Nguyễn Nam Hưng

Nguyễn Nam Hưng (1933–2019), tên thật Nguyễn Văn Trịnh, là một Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Nguyễn Nam Hưng
Tiểu sử
Quốc tịchFlag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh1933
An Phú Tây, Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
Mất2019
Hòa Long, Bà Rịa, Bà Rịa – Vũng Tàu
Binh nghiệp
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ1947-1999
Cấp bậcVietnam People's Army Major General.jpg Thiếu tướng
Đơn vị
Tham chiến
Khen thưởng
  • Huân chương Độc lập hạng Ba,
  • Huân chương Quân công hạng Nhì, Ba,
  • Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba,
  • Huân chương Chiến thắng hạng Ba,
  • Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất,
  • Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất,
  • Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba,
  • Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba,
  • Huy chương Quân kỳ Quyết thắng,
  • Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Kháng chiến chống PhápSửa đổi

Thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng sinh năm 1933 tại ấp Tân Kiều, làng An Phú Tây, tổng Long Hưng Trung, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn, nay là xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Năm 14 tuổi (1946), anh trai của ông, là một người đi theo phong trào cách mạng của Mặt trận Việt Minh, bị Pháp thủ tiêu.[1] Ông từ đó đi theo lực lượng kháng chiến, tham gia Ban tình báo (Trinh sát) Chi đội 25.[2]

Năm 1949, ông được chuyển công tác về Văn phòng Trung đoàn 397 mới thành lập và được kết nạp Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 19 tháng 12 năm 1949.[1] Năm 1950, ông giữ các chức vị tiểu đội trưởng thuộc Trung đội Cảnh vệ, Phòng Tham mưu Tỉnh đội Bà Chợ. Năm 1953, ông làm trợ lý quân lực thuộc Phòng Tham mưu Sư đoàn 330, Khu 9 và cùng đơn vị ra bắc theo hiệp định Geneve.[2]

Chiến tranh Việt NamSửa đổi

Tháng 5 năm 1956, ông được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân (Sơn Tây). Tháng 9 năm 1958, ông là trung đội trưởng kiêm đại đội phó Đại đội 1, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 3, Sư đoàn 330.[2] Năm 1960, ông vào nam, đến chiến khu D (1961), làm trợ lý Phòng tác chiến T1 (Phòng Tham mưu Miền Đông, Quân khu 7).[1]

Ngày 5 tháng 10 năm 1964, ông chính thức được bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 500 T1 (Miền Đông). Đây là tiểu đoàn tập trung đầu tiên của Quân giải phóng miền Nam. Năm 1965, tiểu đoàn này với tên gọi là Tiểu đoàn 800 được huy động tham gia Chiến dịch Bình Giã (Tháng 12, 1965), thành Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 4, Sư đoàn 5 (Quân khu 7).[1] Ngày 2 tháng 9 năm 1965, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 4.[2] Đến thánh 8 năm 1967, ông được bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 4. Năm 1968, ông đã chỉ huy trực tiếp Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 4 tấn công các căn cứ quân sự tại Thủ Đức.[1]

Táng 4 năm 1969, ông được chuyển về làm Trưởng ban Tác chiến thuộc Phòng Tham mưu Quân khu 7, đến tháng 9 là trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Nai (nay là Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Nai).[2] Sau đó ông theo lệnh điều động chuyển sang Campuchia công tác ở sư đoàn 5 vào năm 1970. Rồi làm phó tham mưu trưởng (1971) rồi tham mưu trưởng (1972) Sư đoàn 5. Năm 1975, ông làm Tư lệnh phó Sư đoàn 5 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng thị xã Tân An và tỉnh Long An.[1]

Cuối đờiSửa đổi

Năm 1976, ông giữ chức Trưởng phòng Tác chiến, Bộ Tham mưu Quân khu 7. Từ năm 1978 là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 303, Quân khu 7, tham chiến chống quân đội Khơme Đỏ.[1] Từ năm 1981 ông quay về làm Trưởng phòng Tác chiến Quân khu 7. Năm 1986, ông lại sang Campuchia giữ trong trách Phó tư lệnh Mặt trận 779.[2] Năm 1990, ông là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, từ tháng 11 năm 1991 là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.[2]

Tháng 10 năm 1999, ông được nghỉ hưu.[2] Ngày 14 tháng 8 năm 2019, ông qua đời tại nhà riêng ở Bà Rịa.[3]

Lịch sử thụ phongSửa đổi

  • Thiếu tướng (tháng 6 năm 1988).[2]

Danh hiệu[3]Sửa đổi

  • Huân chương Độc lập hạng Ba.
  • Huân chương Quân công hạng Nhì, Ba.
  • Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba.
  • Huân chương Chiến thắng hạng Ba.
  • Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
  • Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất.
  • Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba.
  • Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
  • Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.
  • Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi