Yếu tố nguy cơ

Trong dịch tễ học, yếu tố nguy cơ (risk factor) là yếu tố sinh học, hoá học hoặc vật lý tác dụng tiêu cực lên sức khỏe con người, là một loại "biến số" liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh hoặc nhiễm trùng.[1] :38 Yếu tố quyết định rủi ro (determinant), cụ thể đối với chính sách y tế cộng đồng, là sự rủi ro sức khỏe chung, trừu tượng, liên quan đến sự bất bình đẳng và yếu tố này khiến một cá nhân rất khó kiểm soát.[2][3][4] Ví dụ, thiếu vitamin C trong chế độ ăn uống là một yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh scurvy. Theo quy định của chính sách y tế, đói nghèo là một yếu tố quyết định tiêu chuẩn sức khỏe của một cá nhân. Có sự khác biệt rõ ràng trong y học lâm sàngy tế công cộng.

Sự tương quan và quan hệ nhân quảSửa đổi

Khi được thực hiện một cách chu đáo và dựa trên nghiên cứu, việc xác định các yếu tố nguy cơ là một chiến lược để sàng lọc y tế.[5]

Mô tảSửa đổi

Ví dụ dưới đây là các yếu tố nguy cơ của ung thư vú:

  • Tỷ số nguy cơ, chẳng hạn như "Một phụ nữ ở độ tuổi 60 có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn 100 lần so với độ tuổi 20".[6]
  • Tỷ lệ mới mắc xảy ra trong nhóm tiếp xúc với yếu tố nguy cơ, chẳng hạn như "99% trường hợp ung thư vú được chẩn đoán ở phụ nữ."[7]
  • Tăng tỷ lệ mắc mới ở nhóm tiếp xúc, chẳng hạn như "uống đồ uống có cồn hàng ngày làm tăng tỷ lệ mắc ung thư vú lên 11 trường hợp trên 1000 phụ nữ."[8]
  • Hazard ratio (HR), chẳng hạn như "ung thư vú toàn thể và ung thư xâm lấn ở phụ nữ ngẫu nhiên tiêm estrogen và progestin trong trung bình 5 năm có sự gia tăng với hazard ratio là 1,24 so với đối chứng."[9]

Ví dụSửa đổi

Ví dụ sau đây về một yếu tố rủi ro được mô tả dưới dạng tỷ số nguy cơ mà nó mang lại, được đánh giá bằng cách so sánh tỷ số nguy cơ của những người tiếp xúc với yếu tố rủi ro tiềm ẩn với những người không bị phơi nhiễm. Giả sử trong một đám cưới, 74 người ăn thịt gà và 22 người trong số họ bị đau bụng, trong khi trong số 35 người ăn cá hoặc ăn chay chỉ có 2 người đau bụng. Có phải ăn thịt gà khiến mọi người bị đau bụng?

 [10]

Vậy nguy cơ của người ăn gà = 22/74 = 0,297, nguy cơ của những người không ăn thịt gà = 2/35 = 0,057.

Những người ăn thịt gà có nguy cơ đau bụng cao gấp 5 lần so với những người không ăn, tức là tỷ số nguy cơ nhiều hơn 5 lần. Điều này cho thấy rằng ăn thịt gà là nguyên nhân gây ra bệnh tật, nhưng điều này không được chứng minh.

Các yếu tố nguy cơSửa đổi

  • Tuổi (0 đến 1,5 tuổi đối với trẻ sơ sinh, 1,5 đến 6 tuổi đối với trẻ nhỏ, v.v.)
  • Giới tính hoặc giới tính (Nam hoặc nữ)[11] :20
  • Dân tộc (Dựa trên chủng tộc)[11] :21

Các yếu tố gây nhiễu có thể xảy ra:

