[3] người Do Thái bị giết và hàng trăm người bị thương. Thủ phạm bao gồm binh sĩ Ba Lan [4][5][6][7][8] và dân quân Ba Lan,[9] dân thường vô luật pháp của nhiều quốc tịch khác nhau,[5][6] và các tội phạm địa phương.[10] Cũng được báo cáo là thương vong không phải Do Thái, chủ yếu là người Ukraine, có thể còn nhiều hơn số người Do Thái bị giết chết. Tổng số nạn nhân được báo cáo là 340 người.[10][11][12]

Cuộc bạo loạn đã không dừng lại cho đến hai ngày sau khi nó bắt đầu. Hơn một nghìn người, kể cả một số binh sĩ, đã bị bắt giữ bởi chính quyền Ba Lan trong và sau cuộc chiến.[3][13] Một số thông tin Do Thái ban đầu của vụ này đã tuyên bố hàng ngàn người chết và thương vong, là được phóng đại lên rất nhiều.[11][14]

Các sự kiện tại Lwów năm 1918 đã được công bố rộng rãi trên báo chí quốc tế. Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã chỉ định một ủy ban, do Henry Morgenthau, Sr., điều tra, để điều tra các hành động cực đoan chống lại dân Do Thái trong một quốc gia Ba Lan mới được thành lập sau 123 năm bị các đế chế láng giềng chia cắt. Báo cáo Morgenthau đã được xuất bản vào ngày 3 tháng 10 năm 1919.[15]

Bối cảnhSửa đổi

Người Do Thái ở Lwów đã là nạn nhân của một vụ thảm sát của quân đội Nga vào ngày 27 tháng 9 năm 1914, giết chết 30-50 người Do Thái. Vào ngày 1 tháng 11 năm 1918, Hội đồng Quốc gia Ukraina tuyên bố là Cộng hòa Ukraina, với Lviv là thủ đô. Một tuần sau, Hội đồng Nhiếp chính của Vương quốc Ba Lan tuyên bố độc lập của Ba Lan, và ngày 14 tháng 11 năm 1918 thành lập chính phủ Ba Lan. Trận Lwów kéo dài đến ngày 21 tháng 11 năm 1918.[1]

Người Do Thái ở Galicia đã bị bắt trong cuộc xung đột sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Ba Lan-Ukraina và trở thành nạn nhân của một làn sóng pogrom trên khắp khu vực,[16] được thúc đẩy bởi sự vô luật pháp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Vào đầu năm 1918, một làn sóng pogrom đã quét sạch các thị trấn có người ở Ba Lan ở miền tây Galicia, phần lớn là do những binh sĩ quân đội và những người đào ngũ.[3] Trong suốt cuộc xung đột Ba Lan-Ukraina năm 1918–1919, người Do thái đã phục vụ như những vật tế thần cho sự thất vọng của các lực lượng chiến tranh.[17]

