Tuổi Mụ (còn gọi là Tuổi âm hay Tuổi ta) xuất phát từ nền văn hóa Trung Quốc và có ảnh hưởng tới nền văn hóa của một số nước khác như Việt Nam, Nhật, Hàn, Triều Tiên.[1][2]

Dol là cách tổ chức sinh nhật truyền thống của trẻ một tuổi ở Hàn Quốc

Nguồn gốcSửa đổi

Theo quan niệm Phật Giáo ở Phương Đông, khi thai nhi ở trong bụng mẹ đã được coi là một sinh linh và do vậy được tính tuổi từ trong bụng mẹ, chứ không phải như Phương Tây (chỉ tính tuổi từ lúc em bé chào đời). Vì vậy, tuổi Mụ chính là tuổi mẹ (tuổi tính từ trong bụng mẹ) được phát âm trại đi để phân biệt với tuổi của người mẹ.

Tuổi Mụ dùng để làm gì?Sửa đổi

Hiện nay, tuổi Mụ vẫn được áp dụng trong lĩnh vực tín ngưỡng theo văn hóa Phương Đông như tử vi, phong thủy, nhà cửa, hôn nhân,...

Tuổi Mụ không áp dụng cho các lĩnh vực như Pháp luật, hoặc văn hóa Phương Tây ví dụ như Cung Hoàng Đạo....

Tuổi Mụ tại các nước Đông ÁSửa đổi

Nhật BảnSửa đổi

Cách tính tuổi theo tuổi mụ ở Nhật Bản, kazoedoshi (数え年), làm tăng tuổi của một người vào Ngày đầu năm mới, đã bị luật pháp cho là lỗi thời vào năm 1902 khi Nhật Bản chính thức áp dụng quy định tính tuổi hiện đại,[3][4][5] tiếng Nhật là man nenrei (満年齢). Tuy nhiên, cách tính tuổi truyền thống vẫn được sử dụng phổ biến, vì vậy vào năm 1950 một đạo luật khác đã ra đời nhằm khuyến khích mọi người sử dụng hệ thống tính tuổi hiện đại.[6][7][8]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Shi Liwei (30 tháng 4 năm 2009). “Why Chinese People Have a Nominal Age”. ChinaCulture.org. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  2. ^ “98, 90 or 93? Expert sheds light on tycoon's age”. The Star. 25 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2009.
  3. ^ レファレンス事例詳細: 相-090002, Collaborative Reference Database. (Accessed 2009-11-11.) "なお、年齢が数えか満年齢かについては、現行法規である「年齢計算ニ関スル法律」が明治35年12月2日法律第50号として存在するが、その前に「明治六年第三十六号布告」で満年齢について規定された。 (translation: Regarding whether one counts age by kazoedoshi or the modern age system (満年齢), there exists the current "Legal age calculation" law in the form of Meiji 35 (1902), December 2, Act no. 50, but prior to that the use of the modern age system was set forth in the "Meiji 13 Proclamation No. 6".)"
  4. ^ “年齢計算ニ関スル法律 Act on Calculation of Ages (bằng tiếng Nhật). Ministry of Internal Affairs and Communications Japan. 1902. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  5. ^ “Act on Calculation of Ages”. Ministry of Justice, Japan. 1902.
  6. ^ Hirofumi Hirano, July Heisei 40, 年齢の計算に関する質問主意書 (Memorandum on questions about the calculation of age) Lưu trữ 2009-06-28 tại Wayback Machine, Japan House of Representatives. (Retrieved 2009-11-11) "わが国では、「年齢のとなえ方に関する法律」に基づき、昭和二十五年以降数え年による年齢計算を止め、満年齢によって年齢を計算している。 (translation: In Japan, the age laws which were originally based on the calculation by East Asian age reckoning (数え年) were replaced in Showa 25 with the modern age system (満年齢) of age calculation.)"
  7. ^ “年齢のとなえ方に関する法律Act on Designation of Ages (bằng tiếng Nhật). Ministry of Internal Affairs and Communications Japan. 1950. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2013.
  8. ^ “Act on Counting of Ages”. Ministry of Justice, Japan. 1949.