Mở trình đơn chính
Truyền đơn của Việt Minh kêu gọi tiêu trừ Việt gian
Áp phích tuyên truyền cho chương trình Chiêu hồi của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa, trong đó dùng cụm từ "Việt gian Cộng sản"

Việt gian là một cụm từ miệt thị dùng để ám chỉ những người Việt Nam bị xem là phản quốc, làm tay sai cho ngoại bang, có những hành động đi ngược lại với quyền lợi dân tộc.

Cụm từ này đã tồn tại từ thời phong kiến, nhưng nó chính thức được Việt Minh sử dụng trong các văn bản pháp luật từ năm 1945 trở về sau để chỉ những người Việt cộng tác với thực dân Pháp.[1] Các chủ trương của Việt Minh gồm có "tổ chức Việt Nam nhân dân cách mạng quân và võ trang dân chúng để thẳng tay trừng trị bọn Việt gian phản quốc" và "tịch thu tài sản của đế quốc Pháp, Nhật và bọn Việt gian phản quốc".[2] Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Việt Minh đã thành lập những "Ban trừ gian" để tiêu diệt những thành phần bị họ xem là cộng tác với ngoại quốc gây phương hại đến độc lập dân tộc.[3] Nhiều người trong số này bị Việt Minh xem là Việt gian, số còn lại bị xem là phản động. Ngày 20/1/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh 133-SL "nhằm mục đích trừng trị các loại Việt gian, phản động và xét xử những âm mưu hành động phản quốc"[4].

Từ "Việt gian" cũng được nhiều nhóm chính trị khác sử dụng để chỉ những cá nhân và tổ chức có quan điểm hay hành động mà họ cho rằng thân với ngoại quốc và phản lại dân tộc. Ví dụ, Hồ Chí Minh sau ký Hiệp định sơ bộ với Pháp đã bị một số người gọi là Việt gian[5] (sau đó Hồ Chí Minh đã giải thích rằng đó chỉ là kế hoãn binh nhằm đuổi quân Trung Quốc về nước, sau đó chính phủ mới tập trung chống Pháp).

Trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và thứ hai (1946-1975), Chính phủ Quốc gia Việt Nam thân Pháp (và kế tục của nó là Việt Nam Cộng hòa thân Mỹ) đã gọi Việt Minh và những người chống lại họ là "Việt gian Cộng sản", bất kể đó có phải là người cộng sản hay không.[6] Ngược lại, Việt Minh tố cáo Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa mới thực sự là Việt gian, bởi họ đã theo lệnh Pháp-Mỹ bắn vào đồng bào, đàn áp phong trào đấu tranh giành độc lập của dân tộc.

Nhiều nhân vật lịch sử cũng bị nền sử học hiện nay cho là Việt gian như Trần Ích Tắc[7], Trần Kiện,[8] Nguyễn Phúc Ánh[9] Hoàng Cao Khải[10].

Chú thích

  1. ^ Paul Schuster Taylor (1981). Labor on the land: collected writings 1930-1970. Arno Press. tr. tr. 313. 
  2. ^ “Văn kiện các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khoá I: Chương trình Việt Minh”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2010. 
  3. ^ David W. P. Elliott (2007). The Vietnamese war: revolution and social change in the Mekong Delta, 1930-1975. East Gate. tr. tr. 52. 
  4. ^ Sắc lệnh số 133-SL ngày 20 tháng 1 năm 1953
  5. ^ William J. Duiker (2000). Ho Chi Minh: A Life. Hyperion. tr. 364. 
  6. ^ William S. Turley (2009). The second Indochina War: a concise political and military history. Rowman & Littlefield. tr. xiv. 
  7. ^ Viện lịch sử quân sự Việt Nam (2004). Danh nhân quân sự Việt Nam, tập 1. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. tr. tr. 299. 
  8. ^ Ải Chi Lăng
  9. ^ Lý Khôi Việt (1988). Hai ngàn năm Việt Nam & Phật giáo. Phật học Việt Quốc tế. tr. tr. 183. 
  10. ^ Nguyễn Xuân Cần (2002). Địa chí Bắc Giang từ điển. Sở văn hóa thông tin Bá̆c Giang. tr. tr. 222. 

Xem thêm