Omer (đơn vị)

Omer (tiếng Hebrew: עֹ֫מֶר'ōmer) là một đơn vị đo lường khô của người Do Thái cổ đại được sử dụng trong thời đại Đền thờ ở Jerusalem. Nó được sử dụng trong Kinh thánh như một đơn vị khối lượng cổ xưa đo ngũ cốc và hàng hóa khô, và Torah đề cập đến tương đương với một phần mười của mộ ephah.[1] Theo Bách khoa toàn thư Do Thái (1906), một ephah được định nghĩa bằng 72 loglog bằng với mina Sumer, bản thân nó được định nghĩa là một phần sáu của một maris;[2] các omer là như vậy tương đương với khoảng 12100 của một maris. Maris được định nghĩa là lượng nước có trọng lượng tương đương với một talent hoàng gia nhẹ,[3] và do đó tương đương với khoảng 30,3   lít,[2] làm cho omer bằng khoảng 3,64 lít. Kinh Thánh học Do Thái (2014), tuy nhiên, đặt omer vào khoảng 2,3 lít.[4]

Trong các tiêu chuẩn đo lường truyền thống của người Do Thái, omer tương đương với sức chứa của 43,2 quả trứng, hay còn gọi là một phần mười của một ephah (ba seah).[5] Trong trọng lượng khô, omer nặng từ 1,560 kg. đến 1.770 kg., là số lượng bột cần thiết để tách từ việc cung cấp bột.[6]

Từ omer đôi khi được dịch là sheaf - cụ thể, một lượng hạt đủ lớn để đạt yêu cầu bó được. Đoạn kinh thánh của manna mô tả Chúa là người hướng dẫn dân Israel thu thập mỗi người một omer trong lều, ngụ ý rằng mỗi người có thể ăn một món khai vị manna mỗi ngày. Trong Chỉ thị của Moses (Torah bằng tiếng Hebrew), ý nghĩa chính của omer là việc chào bán truyền thống một omer của lúa mạch vào ngày sau ngày Sa-bát, hoặc theo góc nhìn của Pharisêu và giáo sĩ Do Thái, vào ngày thứ hai của lễ Vượt Qua trong tiệc bánh không men (trong thời kỳ tế lễ Đền thờ) cũng như truyền thống của Bá tước Omer (sefirat ha'omer) - 49 ngày giữa lễ hiến tế này và hai ổ lúa mì được dâng vào ngày lễ Shavuot.

Người Do Thái ở Lancaster, Pennsylvania đã sử dụng một bảng omer từ khoảng năm 1800 để theo dõi những ngày thu hoạch giữa Lễ Vượt Qua và Lễ Ngũ Tuần. Một ví dụ về một bảng như vậy tồn tại tại Trung tâm Nghiên cứu Do Thái nâng cao Herbert D. Katz tại Đại học Pennsylvania.[7]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Exodus 16:36
  2. ^ a ă "Weights and Measures", Jewish Encyclopedia (1906)
  3. ^ there were two types of talent - royal and common, and each type came in a light form and a heavy form, with the heavy form being exactly twice the weight of the light form
  4. ^ Adele Berlin; Marc Zvi Brettler (17 tháng 10 năm 2014). The Jewish Study Bible: Second Edition. Oxford University Press. tr. 381. ISBN 978-0-19-939387-9.
  5. ^ Based on the Aramaic Targum of pseudo-Jonathan ben Uzziel on Exodus 16:36 who says: "an omer is one-tenth of three seahs." In Hebrew measures, 1 seah is equal to the capacity of 144 eggs. Three seahs are the equivalent of 432 eggs; one-tenth of this is 43.2 eggs (The Mishnah, ed. Herbert Danby, Oxford University Press: Oxford 1977, Appendix II, p. 798)
  6. ^ Maimonides brings down its approximate weight in Egyptian dirhams, writing in Mishnah Eduyot 1:2: "...And I found the rate of the dough-portion in that measurement to be approximately five-hundred and twenty dirhams of wheat flour, while all these dirhams are the Egyptian [dirham]." This view is repeated by Maran's Shulhan Arukh (Hil. Hallah, Yoreh Deah § 324:3) in the name of the Tur. In Maimonides' commentary of the Mishnah (Eduyot 1:2, note 18), Rabbi Yosef Qafih explains that the weight of each Egyptian dirham was approximately 3.333 grammes, which total weight of flour requiring the separation of the dough-portion comes to appx. 1 kilo and 733 grammes. Rabbi Ovadiah Yosef, in his Sefer Halikhot ʿOlam (vol. 1, pp. 288-291), makes use of a different standard for the Egyptian dirham, saying that it weighed appx. 3.0 grammes, meaning the minimum requirement for separating the priest's portion is 1 kilo and 560 grammes. Others (e.g. Rabbi Avraham Chaim Naeh) say the Egyptian dirham weighed appx. 3.205 grammes, which total weight for the requirement of separating the dough-portion comes to 1 kilo and 666 grammes. Rabbi Shelomo Qorah (Chief Rabbi of Bnei Barak) brings down the traditional weight used in Yemen for each dirham, saying that it weighed 3.36 grammes, making the total weight for the required separation of the dough-portion to be 1 kilo and 770.72 grammes.
  7. ^ Kiron, Arthur (2000). The Professionalization of Wisdom: The Legacy of Dropsie College and Its Library, in Michael Ryan and Dennis Hyde, eds., The Penn Libraries Collections at 250. Philadelphia: University of Pennsylvania Library. tr. 182.