Trước khi rút khỏi thành phố, Các lực lượng Áo rút lui đã thả những kẻ tội phạm ra khỏi nhà tù,[18] một số người tình nguyện tham gia dân quân Ba Lan và chiến đấu chống lại người Ukraina. Thành phố cũng đầy quân đào ngũ của quân đội Áo. Chính quyền Ba Lan cũng trang bị một số tình nguyện viên (trong đó có một số tên tội phạm cũ) hứa sẽ chiến đấu chống lại người Ukraina. Trong những ngày đầu tiên của cuộc xung đột Ba Lan-Ukraina, khu phố Ba Lan của Lwów chỉ được bảo vệ bởi một nhóm tình nguyện viên vũ trang kém, chủ yếu là sinh viên và thậm chí là những người trẻ tuổi ở tuổi thiếu niên, được biết đến trong lịch sử Ba Lan như Đại bàng nhỏ Lwów.[19] Tuy nhiên, một nhóm người Ba Lan khá lớn, bao gồm những tên tội phạm nhỏ. Vào ngày 9-10 tháng 11, người Do thái Lwów đã thành lập một dân quân và tuyên bố tính trung lập của họ trong cuộc xung đột Ba Lan-Ukraina trong thành phố. Ngoài một số trường hợp hỗ trợ Do thái cho phía Ukraina bao gồm các báo cáo về dân quân Do Thái giúp đỡ lực lượng Ucraina,[20] người Do Thái của Lwów vẫn chính thức trung lập; các lý do sự hỗ trợ của người Do Thái rải rác cho người Ukraina [21][22] sẽ là một lý do cho các cáo buộc rằng nhiều người Do thái đã áp dụng lập trường chống Ba Lan.[3][23]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă Timothy Snyder (2003). The Reconstruction of Nations. New Haven: Yale University Press. tr. 123–. ISBN 030010586X. 
  2. ^ Cited in: American Jewish Committee. The American Jewish Yearbook 5682. Original from the University of Michigan, Digitized Mar 3, 2005.
  3. ^ a ă â b Hagen, William W (2005). “The Moral Economy of Popular Violence: The Pogrom in Lwow, 1918”. Trong Blobaum, Robert. Antisemitism and its opponents in modern Poland. Cornell University Press. tr. 127–129, 133–137, 143. ISBN 9780801489693. 
  4. ^ Mendelsohn, Ezra (1983). The Jews of East Central Europe Between the World Wars. Indiana University Press. tr. 40. ISBN 9780253204189. 
  5. ^ a ă Michlic, Joanna B. (2006). Poland's Threatening Other: The Image of the Jew from 1880 to the Present. University of Nebraska Press. tr. 111. ISBN 9780803232402. 
  6. ^ a ă Gilman, Sander L.; Shain, Milton (1999). Jewries at the Frontier: Accommodation, Identity, Conflict. University of Illinois Press. tr. 39. ISBN 9780252067921. After the end of the fighting and as a result of the Polish victory, some of the Polish soldiers and the civilian population started a pogrom against the Jewish inhabitants. Polish soldiers maintained that the Jews had sympathized with the Ukrainian position during the conflicts. 
  7. ^ Rozenblit, Marsha L. (2001). Reconstructing a National Identity: The Jews of Habsburg Austria During World War I. Oxford University Press US. ISBN 9780195134650. The largest pogrom occurred in Lemberg. Polish soldiers led an attack on the Jewish quarter of the city on November 21–23, 1918 that claimed 73 Jewish lives 
  8. ^ Gitelman, Zvi Y. (2003). The Emergence of Modern Jewish Politics: Bundism and Zionism in Eastern Europe. University of Pittsburgh Press. ISBN 9780822941880. In November 1918, Polish soldiers who had taken Lwow (Lviv) from the Ukrainians killed more than seventy Jews in a pogrom there, burning synagogues, destroying Jewish property, and leaving hundreds of Jewish families homeless 
  9. ^ Maciej Kozłowski (1999). Zapomniana wojna: walki o Lwów i Galicję Wschodnią: 1918-1919. Instytut Wydawniczy "Świadectwo". tr. 219. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2013. Translation: boundary between the bandits and the "Polish soldiers" was a very blurry back then... to the fight a growing number of men began to enlist. Weapons were given to everyone who came. Polish original: granica miedzy bandytami a „polskim wojskiem" była wówczas bardzo płynna... do walki się zgłaszać większe zastępy ludzi. Broń dawano wszystkim, którzy się zgłaszali. — Kozłowski 
  10. ^ a ă Giuseppe Motta (ngày 11 tháng 6 năm 2018). The Great War against Eastern European Jewry, 1914-1920. Cambridge Scholars Publishing. tr. 81. ISBN 978-1-5275-1221-4. 
  11. ^ a ă Davies, Norman (1993). “Ethnic Diversity in Twentieth Century Poland”. Trong Strauss, Herbert Arthur. Hostages of Modernization: Studies on Modern Antisemitism, 1870-1933/39. Walter de Gruyter. 
  12. ^ (tiếng Anh)Piotrowski, Tadeusz (1997). Poland's Holocaust: Ethnic Strife, Collaboration with Occupying Forces and Genocide... McFarland & Company. tr. 41–42. ISBN 0-7864-0371-3. 
  13. ^ Engel, David (2003). “Lwów, 1918: The Transmutation of a Symbol and its Legacy in the Holocaust”. Trong Zimmerman, Joshua D. Contested Memories: Poles and Jews During the Holocaust and Its Aftermath. Rutgers University Press. tr. 33–34. ISBN 0-8135-3158-6. 
  14. ^ Fink, Carole (2006). Defending the Rights of Others: The Great Powers, the Jews, and International Minority Protection, 1878-1938. Cambridge University Press. tr. 110–111, 117, 129. 
  15. ^ Morgenthau, Henry (1922). “Appendix. Report of the Mission of the United States to Poland”. All in a Life-time. Doubleday, Page & Co. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2008. 
  16. ^ Strauss, Herbert Arthur (1993). Hostages of Modernization: Studies on Modern Antisemitism, 1870–1933/39. Walter de Gruyter. ISBN 9783110137156. In Lwow, a city whose fate was disputed, the Jews tried to maintain their neutrality between Poles and Ukrainians, and in reaction a pogrom was held in the city under auspices of the Polish army 
  17. ^ Ury, Scott (Spring–Summer 2000). “Who, What, When, Where, and Why Is Polish Jewry? Envisioning, Constructing, and Possessing Polish Jewry”. Jewish Social Studies 6 (3): 205–228. doi:10.1353/jss.2000.0015. 
  18. ^ Prusin, Alexander Victor (2005). Nationalizing a Borderland: War, ethnicity and Anti-Jewish violence in east Galicia, 1914–1920. Tuscaloosa: The University of Alabama Press. tr. 80–89. 
  19. ^ “Kresy”. www.kresy.co.uk. 
  20. ^ Kania, Leszek (2008). W cieniu Orląt Lwowskich: Polskie sądy wojskowe, kontrwywiad i służby policyjne w bitwie o Lwów 1918–1919. [Uniwersytet Zielonogórski]. 
  21. ^ Melamed, Vladimir. “Jewish Lviv”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2012. Despite the official neutrality, some Jewish men had been noticed aiding the combat Ukrainian units 
  22. ^ Vital, David (1999). A People Apart: The Jews in Europe, 1789-1939. Oxford University Press. ISBN 9780198208051. 
  23. ^ Melamed, Vladimir (2008). “Jewish Lviv”. The Independent cultural journal "JI" (51). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2012.