Mở trình đơn chính

Thủ tướng Chính phủ (tiếng Thụy Điển: statsminister, nghĩa là "Bộ trưởng của Nhà nước") là người đứng đầu chính phủ ở Thụy Điển. Trước khi lập chức vụ Thủ tướng vào năm 1876, nhà vua đứng đầu. Louis De Geer Gerhard, kiến trúc sư của cuộc cải cách Nghị viện năm 1876, đã trở thành Thủ tướng đầu tiên của Thụy Điển. Thủ tướng Chính phủ hiện tại của Thụy Điển là Stefan Löfven, lãnh tụ của Đảng Dân chủ Xã hội Thụy Điển[3].

Thủ tướng Thụy Điển
Sveriges statsminister
Lilla riksvapnet - Riksarkivet Sverige.png
Flag of Sweden.svg
Quốc kỳ
Stefan Löfven efter slutdebatten i SVT 2014 (cropped).jpg
Đương nhiệm
Stefan Löfven

từ 3 tháng 10 năm 2014
Chức vụNgài/Bà
được sử dụng cho đến những năm 1970 ở Thụy Điển; nhưng vẫn được sử dụng trong văn bản ngoại giao[1]
Thành viên củaThụy Điển
Hội đồng châu Âu
Báo cáo tớiRiksdag
Đề cử bởiDiễn giả Riksdag
tham khảo ý kiến với các nhà lãnh đạo đảng trong Riksdag
Bổ nhiệm bởiDiễn giả Riksdag
sau một cuộc bỏ phiếu trong Riksdag
Nhiệm kỳKhông giới hạn
phục vụ miễn là đương nhiệm có hỗ trợ đa số trong Riksdag
Tuân theoCông cụ chính phủ năm 1974
Người đầu tiên giữ chứcLouis Gerhard De Geer
Thành lập20 tháng 3 năm 1876
PhóPhó Thủ tướng
Lươnglương: 2.112.000 Krona[2]
(1 tháng 7 năm 2019 – 30 tháng 6 năm 2020)
Dinh thựNhà Sager
Trụ sởRosenbad, Stockholm, Thụy Điển
WebsiteTrang web chính thức của thủ tướng

Lịch sử Sửa đổi

Trước năm 1876, khi Văn phòng của Thủ tướng Chính phủ được lập ra, Thụy Điển không có một ''người đứng đầu chính phủ'' mà người đứng đầu cao nhất là Vua, nắm toàn quyền. Kể từ sau khi vị vua "Hùng sư phương Bắc" Karl XII băng hà, quyền lực nhà vua bị suy yếu đáng kể; và ''Hội đồng Cơ mật Thụy Điển'' (xem danh sách đính kèm) chính là cơ quan nắm quyền cao nhất trong nhà nước vào "Thời đại Tự do" 1718 - 1772.

Trong cuộc cải cách chính phủ năm 1809, hai chức vụ Tổng trưởng Chính phủ về Công lý (Thụy Điển: ''Justitiestatsminister)'' và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao (Thụy Điển: ''Utrikesstatsminister'') đã được tạo ra, nhưng quyền lực không mạnh bằng các Bộ thời sau này. Đến cuộc cải cách năm 1876, hai chức vụ này được nâng lên thành Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao. Không giống như Bộ Tư pháp, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao được quyền giao thiệp với Thủ tướng Chính phủ[4]. Từ năm 1917, quốc vương Thụy Điển đã dùng quyền lập hiến của mình để tự nhà vua trực tiếp bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ và Nghị Viên (Bộ trưởng Nội các) theo ý mình. Thủ tướng được thừa nhận đầy đủ (de facto) các đặc quyền hoàng gia; người dân sẽ gọi Chính phủ với cái tên là ''Kungl.'' ''Thiếu tá: t,'' viết tắt của ''Kunglig Majestät'' (tiếng Anh: Royal Majesty; hiểu là Tể tướng Hoàng gia). Cho đến cải cách 1974 đã tước bỏ quyền thành lập chính phủ của vua mà thay vào đó, Nghị viện là cơ quan duy nhất lập chính phủ mới và không cần thông qua nhà vua[5]

Nhiệm vụ Sửa đổi

Bất cứ khi Thủ tướng từ chức (chết, bị buộc từ chức), Nghị viện sẽ cử Phó Thủ tướng lên thành lập chính phủ lâm thời cho đến khi Nghị viện có Thủ tướng mới. Các thành viên của Nghị viện sẽ tận dụng thời gian gấp rút ấy để tham vấn ý kiến các lãnh đạo của các chính đảng để bầu ra Thủ tướng mới cho Nghị viện xem xét. Nếu Thủ tướng mới được bầu (làm lễ nhậm chức tại Cung điện Hoàng gia) và Nghị viện đã chuẩn y, ông có quyền bổ nhiệm các thành viên của nội các mới và thống kê có bao nhiêu Bộ trưởng trong tân chính phủ[6]

