Phật giáo Hòa Hảo

tông phái Phật giáo


Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm Kỷ Mão 1939[1], lấy pháp môn "Học Phật - Tu Nhân" làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia (Tại gia cư sĩ). Tôn giáo này lấy nền tảng là Đạo Phật, kết hợp với những bài sấm kệ do chính Huỳnh Phú Sổ biên soạn. Hòa Hảo là một phong trào tôn giáo[2] được miêu tả như là một sự pha trộn tín ngưỡng dân gian hay là một nhánh của Phật giáo. Nó là một trong những tôn giáo chính ở Việt Nam với khoảng từ một đến tám triệu tín đồ, hầu hết ở đồng bằng sông Cửu Long.

Biểu tượng Phật giáo Hòa Hảo
Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ

The religious philosophy of Hòa Hảo, which rose from the Miền Tây region of the Mekong Delta, is essentially Buddhist. It reforms[3][4] and revises the older Bửu Sơn Kỳ Hương tradition of the region,[5] and possesses quasi-millenarian elements.[6] Hòa Hảo is an amalgam of Buddhism, ancestor worship, animistic rites, elements of Confucian doctrine, and the White Lotus religion, transformed and adapted to the mores and customs of the peasants of the region. Coming from the remote edges of Southern Vietnam, it opposes urban life and prefers a communitarian lifestyle. Unlike orthodox Buddhism, Hòa Hảo eschews elaborate rituals and temples, maintains no monastic order, and teaches home practice. It also advocates that each devotee can have direct communion with the Buddha, and that inner faith is more important than external rites. Regular Hòa Hảo rites are limited to four prayers a day, while the devotees are to maintain the Three Fundamental Bonds and Five Constant Virtues.

The influence of colonial overlords, the growing intensity of war from the late 1930s to the mid-1970s, and the attendant ideological conflicts all shaped the inception and later development of Hòa Hảo.[7] It was, along with Hồ Chí Minh's Việt Minh and another religious movement known as Cao Đài, one of the first groups to engage in military conflict with colonial powers, first the French and then the Japanese. Hòa Hảo flourished under the Japanese occupation of World War II, with its adherents largely being peasants, tenants, and agricultural workers. It transformed into a militant and nationalist religion, and rapidly developed into a private army that operated mainly for the benefit of its leaders, while setting up its own virtually autonomous government in the region. The Hòa Hảo remained an autonomous force in Vietnamese politics after the war, opposing both French colonialists and the Việt Minh movement.[2][8][9]

During the First Indochina War, disagreements with other major factions made the Hòa Hảo an aggressive religio-political-military cult. Sổ was kidnapped and executed by the Việt Minh while coming back from an unsuccessful conference to resolve issues with the Communists. Many Hoahaoists hailed him as a Messianic figure who would arrive in a time of crisis.[10] Sổ's death led to factionalism, parochialism, and outside organizational influence.[11] The Hòa Hảo led a war against the Communists, being labelled as the "strongest anti-Việt Minh element in the country".[12] Nevertheless, the Hòa Hảo, along with other religio-political organizations, dominated the political and social scene of Southern Vietnam by the 1950s, claiming a stake in the formation of a non-communist South Vietnam.[13] After 1954, the Hòa Hảo initiated armed opposition to President Ngô Đình Diệm's American-backed government. They controlled various southern and western regions of South Vietnam at the time of Diệm's death in 1963.[2] They then led a campaign against Việt Cộng for the defense of their home provinces during the Vietnam War, becoming a major autonomous political force in South Vietnam until the Fall of Saigon in 1975. Disbanded by the new government, the Hòa Hảo were oppressed and struggled for rights following the war. Only in 1999 were they officially recognized by the state, but the government imposes harsh controls on dissenting Hòa Hảo groups that do not follow the state-sanctioned branch.

The Hòa Hảo sought to preserve their religious identity and independence.[14] They made temporary alliances with past enemies. Originally concerned only with religious autonomy, the Hòa Hảo struggled against the French, the Japanese, the Việt Minh, again the French, the newly independent South Vietnam, the Việt Cộng, and the North Vietnamese Army. They enjoyed political influence during post-Diệm regimes of Saigon.

Lịch sửSửa đổi

Ra đờiSửa đổi

 
Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, xưa thuộc làng Hòa Hảo, nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Phật giáo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do Huỳnh Phú Sổ sáng lập.[cần dẫn nguồn]

Huỳnh Phú Sổ, còn được gọi là "Thầy Tư Hoà Hảo", "Đức Huỳnh Giáo chủ", khi đó chưa đầy 18 tuổi, tuyên bố mình là bậc "Sinh nhi tri", biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và "đưa nhân loại đi vào vòng hạnh phúc". Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc nam do ông kê toa hoặc nước lã, giấy vàng, lá xoài, lá ổi, bông trang, bông thọ, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.[cần dẫn nguồn]

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú Sổ bắt đầu khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: Phật giáo Hòa Hảo. Sau đó, ông được các tín đồ suy tôn làm thầy tổ, và gọi ông bằng cái tên tôn kính là Đức Tôn Sư, Đức Thầy.[cần dẫn nguồn]

Kể từ đó, ông lần lượt làm nhiều bài thơ ca, sau được tập hợp lại thành quyển Sấm giảng thi văn giáo lý, nội dung cốt lõi là giáo lý của Đức Phật Thích Ca, và có phần gần gũi với tư tưởng thần bí và tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ lúc bấy giờ.[cần dẫn nguồn]

Các ngày lễ tếtSửa đổi

Các ngày Lễ kỷ niệm trong Đạo đều tổ chức vào ngày âm lịch. Trong một năm, theo âm lịch đạo Hòa Hảo có các ngày lễ, Tết chính:

  • Ngày 1 tháng Giêng: Tết Nguyên Đán
  • Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ Thượng Nguyên
  • Ngày 25 tháng 2: ngày Đức Huỳnh Giáo chủ vắng mặt
  • Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản
  • Ngày 18 tháng 5: Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo
  • Ngày Rằm tháng 7: Lễ Trung Nguyên, Vu Lan Báo Hiếu
  • Ngày 12 tháng 8: Vía Phật Thầy Tây An
  • Ngày Rằm tháng 10: Lễ Hạ Ngươn
  • Ngày 17 tháng 11: Lễ Phật A-di-đà
  • Ngày 25 tháng 11: Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ.
  • Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo

ẢnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Werner 2006, p. 4.
  2. ^ a b c Britannica Hoa Hao.
  3. ^ Marquis 2000, tr. 88.
  4. ^ Marr 2013, tr. 555.
  5. ^ Tai 2013, tr. 146.
  6. ^ Hunt 1982, tr. 134.
  7. ^ Bourdeaux 2018, tr. 584.
  8. ^ The Concise Oxford Dictionary of World Religions 2019.
  9. ^ Karnow 1997, tr. 135.
  10. ^ Britannica Huynh Phu So.
  11. ^ Marr 1984, tr. 509.
  12. ^ Jacobs 2004, tr. 182.
  13. ^ Nguyen-Marshall 2014, tr. 321.
  14. ^ Haseman 1976, tr. 376.

Tham khảoSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi