Tục ở rể là hệ thống xã hội của một số dân tộc trên thế giới, trong đó cặp vợ chồng hình thành thì cư trú theo hoặc ở gần cha mẹ của người vợ. Do con cái của một người mẹ vẫn sống cùng (hoặc gần) nhà của người mẹ, từ đó có thể hình thành nên những gia tộc lớn, thường bao gồm ba hoặc bốn thế hệ sống cùng một nơi.[1][2]

Tục ở rể có ở hầu hết các dân tộc theo chế độ mẫu hệ. Tuy nhiên vẫn có dân tộc theo mẫu hệ nhưng không ở rể, như người Mosuo ở vùng đông nam dãy Himalaya, Trung Quốc. Họ là dân tộc "mẫu hệ đa phu", trong đó những người đàn ông sống với mẹ đẻ và chỉ có người chồng nào được người vợ yêu cầu thì đến ở một số ngày.

Một số dân tộc phụ hệ hoặc tử hệ có tục ở rể nhưng thường là ở rể có thời hạn, tức là sau một mốc đánh dấu nhất định, như có con hay đủ số năm, thì cặp vợ chồng được sống độc lập và theo về bên người đàn ông.[3][4]

Trong xã hội hiện đại ở nhiều nước các cặp đôi mới có quyền tự lựa chọn nơi ở. Do đó các tục ở rể hay ở dâu không có nhiều ảnh hưởng. Tại Trung Quốc ở rể được chính phủ khuyến khích nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của sự mất cân bằng giới tính.[5]

Thế giớiSửa đổi

Trên thế giới phong tục ở rể có mặt ở nhiều nơi, trước hết là ở các dân tộc theo chế độ mẫu hệ. Tại Đông Nam Á các dân tộc thuộc ngữ hệ Austronesia như người Philippines, Minangkabau, Thổ dân Đài Loan, ... Thuộc các ngữ hệ khác có người KarenMyanmar, người Khasi ở Ấn Độ, người IroquoisBắc Mỹ.

Việt NamSửa đổi

Tại Việt Nam có nhiều dân tộc có phong tục ở rể, có mặt ở cả ba miền.

  1. Các dân tộc theo chế độ mẫu hệ, đàn ông ở rể trọn đời, gồm có nhóm Nam đảoNgười Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai, và Nhóm Môn – KhmerNgười Ba Na, Cơ Ho.
  2. Các dân tộc theo chế độ phụ hệ, đàn ông ở rể có thời hạn, gồm có Nhóm Tày - TháiNgười Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, TàyThái, và Nhóm Môn – KhmerNgười Chơ Ro, Nhóm H'Mông - DaoNgười DaoPà Thẻn. Đàn ông thường ở rể đến khi đôi vợ chồng có con thì về ở bên nhà chồng.

Tục ở rể người Dao quần trắngSửa đổi

Được thực hiện trước từ một đến ba năm khi lễ cưới chính thức được tổ chức và tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện của nhà trai. Nhà trai đưa sang nhà gái một mâm lễ vật gồm:

  • Một đồng bạc trắng hoa xòe
  • Một chiếc vòng tay "lá hẹ" bằng bạc trắng
  • 6 đôi gà
  • Một con lợn dò chừng 30 kg.

Bạc trắng và vòng tay được coi như vật tín trao cho người con gái, còn gà, lợn sẽ được đem ra giết thịt để dâng cúng tổ tiên chính thức công nhận người con trai trở thành con rể và được phép ăn ở, qua lại trong gia đình nhà vợ một cách đàng hoàng.

Đáp lễ và để cầu phúc cho đôi trẻ, bà mẹ người con gái sẽ tặng lại cho con gái và con rể một chiếc địu hoa do chính tay bà mẹ cắt khâu, ngụ ý mong các con sớm có con bồng con bế theo quan niệm "có nuôi có lãi" của đồng bào.

Tục ở rể người Ba NaSửa đổi

Tục ở rể người Kơ HoSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Haviland, William A. (2003). Anthropology (ấn bản 10). Belmont, CA: Wadsworth/Thomson Learning. ISBN 978-0534610203. 
  2. ^ Ramusack, Barbara N.; Sievers, Sharon L. (1999). Women in Asia: restoring women to history. Indiana University Press. ISBN 9780253212672. 
  3. ^ Korotayev, Andrey (2003). “Form of Marriage, Sexual Division of Labor, and Postmarital Residence in Cross-Cultural Perspective: A Reconsideration”. Journal of Anthropological Research 59 (1): 69–89. JSTOR 3631445. doi:10.1086/jar.59.1.3631445. 
  4. ^ Korotayev, Andrey (2003). “Division of Labor by Gender and Postmarital Residence in Cross-Cultural Perspective: A Reconsideration”. Cross-Cultural Research 37 (4): 335–372. doi:10.1177/1069397103253685. 
  5. ^ Wolf, Margery (1985). Revolution Postponed: Women in Contemporary China China. Stanford University Press. tr. 196–198. ISBN 978-0804713481.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)

Liên kết ngoàiSửa đổi