Vladislav Mikhailovich Artemiev (tiếng Nga: Владисла́в Миха́йлович Арте́мьев; sinh ngày 5 tháng 3 năm 1998) là một đại kiện tướng cờ vua người Nga và là một thần đồng cờ vua. Anh đạt được danh hiệu đại kiện tướng năm 2014. Artemiev là đương kim vô địch châu Âu. Anh từng tham dự các Cúp cờ vua thế giới năm 20152017.

Vladislav Artemiev
Vladislav Artemiev.jpg
Artemiev năm 2016
Tên khai sinhVladislav Mikhailovich Artemiev
Quốc giaNga
Sinh5 tháng 3, 1998 (22 tuổi)
Omsk, Nga
Danh hiệuĐại kiện tướng (2014)
Hệ số Elo2716 (tháng 6 2020)
Elo cao nhất2754 (April 2019)

Sự nghiệp cờ vuaSửa đổi

Artemiev giành huy chương đồng tại hạng tuổi U14 ở Giải vô địch cờ vua trẻ châu Âu năm 2011[1]. Cậu hai lần vô địch Giải cờ vua Các ngôi sao trẻ thế giới - Tưởng niệm Vanya Somov[2], một giải đấu vòng tròn dành cho các kỳ thủ trẻ ở Kirishi, năm 2012[3] và 2013.[4][5] Năm 2013, cậu cũng vô địch Giải cờ vua thanh niên Nga.[6]

Artemiev khoác áo đội tuyển Nga dự Olympiad cờ vua trẻ dưới 16 tuổi các năm 2012 và 2013. Tại giải đấu năm 2012, cậu giúp đội nhà vô địch và giành huy chương bạc cá nhân bàn ba. In the following year, he won the team silver[5] and the individual gold for the best performance on board one (2580).[7]

In 2014 he won the Andranik Margaryan Memorial in Armenia[8] and the Moscow Open F Group (Student Grandmaster Cup), a category 12 round-robin tournament, with a score of 8/9 points (+7–0=2) for a Bản mẫu:Chessgloss of 2869.[9][10]

In March 2015, Artemiev won the 9th Georgy Agzamov Memorial in Tashkent on tiebreak over Vladislav Tkachiev.[11] In July 2015, he won the Russian Championship Higher League and as a result qualified for the Russian Championship Superfinal.[12] In this latter event he scored 5½/11 points.[13]

In 2016, Artemiev shared first place with Vidit Santosh Gujrathi, finishing second on tiebreak, in the Lake Sevan tournament in Martuni, Armenia,[14] and finished runner-up in the World Junior Chess Championship.[15] In October 2016, he won the Russian Blitz Chess Championship with a score of 18/22, 2.5 points ahead of his closest followers, Dmitry AndreikinAlexander Morozevich.[16][17] One year later, Artemiev won the Russian Blitz Championship again with 15 12/20 points.[18] In December 2017, he won the gold medal in the men's blitz chess event of the IMSA Elite Mind Games in Huai'an, China.[19]

In February 2018, he participated in the Aeroflot Open. He finished sixth out of ninety-two,[20] scoring 6/9 (+4–1=4), thus becoming a 2700+ rated player for the first time in his career.[21] In December, he won the European Blitz Championship in Skopje with a score of 18½/22 points, one-and-a-half points ahead of runner-up Ivan Cheparinov.[22]

Artemiev vô địch Gibraltar Masters tháng 1 năm 2019, độc chiếm ngôi đầu với 8½/10 (+7–0=3)[23]. Anh khoác áo tuyển Nga dự 2019 World Team Chess Championship vào tháng ba, ghi điểm 6½/8 (+5–0=3) và giành huy chương vàng.

Ván đấu tiêu biểuSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “European Youth Chess Championship Albena 2011 - Boys Under 14 (Giải cờ vua trẻ châu Âu 2011 - hạng tuổi nam không quá 14)”. Chess-Results. 19 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2019. 
  2. ^ “10th World’s Youth Stars Tournament (Giải đấu các ngôi sao trẻ thế giới lần thứ 10)”. Chessdom. 10 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2019.  (tiếng Anh)
  3. ^ Crowther, Mark (28 tháng 5 năm 2012). “TWIC 916: X World Youth Stars 2012”. The Week in Chess. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2015. 
  4. ^ Somov Memorial-2013 Chess-Results
  5. ^ a ă Satrapa, James (2 tháng 2 năm 2013). “Profile of a prodigy: Vladislav Artemiev”. ChessBase. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2014. 
  6. ^ “Artemiev and Kashlinskaya are 2013 Russian Junior champions”. Chessdom. 25 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015. 
  7. ^ “WORLD YOUTH UNDER-16 CHESS OLYMPIAD 2013”. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp). World Youth Under-16 Chess Olympiad 2013.
  8. ^ “Vladislav Artemiev wins Andranik Margaryan Memorial”. Chessdom. 17 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2014. 
  9. ^ Popova, Galina (12 tháng 2 năm 2014). “Moscow Open 2014 attracts over 1700 competitors”. ChessBase. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2014. 
  10. ^ Moscow-Open 2014 F Chess-Results
  11. ^ “Vladislav Artemiev winner of Agzamov Memorial”. Chessdom. 20 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2015. 
  12. ^ McGourty, Colin (7 tháng 7 năm 2015). “Artemiev earns showdown with Russia’s best”. chess24. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015. 
  13. ^ “Tomashevsky and Goryachkina Become Champions”. Russian Chess Federation. 20 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015. 
  14. ^ Crowther, Mark (27 tháng 7 năm 2016). “Lake Sevan 2016”. The Week in Chess. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2016. 
  15. ^ “Jeffery Xiong and Dinara Saduakassova are 2016 World Junior Champions”. Chessdom. 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2016. 
  16. ^ “Artemiev wins Russian Blitz Championship by 2.5 points in very strong field”. Susan Polgar Global Chess Daily News and Information. 6 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2016. 
  17. ^ Crowther, Mark (6 tháng 10 năm 2016). “Russian Rapid and Blitz Championship 2016”. The Week in Chess. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2016. 
  18. ^ “Anastasia Bodnaruk Becomes Russian Women’s Blitz Champion”. Russian Chess Federation. 2 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2017. 
  19. ^ Crowther, Mark (15 tháng 12 năm 2017). “IMSA Elite Mind Games 2017”. The Week in Chess. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2018. 
  20. ^ "Aeroflot Open 2018 A". chess-results.com.
  21. ^ "Aeroflot Open 2018 A: Artemiev Vladislav". chess-results.com.
  22. ^ "Vladislav Artemiev is 2018 European Blitz Champion". ChessBase
  23. ^ Artemiev Wins Clear 1st At Gibraltar Chess Festival Chess.com
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “tn” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Liên kết ngoàiSửa đổi