Với ngoại lệ của Thủ tướng, Bộ trưởng Nội các (Thụy Điển: ''statsråd'') không cần sự chấp thuận của Nghị viện nhưng có thể bị buộc phải từ chức bởi một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm. Nếu Thủ tướng Chính phủ bị buộc chấp nhận một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm - với tổng phiếu bất tin nhiệm là 175 phiếu hoặc hơn - ông và toàn bộ nội các phải từ chức và quá trình bầu cử Chính phủ mới được diễn ra. 

Về nhiệm vụ, Chính phủ mới sẽ "chịu trách nhiệm trước Nghị viện" (điều 12, chương 1 của Hiến pháp[7]) về việc quản lý các thành viên, các Bộ của mình. Các Bộ trưởng không chịu trách nhiệm trước Bộ mà chỉ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng; thậm chí các Bộ bị "cấm can thiệp" vào các cơ quan khác trong chính phủ và Nghị viện. Chính phủ được thay mặt vua ký kết các văn kiện với đại diện nước ngoài và các tổ chức quốc tế (điều 10, chương 1 của Hiến pháp[8]). Chương 6, Điều 7 quy định rằng chính phủ được quyền ban hành pháp luật và công bố trước toàn dân.[9] 

Tiện nghi Sửa đổi

Văn phòng và nhà ởSửa đổi

Các văn phòng chính phủ, bao gồm cả văn phòng Thủ tướng Chính phủ, tọa lạc tại Rosenbad ở trung tâm Stockholm, trên hồ nước Helgeandsholmen

Năm 1991, tòa nhà Sager (hoặc "Sager Palace" như nó được gọi trước đây) đã được mua lại, và từ năm 1995 nó đã phục vụ như nhà riêng của Thủ tướng Chính phủ. Các Sager House nằm liền kề với Rosenbad và tòa nhà Quốc hội.

Harpsund, một thái ấp trong Flen Municipality, Södermanland County, đã phục vụ như một nơi cư trú trước của Thủ tướng Chính phủ từ năm 1953. Nơi này cũng thường được sử dụng cho các hội nghị chính phủ và hội nghị thượng đỉnh không chính thức giữa chính phủ, ngành công nghiệp và các tổ chức tại Thụy Điển.

Mức lươngSửa đổi

Mức lương của các bộ trưởng nội các, trong đó có Thủ tướng Chính phủ, được quyết định bởi ''Statsrådsarvodesnämnden'' ("Ủy ban Lương Nội Bộ trưởng") của Nghị viện. Từ 01 tháng 7 năm 2014, mức lương hàng tháng Thủ tướng Chính phủ là 156.000 SEK (€ 17,034 / $ 23,304 / £ 13,594) hoặc 1.872.000 SEK (€ 204.411 / 279.653 $ / £ 163.123) mỗi năm.[10]

Danh sách chủ tịch Hội đồng Cơ mật Thụy ĐiểnSửa đổi

  1. Conrad von Pyhy: 1538 - 1543
  2. Nils Gyllenstierna: 1560 - 1593
  3. Erik Larsson Sparre: 1593 - 1600
  4. Svante Turesson Bielke: 1602 - 1609
  5. Axel Oxenstierna: 1612 - 1654
  6. Erik Oxenstierna: 1654 - 1656
  7. Magnus Gabriel De la Gardie: 1660 - 1672
  8. Bengt Gabrielsson Oxenstierna: 1680 - 1702
  9. Nils Gyldenstolpe: 1702 - 1709
  10. Arvid Horn: 1710 - 1719
  11. Gustaf Cronhielm: 1719
  12. Johan August Meijerfeldt: 1719 – 1720
  13. Arvid Horn: 1720 – 1738
  14. Gustaf Bonde: 1738 – 1739
  15. Carl Gyllenborg: 1739 – 1746
  16. Carl Gustaf Tessin: 1746 – 1752
  17. Andreas Johan von Höpken: 1752 – 1761
  18. Claes Ekeblad: 1761 – 1765
  19. Carl Gustaf Löwenhielm: 1765 - 1768
  20. Fredrik von Friesendorff: 1768 – 1769
  21. Claes Ekeblad: 1769 – 1771
  22. Ulrik Scheffer: 1771 – 1772
  23. Joachim von Düben: 1772
  24. Ulrik Scheffer: 1772 – 1783
  25. Gustaf Philip Creutz: 1783 – 1785
  26. Malte Ramel: 1785 – 1786
  27. Emanuel de Geer: 1786 – 1787
  28. Johan Gabriel Oxenstierna: 1786 – 1789
  29. Karl Wilhelm von Düben: 1789 – 1790
  30. Evert Wilhelm Taube: 1792
  31. Fredrik Wilhelm von Ehrenheim: 1801 – 1809
  32. Lars von Engeström: 1809
  33. Carl Axel Wachtmeister: 1809 - 1810, Bộ trưởng Bộ Công lý đứng đầu chính phủ sau khi vua Gustav IV bị truất ngôi
  34. Fredrik Gyllenborg: 1810 - 1829
  35. Mathias Rosenblad: 1829 - 1840
  36. Arvid Mauritz Posse: 1840
  37. Carl Petter Törnebladh: 1840 - 1843
  38. Lars Herman Gyllenhaal: 1843 - 1844
  39. Johan Nordenfalk: 1844 - 1846
  40. Arvid Mauritz Posse: 1846 - 1848
  41. Gustaf Sparre: 1848 - 1856
  42. Claës Günther: 1856 - 1858
  43. Louis De Geer: 1858 - 1870
  44. Axel Adlercreutz: 1870 -1874
  45. Edvard Carleson: 1874 - 1875
  46. Louis De Geer: 1875 - 1876