Lịch sửSửa đổi

Thuật ngữ "yếu tố nguy cơ" do Giám đốc Nghiên cứu Tim Framingham, Tiến sĩ William B. Kannel đề xuất trong một bài báo năm 1961 trên tạp chí Annals of Internal Medicine.[13]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a b Parritz, Robin Hornik (ngày 24 tháng 5 năm 2017). Disorders of childhood: development and psychopathology. Troy, Michael F. (Michael Francis) . Boston, MA. ISBN 9781337098113. OCLC 960031712. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “:0” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ Improving Health in the Community: A Role for Performance Monitoring: 2. Understanding Health and Its Determinants: A Model of the Determinants of Health. National Academy of Sciences: National Academies Press: Institute of Medicine (US) Committee on Using Performance Monitoring to Improve Community Health. 1997. ISBN 978-0309055345. Unlike a biomedical model that views health as the absence of disease, this dynamic framework includes functional capacity and well-being as health outcomes of interest. It also presents the behavioral and biologic responses of individuals as factors that influence health but are themselves influenced by social, physical, and genetic factors that are beyond the control of the individual.
  3. ^ “Health Impact Assessment (HIA): Glossary of terms used”. World Health Organization. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
  4. ^ “Health Impact Assessment (HIA): The determinants of health”. World Health Organization. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
  5. ^ Wald, N. J.; Hackshaw, A. K.; Frost, C. D. (1999). “When can a risk factor be used as a worthwhile screening test?”. BMJ. 319 (7224): 1562–1565. doi:10.1136/bmj.319.7224.1562. ISSN 0959-8138. PMC 1117271. PMID 10591726.
  6. ^ Margolese RG, Fisher B, Hortobagyi GN, Bloomer WD (2000). “Neoplasms of the Breast”. Trong Bast RC, Kufe DW, Pollock RE, và đồng nghiệp (biên tập). Cancer Medicine (ấn bản 5). Hamilton, Ontario: B. C. Decker. §Risk Factors. ISBN 1-55009-113-1. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2011.
  7. ^ Giordano SH, Cohen DS, Buzdar AU, Perkins G, Hortobagyi GN (tháng 7 năm 2004). “Breast carcinoma in men: a population-based study”. Cancer. 101 (1): 51–7. doi:10.1002/cncr.20312. PMID 15221988.
  8. ^ Allen NE, Beral V, Casabonne D, và đồng nghiệp (tháng 3 năm 2009). “Moderate alcohol intake and cancer incidence in women”. Journal of the National Cancer Institute. 101 (5): 296–305. doi:10.1093/jnci/djn514. PMID 19244173.
  9. ^ Heiss, G.; Wallace, R.; Anderson, G. L.; Aragaki, A.; Beresford, S. A. A.; Brzyski, R.; Chlebowski, R. T.; Gass, M.; Lacroix, A. (2008). “Health Risks and Benefits 3 Years After Stopping Randomized Treatment with Estrogen and Progestin” (PDF). JAMA: The Journal of the American Medical Association. 299 (9): 1036–45. doi:10.1001/jama.299.9.1036. PMID 18319414.
  10. ^ Tenny, Steven; Hoffman, Mary R. (2020), “Relative Risk”, StatPearls, StatPearls Publishing, PMID 28613574, truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2020
  11. ^ a b Mash, Eric J. (2019). Abnormal child psychology. Wolfe, David A. (David Allen), 1951- . Boston, MA. ISBN 9781337624268. OCLC 1022139949.
  12. ^ Pega, Frank; Nafradi, Balint; Momen, Natalie; Ujita, Yuka; Streicher, Kai; Prüss-Üstün, Annette; Technical Advisory Group (2021). “Global, regional, and national burdens of ischemic heart disease and stroke attributable to exposure to long working hours for 194 countries, 2000–2016: A systematic analysis from the WHO/ILO Joint Estimates of the Work-related Burden of Disease and Injury”. Environment International. doi:10.1016/j.envint.2021.106595. PMID 34011457.
  13. ^ Husten, Larry (ngày 23 tháng 8 năm 2011). “William Kannel, Former Director of the Framingham Heart Study, Dead at 87”. Forbes.