Danh sách Thủ tướng Chính phủ Sửa đổi

Danh sách Thủ tướng Chính phủ theo Liên hiệp Vương quốc Na Uy và Thụy Điển (1876-1905) Sửa đổi

  1. Louis De Geer: 1876-1880
  2. Arvid Posse: 1880-1883
  3. Carl Johan Thyselius: 1883-1884
  4. Robert Themptander: 1884-1888
  5. Gillis Bildt: 1888-1889
  6. Gustaf Åkerhielm: 1889-1891
  7. Erik Gustaf Boström: 1891-1900
  8. Fredrik von Otter: 1900-1902
  9. Erik Gustaf Boström: 1902-1905
  10. Johan Ramstedt: 1905
  11. Christian Lundeberg: 1905

Thủ tướng thuộc Vương quốc Thụy Điển (1905-nay) Sửa đổi

  1. Karl Staaff: 1905-1906
  2. Arvid Lindman: 1906-1911
  3. Karl Staaff: 1911-1914
  4. Hjalmar Hammarskjöld: 1914-1917
  5. Carl Swartz: 1917
  6. Nils Edén: 1917-1920
  7. Hjalmar Branting: 1920
  8. Gerhard Louis De Geer: 1920-1921
  9. Oscar von Sydow: 1921
  10. Hjalmar Branting: 1921-1923
  11. Ernst Trygger: 1923-1924
  12. Hjalmar Branting: 1924-1925
  13. Rickard Sandler: 1925-1926
  14. Carl Gustaf Ekman: 1926-1928
  15. Arvid Lindman: 1928-1930
  16. Carl Gustaf Ekman: 1930-1932
  17. Felix Hamrin: 1932
  18. Per Albin Hansson: 1932-1936
  19. Axel Pehrsson-Bramstorp: 1936
  20. Per Albin Hansson: 1936-1946
  21. Tage Erlander: 1946-1969
  22. Olof Palme: 1969-1976
  23. Thorbjörn Fälldin: 1976-1978
  24. Ola Ullsten: 1979-1979
  25. Thorbjörn Fälldin: 1979-1982
  26. Olof Palme: 1982-1986
  27. Ingvar Carlsson: 1986-1991
  28. Carl Bildt: 1991-1994
  29. Ingvar Carlsson: 1994-1996
  30. Göran Persson: 1996-2006
  31. Fredrik Reinfeldt: 2006-2014
  32. Stefan Löfven: 2014 - nay

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ UN Protocol and Liaison Service Lưu trữ 16 tháng 11 năm 2012 tại WebCite
  2. ^ “Statsrådsarvoden och ersättningar” (bằng tiếng Thụy Điển). Chính phủ Thụy Điển. 1 tháng 7 năm 2019. 
  3. ^ “Swedish parliament confirms Social Democrat's Lofven as new PM”. Reuters UK. Truy cập 14 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ ^ Sveriges statskalender 1915, runeberg.org
  5. ^ ^ "The Head of State". Government of Sweden
  6. ^ ^ "How a Government is formed". Government Offices of Sweden.
  7. ^ "The Instrument of Government (as of 2012)" (PDF)
  8. ^ "The Instrument of Government (as of 2012)" (PDF). The Riksdag
  9. ^ ^ "Lag (1976:633) om kungörande av lagar och andra författningar" (bằng tiếng Thụy Điển)
  10. ^ "Statsrådsarvoden och avgångsersättningar (Swedish). Regeringen.se.